Sốt ve mò là bệnh sốt phát ban truyền nhiễm do Orientia Tsutsugamushi gây ra, lây truyền qua vết cắn của ấu trùng mò. Diễn biến của bệnh thay đổi từ những thể nhẹ, có thể tự giới hạn đến những trường hợp nặng, gây tử vong. Bài viết mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, kháng sinh và đáp ứng kháng sinh điều trị của bệnh sốt ve mò ở người lớn.
Trang 1CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ SỐT VE MÒ
Ở BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trần Đăng Khoa*, Lê Bửu Châu*, Nguyễn Anh Tú**
TÓM TẮT
Mở đầu: Sốt ve mò là bệnh sốt phát ban truyền nhiễm do Orientia Tsutsugamushi gây ra, lây truyền qua vết cắn của ấu trùng mò Diễn biến của bệnh thay đổi từ những thể nhẹ, có thể tự giới hạn đến những trường hợp nặng, gây tử vong Những năm gần đây, sốt ve mò ngày càng phổ biến nhưng có rất ít nghiên cứu về bệnh này ở Việt Nam trong thế kỉ XXI
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, kháng sinh và đáp ứng kháng sinh điều trị của bệnh sốt ve mò ở người lớn
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt trường hợp bệnh nhân người lớn sốt kéo dài và có lâm sàng điển hình gồm: sốt, phát ban, vết loét, viêm hạch được chẩn đoán sốt ve mò tại khoa Nhiễm B, Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP.HCM từ năm 2013 đến năm 2014 sẽ được tư vấn tham gia vào nghiên cứu Sau khi bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được hỏi bệnh sử, khám lâm sàng và thu tập các thông tin về tình hình tiếp xúc với ổ bệnh, xét nghiệm, biến chứng, kháng sinh điều trị và đánh giá đáp ứng điều trị
Kết quả: Trong thời gian nghiên cứu, có 76 trường hợpsốt ve mò được chẩn đoán và đồng ý tham gia nghiên cứu, tuổi trung bình là 40,7 ±5 tuổi; 48 (63,2%) trường hợp là nam giới, làm nông chiếm gần 50% dân Hơn 2/3 số bệnh nhân đến nhập viện sau thời gian sốt 7-14 ngày, nhức đầu và đau nhức mình chiếm hơn 90% Viêm phổi là biến chứng thường gặp nhất với gần 50% số ca bệnh Vết loét được ghi nhận dưới rốn chiếm 60,5% với kích thước chủ yếu từ 0,5x1 cho đến 1x1 cm; 97,4% số ca chỉ có 1 vết loét Bạch cầu máu trong giới hạn bình thường chiếm hơn 50%; tiểu cầu thấp chỉ chiếm 22,4%; đa phần có tăng men gan AST và ALT nhẹ Trung bình của CRP và procalcitonin ở mức cao, gan lách to chiếm 23,2% Hơn 50% được điều trị với Azithromycin đơn độc, Thời gian cắt sốt trung bình khi dùng kháng sinh Azithromycin hoặc Doxycycline đơn độc khoảng 48 giờ, so sánh giữa dùng Azithromycin đơn độc và Doxycycline đơn độc không khác nhau có ý nghĩa về thời gian cắt sốt trung bình (p>0,05)
Kết luận: Sốt ve mò là bệnh nhiễm trùng khá phổ biển trong những năm gần đây, việc chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào dịch tễ, lâm sàng với vết loét điển hình, còn cận lâm sàng chẩn đoán xác định chưa được quan tâm nhiều Nghề nghiệp làm nông, nam giới chiếm đa số và đa phần bệnh nhân được điều trị muộn Viêm phổi là biến chứng thường gặp nhất và chủ yếu là viêm phổi mô kẻ Thời gian cắt sốt trung bình khi sử dụng kháng sinh Azithromycin hoặc Doxycyline đơn độckhác biệt không ý nghĩa, thời gian này khoảng 48 giờ
Từ khóa: Sốt ve mò, Orientia Tsutsugamushi, Azithromycin, Doxycycline
ABSTRACT
DIAGNOSIS AND TREATMENT OF SCRUB TYPHUS ATHOSPITAL FOR TROPICAL DISEASES
IN HO CHI MINH CITY
Tran Dang Khoa, Lê Buu Chau, Nguyen Anh Tu
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - No 1 – 2016: 354 - 358
Background: Scrub typhusisan infectious disease caused by Orientia Tsutsugamushi, transmitted through the bite of chigger Evolution of the disease can vary from mild, self-limited to severe cases, the patient die In
Trang 2recent years, scrub typhus increasingly popular but no more researches on this disease in Vietnam
Objective: Describe the characterization epidemiological, clinical, laboratory, antibiotic and the responseof antibiotic of scrub typhus in adults
Methods: Prospective, descriptive study examining adult- hospitalized- patients, who were diagnosised scrub typhuswithfever, rash, ulcer, inflammation of lymph nodes and were treated at Ward B in Hospital for Tropical diseases from 2013 to 2014
Results: A total of 76scrub typhus cases were enrolled Mean age was 40.7 ± 5 years and male predominated (63.2%), over 50% of patients are farmers More than 2/3 of patients hospitalized after 7-14 days duration of fever, headache and aches for more than 90% Pneumonia is the most common complication, with nearly 50% of case The ulcer was recorded below the navel occupies 60.5% primarily sizes from 0,5x1cm to1x1 cm 97.4% of cases have only one ulcer Leukemia count in blood is normal over 50%; low platelets accounted for only 22.4%; the mean of AST and ALT are high Mean of CRP and procalcitoninare high and hepatomegaly and splenomegaly are 23.2% Over 50% of cases were treated with Azithromycin alone, the mean of time afebrilebetween treated with Azithromycin or Doxycycline alone have no significant difference (p>0.05)
Conclusion: Scrub typus is an infection disease fairly common in recent years, the diagnosis is mainly based
on epidemiological, clinical with typical ulcers, while determined diagnosis don’t receive much attention Farming, men make have high ratioand most of patients were treated late Pneumonia is the most common complication and mostly interstitial pneumonia The mean of time afebrilebetween treated with Azithromycin or Doxycycline alone have no significant difference, this time is about 48 hours
Keywords: Scrub typhus, Orientia Tsutsugamushi, Azithromycin, Doxycycline
MỞ ĐẦU
Sốt ve mò là bệnh sốt phát ban truyền nhiễm
do Orientia Tsutsugamushi gây ra, lây truyền qua
vết cắn của ấu trùng mò Bệnh có đặc điểm lâm
sàng là sốt kéo dài, có vết loét do côn trùng đốt,
phát ban dạng sẩn và viêm hạch(5) Việt Nam
nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa
nóng ẩm, phần lớn cư dân sống bằng nghề nông,
là điều kiện thuận lợi cho bệnh sốt ve mò phát
triển Diễn biến của bệnh thay đổi từ những thể
nhẹ, có thể tự giới hạn đến những trường hợp
nặng, gây tử vong Tuy nhiên các ca sốt ve mò
thường đến điều trị muộn do chủ quan, ngoài ra
việc người dân và nhân viên y tế chưa nhận thức
được hết mối nguy hiểm của bệnh vì thế công
tác phát hiện sớm ca bệnh còn hạn chế Do đó
nghiên cứu này được thực hiện nhằm mô tả đặc
điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kháng sinh điều trị
và đáp ứng kháng sinh của bệnh sốt ve mò tại
BV Bệnh Nhiệt Đới TP Hồ Chí Minh (BV BNĐ
TP.HCM) hiện nay
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hàng loạt trường hợp
Dân số mẫu
Bệnh nhân sốt ve mò nhập viện điều trị tại
BV BNĐ TP.HCM từ năm 2013 đến năm 2014
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Bệnh nhân được chẩn đoán sốt ve mò dựa vào đặc điểm lâm sàng và dịch tễ, nhập viện điều trị tại BV BNĐ TP.HCM từ năm 2013 đến năm 2014
Địa điểm thực hiện
Khoa Nhiễm B, BV BNĐ TP.HCM
Phương pháp thực hiện
Bệnh nhân người lớn sốt kéo dài và có lâm sàng điển hình gồm: sốt, phát ban, vết loét, viêm hạch được chẩn đoán sốt ve mò sẽ được tư vấn tham gia vào nghiên cứu Sau khi bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được hỏi bệnh
sử, khám lâm sàng và thu tập các thông tin về
Trang 3tình hình tiếp xúc với ổ bệnh, xét nghiệm biến
chứng, kháng sinh điều trị và đánh giá đáp ứng
điều trị
Phân tích kết quả
Thu thập số liệu bằng mẫu bệnh án soạn sẵn
Phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS
16.0 Biến định tính được trình bày dưới dạng
tần số và tỉ lệ phần trăm Biến định lượng được
trình bày dưới dang giá trị trung bình (TB) và độ
lệch chuẩn (ĐLC) nếu có phân phối chuẩn hoặc
trình bày dưới dạng giá trị trung vị (khoảng
IQR) nếu không phân phối chuẩn Dùng phép
kiểm Chi bình phương và Fisher’s exact để so
sánh tỷ lệ của một biến số định tính trong hai
nhóm khác nhau Dùng phép kiểm t để so sánh
trung bình của một biến số định lượng (phân
phối chuẩn) trong hai nhóm khác nhau Dùng
phép kiểm Mann-Whitney để so sánh trung vị
của một biến số định lượng (không phân phối
chuẩn) trong hai nhóm khác nhau Giá trị p ≤
0,05 được xem như có ý nghĩa thống kê
KẾT QUẢ
Đặc điểm dân số
Trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến hết
năm 2014 có 76 trường hợp được chẩn đoán sốt
ve mò đồng ý tham gia vào nghiên cứu tại Khoa
Nhiễm B, BV BNĐ TP.HCM
Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu được
trình bày theo bảng 1 như sau:
Bảng 1 Đặc điểm chung dân số nghiên cứu (n=76)
Nhóm tuổi
Hoạt động tiếp xúc
Tuổi trung bình: 40,7 ± 5 tuổi, giới nam chiếm
63,2% gần gấp đôi giới nữ, nhóm tuổi thường
gặp nhất là từ 20 đến 60 tuổi chiếm 82,9% Hoạt động tiếp xúc ghi nhận chủ yếu là làm nông với 48,6%; kế đến là đi núi, đi rừng để cắm trại, du lịch hoặc săn bắt chiếm 25% (Bảng 1)
Đặc điểm lâm sàng:
Bảng 2 Đặc điểm lâm sàng (n=76)
Số ngày sốt trước nhập viện
Biến chứng
Bệnh nhân sốt ve mò thường đến bệnh viện sau khi sốt 7-14 ngày (68,4%), biểu hiện nhức đầu và đau nhức mình là 2 triệu chứng thường gặp nhất của bệnh chiếm hơn 90% Tình trạng sốt cao ≥ 40oC khi nhập viện chiếm hơn 50%, với
đa số là sốt cao liên tục Viêm phổi là biến chứng thường gặp nhất với gần 50% số ca bệnh dù biểu hiện hô háp chỉ chiếm 17,1%
Bảng 3 Đặc điểm vết loét (n=76)
Vị trí vết loét
Kích thước vết loét
Gần 2/3 vị trí vết loét được ghi nhận dưới rốn với kích thước chủ yếu từ 0,5x1 cho đến 1x1 cm; và đa số bệnh nhân nghiên cứu chỉ có 1 vết loét (97,4%); 2 vết loét chỉ chiếm 2,6% và không ghi nhận trường hợp có 3 vết loét trở lên
Trang 4Đặc điểm cận lâm sàng lúc được chẩn đoán
sốt ve mò
Bảng 4 Đặc điểm cận lâm sàng lúc chẩn đoán
Bạch cầu máu (/mm3)
Tiểu cầu <100.000 (/mm3) 17 (22,4)
Procalcitonin máu (ng/ml)
(n=8)
2,28 ± 2,8
Siêu âm bụng
Bạch cầu máu trong giới hạn bình thường
chiếm hơn 50%; tiểu cầu thấp chỉ chiếm 22,4%;
đa phần có tăng men gan AST và ALT nhẹ
Trung bình của CRP và procalcitonin ở mức cao,
viêm phổi mô kẻ chiếm 26%; gan lách to chỉ
chiếm 23,2%
Đặc điểm kháng sinh điều trị và thời gian
cắt sốt:
Bảng 5 Đặc điểm kháng sinh điều trị và thời gian cắt
sốt(n=76)
Kháng sinh điều trị
Thời gian cắt sốt (giờ)
Trong 76 ca sốt ve mò tham gia nghiên cứu
có hơn 50% được điều trị với Azithromycin đơn
độc, và 6,6% điều trị với Doxycycline đơn độc,
các kháng sinh khác phối hợp kèm theo là
Ceftriaxone, Imipenem, Levofloxacin khi có biến
chứng đi kèm Thời gian cắt sốt trung bình khi
Doxycycline đơn độc khoảng 48 giờ, còn khi có
biến chứng thì dài hơn, so sánh giữa dùng
Azithromycin đơn độc và Doxycycline đơn độc không khác nhau có ý nghĩa về thời gian cắt sốt trung bình (p>0,05)
BÀN LUẬN
Trong thời gian lấy mẫu từ năm 2013 đến năm 2014 có tất cả 76 trường hợp sốt ve mò được chẩn đoán và điều trị tại khoa Nhiễm B, BV BNĐ TP.HCM thỏa tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu, tuổi trung bình của dân số là 40,7 ± 5, và hơn 80% từ 20 đến 60 tuổi, nam giới chiếm đa số với
tỉ lệ 63,2% Hoạt động tiếp xúc ghi nhận chủ yếu
là làm nông với 48,6%; kế đến là đi núi, đi rừng
để cắm trại, du lịch hoặc săn bắt chiếm 25% (Bảng 1) Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu tại Trung Quốc năm 1995-2006 với nhóm tuổi thường gặp là 20 đến 50 tuổi, nam giới gặp nhiều hơn nữ giới và 85% là nông dân(4) Kết quả trong nghiên cứu này cũng tương đồng với nghiên cứu ở miền nam Ấn Độ cho thấy 60%
số ca sốt ve mò sống ở vùng nông thôn, tuổi mắc trung bình là 37,1 tuổi và nam giới chiếm đa số (74%)(1) Điều này có thể giải thích do độ tuổi
20-60 tuổi là độ tuổi lao động, còn đủ sức khỏe để đi
du lịch, cắm trại nơi dã ngoại, