1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm điều trị sốc nhiễm trùng tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/01/2014 đến 30/04/2016

6 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 301,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sốc nhiễm trùng ở trẻ em có tỉ lệ tử vong cao. Phát hiện sốc sớm và điều trị sớm kịp thời có vai trò giảm tỉ lệ tử vong. Nghiên cứu nhằm khảo sát đặc điểm điều trị sốc nhiễm trùng tại Bệnh viện nhi đồng 2.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU TRỊ SỐC NHIỄM TRÙNG TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 TỪ 01/01/2014 ĐẾN 30/04/2016

Bùi Văn Đỡ*, Đoàn Thị Ngọc Diệp*, Nguyễn Thụy Ý Nhi*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề- Mục tiêu: Sốc nhiễm trùng ở trẻ em có tỉ lệ tử vong cao Phát hiện sốc sớm và điều trị

sớm kịp thời có vai trò giảm tỉ lệ tử vong Nghiên cứu nhằm khảo sát đặc điểm điều trị sốc nhiễm trùng tại Bệnh viện nhi đồng 2

Phương pháp: nghiên cứu mô tả hồi cứu 63 bệnh nhi sốc nhiễm trùng từ 1 tháng đến 15 tuổi điều trị tại

Bệnh viện Nhi đồng 2 từ 01/01/ 2014 đến 30/04/2016

Kết quả: Đa số sốc nhiễm trùng gặp ở trẻ dưới 5 tuổi (80,9%) với tỉ lệ nam/ nữ = 0,7/1 Khoảng 50% trẻ

được chuyển đến từ tuyến trước 42,9% trẻ có bệnh nền Phần lớn bệnh nhi vào sốc trong tình trạng nặng với 66,7% rối loạn tri giác, 92,1% có mạch nhẹ đến không bắt được, 95,2% có huyết áp thấp hay không đo được, 81%

có thở nhanh và đặc biệt 17,5% có ngưng thở, 46% có lactate máu tăng ≥ 4mmol/l Về điều trị 90,5% trẻ được đặt nội khí quản giúp thở, 100% được điều trị ban đầu bằng dung dịch điện giải, thời gian cho dịch 20ml/kg liều đầu

≤15 phút không cao (38,1%), hơn phân nửa có tổng lượng dịch trung bình giờ đầu ≥40 ml/kg (57%), phần lớn được cho kháng sinh trong giờ đầu (88,9%) và cho vận mạch sau truyền dịch 20-40ml/kg (84,1%) Tỉ lệ tử vong ở trẻ em cao (57,1%)

Kết luận: Bệnh nhi vào sốc trong tình trạng nặng Tỷ lệ tử vong còn cao Điều trị sốc nhiễm trùng có những

điểm không thích hợp đó là sử dụng dịch truyền chống sốc, vận mạch, sử dụng kháng sinh Sử dụng đúng phác

đồ điều trị là cần thiết để giúp cải thiện tử vong trong sốc nhiễm trùng trẻ em

Từ khóa: sốc nhiễm trùng, điều trị

ABSTRACT

CHARACTERISTICS OF TREATMENT OF PEDIATRIC SEPTIC SHOCK

IN CHILDREN’ S HOSPITAL 2 01/01/2014 – 30/04/2016

Bui Van Do, Doan Thi Ngoc Diep, Nguyen Thuy Y Nhi

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 21 - No 3 - 2017: 131 - 136

Background- Objectives: Pediatric septic shock has high mortality The early recognition and initial

management of septic shock in children has important role in reducing mortality Our study is to research therapeutic characteristics of pediatric septic shock in Children’s Hospital 2 from 1/1/2014 to 30/4/2016

Methods: Retrospective cases- series study of 63 children had septic shock with age of 1 month – 15 years old

treated in Children’ Hospital 2 from 01/01/2014 to 30/04/2016

Results: Most of septic shock patient were under 5 years old (80.9%) The male/ female ratio was 0.7/1

Approximately a half of cases were transferred from other hospitals Comorbidities were high (42.9%) A large number of children had severe condition with mental disorder (66.7%), decreased or impalpable pulse (92.1%), low or immeasurable blood pressure (95.2%), tachypnea (81%) or apnea (17.5%), increased blood lactate (46) when he or she had shocked In initial therapy, most of patient were intubated (90.5%) Crystalloid solutions were choice in all patients Rate of initial infusion 20ml/kg for 15 minutes or less was not high (38.1%) More than a

Trang 2

half patient were infused ≥40ml/kg/ first hour The mortality rate of septic shock in children was high (57.1%) Most of patients were received antibiotic in an hour after initial resuscitation (88.9%) and vasoactive agents after fluid replacement 20- 40ml/kg (84.1%)

Conclusion: The pediatric septic shock was recognized with severe condition and had high mortality rate

Initial treatment of pediatric septic shock was unsuitable problems such as fluid resuscitation, antibiotics, vasoactive agents Application of septic shock protocol is necessary to reduce mortality rate

Key words: septic shock, treatment

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sốc nhiễm trùng là hội chứng nhiễm trùng

huyết nặng có rối loạn chức năng tuần hoàn Tỉ

lệ tử vong của sốc nhiễm trùng (SNT) còn cao

Tại Hoa kỳ, năm 2003, tỉ lệ tử vong do nhiễm

trùng huyết là 4-10% và 13-34% ở sốc nhiễm

trùng(4) Nghiên cứu trong nước cho thấy tỉ lệ tử

vong trẻ sốc nhiễm trùng còn cao từ 40,5% đến

86,5%(9,12) Năm 2000-2003 tại Bệnh viện Nhi

đồng 2 tỉ lệ tử vong là 86,5%(12) Năm 2003 -2005

tại Bệnh viện Nhi đồng 1 tỉ lệ tử vong là 49%(1),

năm 2008 - 2011 là 40,5%(9) Tại Bệnh viện Nhi

Trung ương năm 2005 - 2007 là 65,7%(11)

Điều trị đúng và kịp thời là yếu tố quan

trọng trong việc cứu sống bệnh nhân Trên thực

tế lâm sàng, điều trị theo kinh nghiệm vẫn còn

xãy ra, do đó tuân thủ đúng phác đồ nhất là tuân

thủ về dịch truyền, vận mạch, kháng sinh là điều

hết sức quan trọng góp phần thành công cho

điều trị Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu

này nhằm khảo sát đặc điểm điều trị của sốc

nhiễm trùng ở trẻ điều trị tại Bệnh viện Nhi

đồng 2 từ 01/01/2016 đến 30/4/2016 từ đó rút ra

những kinh nghiệm để cải thiện tỷ lệ tử vong sốc

nhiễm trùng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu hang loạt ca hồi cứu

Đối tượng nghiên cứu

Dân số nghiên cứu

Bệnh nhân từ 1 tháng tuổi đến 15 tuổi điều

trị tại bệnh viện nhi đồng 2 được chẩn đoán sốc

nhiễm trùng

Dân số mẫu

Tất cả bệnh nhân từ 1 tháng tuổi đến 15 tuổi điều trị tại bệnh viện nhi đồng 2 được chẩn đoán sốc nhiễm trùng từ 01/01/2014 đến 30/6/2016

Tiêu chí chọn mẫu

Tất cả bệnh nhân điều trị tại BVNĐ 2 trong thời gian từ 01/01/2014 đến 30/6/2016 được chẩn đoán sốc nhiễm trùng thỏa cả 3 tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn rối loạn chức năng tuần hoàn tuần hoàn:

Giảm huyết áp sau một giờ truyền dung dịch đẳng trương nhưng vẫn giảm huyết áp, hoặc Cần dùng thuốc vận mạch để duy trì huyết

áp trong giới hạn bình thường với liều dopamin

>5µg/kg/phút hay dobutamin, epinephrin và norepinephrin ở bất cứ liều nào, hoặc

Có 2 trong các tiêu chuẩn sau:

Toan chuyển hóa: BE < - 5 mEq/l

Tăng lactate máu động mạch > 4,4 mmol/lít Thể tích nước tiểu < 0,5 ml/kg/giờ

Thời gian đổ đầy mao mạch > 5 giây

Nhiệt độ ngoại biên thấp hơn nhiệt độ trung tâm > 30C

Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (Systemic Inflammatory Response Syndrome-SIRS): có ít nhất 2 trong các biểu hiện sau, trong đó phải có tiêu chuẩn về thân nhiệt hay bạch cầu máu: Nhiệt độ > 38,5 0C hay < 36 0C

Nhịp tim nhanh so với tuổi hoặc nhịp tim chậm ở trẻ nhũ nhi

Nhịp thở nhanh so với tuổi hay thông khí cơ học do bệnh lý cấp và không do bệnh lý thần kinh cơ hay gây mê

Trang 3

Bạch cầu tăng hay giảm theo tuổi hay bạch

cầu non > 10%

Bằng chứng nhiễm trùng: Nhiễm trùng nghi

ngờ hay đã rõ (qua cấy dương tính, nhuộm

gram) do bất kỳ tác nhân nào hay có hội chứng

lâm sàng có nhiều khã năng do nhiễm trùng

Bằng chứng của nhiễm trùng được phát hiện

qua khám lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh hay xét

nghiệm (hiện diện bạch cầu ở dịch bình thường

vô trùng, thủng tạng rỗng, viêm phổi, tử ban)

Tiêu chí loại trừ

Trẻ ≤28 ngày tuổi

Trẻ có bệnh tim bẩm sinh hoặc mắc phải

Hồ sơ không đạt 80% các biến thu thập

Cỡ mẫu

Lấy trọn

Phương pháp thu thập số liệu

Công cụ nghiên cứu

Bảng thu thập số liệu in sẵn

Hồ sơ bệnh án

Kỹ thuật thu thập số liệu

Xem hồ sơ bệnh nhi thỏa tiêu chí chọn mẫu

và tiêu chí loại trừ

Điền thông tin trong bệnh án vào phiếu thu

thập in sẵn

Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm stata 13

Thống kê mô tả

Biến định lượng: trình bày dưới dạng trung

bình ± độ lệch chuẩn

Biến định tính: trình bày dưới dạng tần suất,

tỉ lệ phần trăm

Phân tích đơn biến

Dung phép kiểm Chi bình phương để so

sánh 2 tỉ lệ

Với p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ Đặc điểm dân số nghiên cứu

Trong thời gian nghiên cứu từ 1/1/2014 đến 30/4/2016, chúng tôi chọn được 63 trẻ thỏa tiêu chuẩn sốc nhiễm trùng tại Bệnh viện Nhi đồng 2

để đưa vào nghiên cứu

Bảng 1 Đặc điểm dịch tể của dân số nghiên cứu

(n=63)

Tuổi

1 tháng- <12tháng 28 44,4

12 tháng – 60 tháng 23 36,5

Hình thức nhập viện

Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi, trẻ nam chiếm tỉ lệ 41,3% Trẻ cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỉ lệ 23,8% Trẻ được chuyển đến từ tuyến trước 49,2% Đa số trẻ dưới 60 tháng chiếm tỉ lệ 80,9% Trẻ có bệnh nền 42,9%

Bảng 2 Đặc điểm lâm sàng dân số nghiên cứu

Tính chất mạch Không bắt được 11 17,5

Thời gian phục hồi

Nhận xét: 65,1% có tình trạng sốc tại thời điểm nhập viện Ở thời điểm vô sốc, có 66,7%

Trang 4

trẻ có tình trạng rối loạn tri giác, 73% trẻ có

mạch nhanh theo tuổi và 3,2% trẻ có mạch

chậm, 17,5% trẻ có mạch không bắt được,

33,3% trẻ có huyết áp không đo được, 47,6%

trẻ có thời gian phục hồi màu sắc da kéo dài từ

trên 3 giây, 82,5% trẻ có sốt,17,5% trẻ có ngưng

thở, 66,7% trẻ có kiểu thở bất thường như thở

co lõm ngực, thở hước, thở không đều…,49,2%

trẻ có SpO2 giảm dưới 92%

Bảng 3 Đặc điểm điều trị

số

Tỉ lệ

%

Hỗ trợ hô

hấp

Truyền dịch

chống sốc

Loại dịch khởi đầu điện giải 63 100

Dịch cao phân tử

trong quá trình

chống sốc

Lượng dịch truyền khởi đầu 20

Tốc độ truyền

dịch ban đầu (với

thể tích 20ml/kg)

10 - 15 phút 24 38,1 20-30 phút 17 27

Tổng dịch trong

giờ đầu (39,8

±19,4 ml/kg)

<40ml/kg 27 43

Vận mạch

Loại vận mạch

Dopamin 45 71,4 Dobutamin 8 12,7 Adrenalin 48 76,2 Noradrenalin 37 58,7 Thời điểm cho

vận mạch

<20 ml/kg 6 9,5 20-40ml/kg 53 84,1

>40ml/kg 4 6,4 Kháng sinh Sử dụng kháng sinh trong giờ đầu 57 88,9

Nhận xét: 100% các trường hợp được hỗ trợ

hô hấp 100% các trương hợp chống sốc bằng

dung dịch diện giải Lượng dịch khởi đầu với 20

ml/kg được sử dụng chiếm tỉ lệ 96,8% truyền

liều dịch đầu tiên 20ml/kg ≤ 15 phút 38,1%, tổng

lượng dịch truyền trong giờ đầu tiên 39,4 ±19,4

ml/kg, 57% truyền ≥ 40 ml/kg/h, 76,2% sử dụng

adrenalin, 71,4% sử dụng dopamine, 58,7% sử

dụng noradrenalin 84,1% sử dụng vận mạch sau

khi truyền 20- 40 ml/kg dịch, 88,9% sử dụng

kháng sinh trong giờ đầu, 20.6% các trường hợp

sử dụng corticoide

Bảng 4 Kết quả điều trị

Kết quả điều trị Số ca (Tỉ lệ %)

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nữ có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn nam, với tỉ lệ là 58,7% Gần 50% các trẻ được chuyển viện đến từ các bệnh viện khác, trẻ < 5 tuổi chiếm tỉ lệ 81%, trong đó, trẻ dưới 1 tuổi chiếm ưu thế với tỉ lệ 44,4% Các trẻ mắc các bệnh lý kèm theo trước khi được chẩn đoán sốc nhiễm trùng chiếm tỉ lệ khá cao là 42,9% Sốc ngay tại thời điểm nhập viện chiếm tỉ

lệ 65,1% Triệu chứng lâm sàng lúc vô sốc nặng: 66,67 % trẻ rối loạn tri giác, 33,3% huyết áp không đo được, 17,5% mạch không bắt được, 47,6% có thời gian làm đầy mao mạch trên 3 giây, 17,5% trẻ có ngưng thở, 66,7% trẻ có kiểu thở bất thường như thở chậm, thở hước, thở co lõm hay thở không đều chiếm tỉ lệ Điều trị của chúng tôi gồm hỗ trợ hô hấp, truyền dịch chống sốc, vận mạch, kháng sinh, corticoide

Hỗ trợ hô hấp

Tất cả các trẻ đều được hỗ trợ hô hấp trong

đó 90,48% trẻ được đặt nội khí quản giúp thở Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự kết quả nghiên cứu Phạm Văn Quang(8) Chỉ định đặt nội khí quản trong trường hợp này không phải vì suy hô hấp mà nhằm gíup ổn định và theo dõi tốt huyết động Tỉ lệ đặt nôi khí quản trong nghiên cứu của chúng tôi cao do ngoài việc

để ổn định huyết động, bệnh nhân chúng tôi được đặt nội khí quản để thông khí do tình trạng bệnh nhân suy hô hấp, rối loạn tri giác Theo hướng dẫn điều trị hiện nay nên xem xét đặt nội khí quản sớm khi huyết động học không ổn định, hoặc tri giác xấu đi sau bù dịch

Hồi sức dịch

Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi đều được cho dịch ban đầu là dung dịch điện giải.Theo nghiên cứu của Phạm Văn Quang(8) tỷ lệ này là 85,1% Kết quả của chúng

Trang 5

tôi cao hơn của Đỗ Thị Mộng Hoàng, theo tác

giả này tỷ lệ sử dụng dung dịch điện giải là

90,6%(3) Mặc dù còn nhiều tranh cải về vai trò

dung dịch keo và điện giải Các tác giả đều

cho thấy tỷ lệ tử vong không khác biệt giữa

dung dịch keo và dung dịch điện giải(10) Theo

phác đồ điều trị khuyến cáo dung dịch điện

giải là lựa chọn đầu tiên

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 91,83%

trường hợp cho liều dịch đầu tiên là 20 ml/kg cao

hơn tỷ lệ của Đỗ Thị Mộng Hoàng (88,2%)(3) Tốc

độ dịch liều đầu 20ml/kg trong thời gian ≤ 15

phút theo nghiên cứu của chúng tôi là 38,1% cao

hơn nghiên cứu Phạm Văn Quang (21,7%)(8) Có

sự khác nhau do thời gian nghiên cứu của chúng

tôi xãy ra sau so với nghiên cứu của Phạm Văn

Quang (2010) Qua đó cho thấy còn nhiều trẻ

được chông sốc với tốc độ chậm Theo Hiệp hội

Tim mạch Hoa kỳ, lượng dịch 20ml/kg được cho

rất nhanh nói chung là trong vòng 5- 20 phút

ngay sau khi có đường truyền tĩnh mạch hay

đường truyền trong xương Nếu có rối loạn chức

năng cơ tim nặng có thể cho 5-10ml/kg trong 5-

10 phút(6) Điều này có thể ở nghiên cứu của

chúng tôi có nhiều trẻ có bệnh lý não hoặc có thể

do bác sĩ còn chống sốc bằng phác đồ cũ cho

dịch 20 ml/kg/60 phút ngay cả trong trường hợp

nặng Việc không đạt được tốc độ dịch chống sốc

ban đầu theo phác đồ điều trị có thể gây ra hậu

quả là bệnh nhân chậm hoặc không ra sốc, dẫn

đến sốc không hồi phục và cuối cùng là tử vong

Theo nghiên cứu của chúng tôi, tổng lượng

dịch trung bình trong giờ đầu là 39,76 ±19,35

ml/kg cao hơn nghiên cứu của Phạm Văn Quang

nghiên cứu tại BVNĐ 1 từ 2002-2008 (28,5 ± 17,2

ml/kg) và Phùng Nguyễn Thế Nguyên tại BVNĐ

1 năm 2008-2011 (33,3±16,7ml/kg) và tương tự

Đỗ Thị Mộng Hoàng (37,1± 17,1 ml/kg)(3,8,9) Tổng

lượng dịch trung bình trong giờ đầu theo nghiên

cứu của chúng tôi cao hơn các tác giả trên có thể

do nghiên cứu của chúng tôi xãy ra sau và các

bác sỹ đã phần nào áp dụng theo phác đồ chống

sốc với tốc độ nhanh Chống sốc chậm (<

40mg/kg/h đầu) liên quan đến tử vong(11)

Sử dụng vận mạch

Theo nghiên cứu của chúng tôi adrenalin được sử dụng nhiều nhất (76,19%), có khác so với nghiên cứu Phạm Văn Quang năm 2002-2008

và Đỗ Thị Mộng Hoàng dopamine là thuốc được

sử dụng nhiều nhất (83%), (92,1%)(3,8) Nghiên cứu của chúng tôi khác với các nghiên cứu của các tác giả khác là tỷ lệ sử dụng adrenalin là cao nhất Sự khác biệt này là do bệnh nhân của chúng tôi khi vào sốc thường nặng và là sốc lạnh nên các bác sĩ không sử dụng dopamine từ đầu

mà là adrenalin Và sau khi không đáp ứng với dopamin sẽ nhanh chóng được đổi sang adrenalin.Theo SSC 2013 khuyến cáo dụng vận mạch cho trẻ em, thuốc vận mạch sử dụng ban đầu là dopamine, adrenalin, nếu không đáp ứng

có thể phối hợp thêm các thuốc vận mạch khác(2) Theo nghiên cứu của chúng tôi đa số các trẻ (84,1%) được cho vận mạch sau khi truyền khoảng 20- 40 ml/kg Theo khuyến cáo sau khi truyền 20- 40 ml/kg hoặc sau 1-2 liều dịch 20ml/kg bắt đàu cho vận mạch, ngay cả khi thể tích lòng mạch chưa đủ(2) Và thời điểm dùng vận mạch nên bắt đầu sớm trong 60 phút Vẫn còn tỉ lệ nhỏ cho vận mạch sớm (9,5%) và trễ (6,4%)

Sử dụng kháng sinh

Sốc nhiễm trùng là một tình trạng nhiễm trùng nặng nên việc cho kháng sinh để diệt vi trùng là hết sức quan trọng

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 88,9 % tuân thủ cho kháng sinh trong giờ đầu sau sốc thấp hơn kết quả của Đỗ Thị Mộng Hoàng (97,6%) và Nguyễn Minh Tiến (100%)(3,7) Kumar

và cộng sự cho thấy tỷ lệ tử vong giảm khi cho khi cho kháng sinh thích hợp trong vòng 1 giờ sau khi sốc Cứ mỗi giờ cho kháng sinh sớm trong 6 giờ đầu, tỷ lệ tử vong giảm 7,6%(5) Còn 11,1% trong nghiên cứu của chúng tôi không cho kháng sinh trong giờ đầu sâu sốc tuy không quá lớn nhưng điều này cần thay đổi để đem lại hiệu quả tốt nhất cho bệnh nhân

Trang 6

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ tử vong

57,1% cao hơn Phùng Nguyễn Thế Nguyên

(40,5%) thực hiện từ tháng 10/2008 đến tháng 4

/2011(8) và thấp hơn Trần Minh Điển (65,7%) thực

hiện năm 2010 tại BVNTƯ(8,11) Điều này có thể

do nghiên cứu của chúng tôi chỉ loại trừ các trẻ

có bệnh tim bẩm sinh, không loại trừ các trẻ có

các bệnh lý bại não, thần kinh cơ hay các bệnh

mạn tính khác như trong nghiên cứu của Phùng

Nguyễn Thế Nguyên và do thời điểm thực hiện

nghiên cứu của chúng tôi sau hơn các nghiên

cứu khác, khi mà có sự ra đời và ứng dụng rộng

rãi hơn các khuyến cáo hướng dẫn điều trị

chung của SSC, ACCM Điều này cũng phù hợp

với kết quả một số nghiên cứu gần đây của Hoa

Kỳ, các nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ tử vong do

SNT đã giảm đáng kể từ cuối thế kỷ 20 còn

20-30% do SNT được chẩn đoán sớm và điều trị tích

cực theo những khuyến cáo điều trị chung(13)

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 63 trường hợp sốc nhiễm

trùng điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng 2, từ

1/1/2014 đến 30/4/2016, chúng tôi thấy có nhiều

điểm chưa thích hợp trong điều trị sốc nhiễm

trùng đó là sử dụng dịch truyền chống sốc, vận

mạch, sử dụng kháng sinh Tỷ lệ tử vong có

giảm nhưng còn cao 57,1% Việc điều trị đúng và

kịp thời là cần thiết để giúp cải thiện tử vong

trong sốc nhiễm trùng trẻ em

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bùi Quốc Thắng (2006), "Nghiên cứu lâm sàng và một số biến

đổi sinh học trong nhiễm khuẩn huyết trẻ em", Luận án tiến sĩ y

học Đại Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

2 Dellinger RP, Levy MM, Rhodes A, et al (2013), "Surviving Sepsis Campaign: International Guidelines for Management of

Severe Sepsis and Septic Shock".Crtical care medicine pp

580-637

3 Đỗ Thị Mộng Hoàng (2014), "Điều trị ban đầu sốc nhiễm khuẩn trẻ em nhập khoa cấp cứu bệnh viện Nhi đồng 1 năm

2009-2013", Luận văn thạc sĩ y học Đại học Y khoa Phạm Ngọc

Thạch

4 Hollenberg S (2009), "Inotrope and Vasopressor Therapy of

Septic Shock." Crit Care Clin 25, pp 781-802

5 Kumar A Roberts D, Wood KE, et al (2006), "Duration of hypotension before initiation of effective antimicrobial therapy

is the critical determinant of survival in human septic

shock".Crit Care Med pp 34

6 Mark W(2008), "Initial management of shock in children " uptodate 16.2,

7 Nguyễn Minh Tiến, Nguyễn Hữu Nhân, Đinh Tấn Phương và cộng sự, "Đánh giá sự tuân thủ phác đồ ở trẻ em tại khoa hồi

sức tích cực và chống độc Bệnh viện Nhi đồng 1", Kỹ yếu hội

nghị khoa học Hồi sức cấp cứu thường niên 201 pp 50-59

8 Phạm Văn Quang, Bạch Văn Cam (2010), "Điều trị ban đầu sốc nhiễm khuẩn trẻ em tại khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi đồng

1".Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh 1, pp 14

9 Phùng Nguyễn Thế Nguyên (2011), " Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố tiên lượng tử vong trong sốc nhiễm

khuẩn trẻ em".Tạp chí y học thành phố Hồ Chí Minh 15, pp 200-

208

10 Saladino RA (2004), "Management of septic shockin the

Pediatric Emergency Department in 2004".Clin Emerg Med, 5,

pp 20-27

11 Trần Minh Điển, Lê Nam Trà (2006), "Nghiên cứu két quả điều trị và một số yếu tố tiên lượng tử vong trong sốc nhiễm khuẩn

trẻ em" Luận án tiến sĩ y học đại học Y Hà nội

12 Võ Công Đồng, Phùng Nguyễn Thế Nguyên, Nguyễn Thị Hữu (2005), "Đặc điểm sốc nhiêm trùng tại Bệnh viện Nhi đồng 2"

Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh 9, pp 33-37

13 Watson RS et (2003), "The Epidemiology of Severe Sepsis in

Children in the United States".Am J Respir Crit care Med, 167,

pp 695- 701

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 13/02/2017

Ngày đăng: 15/01/2020, 09:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm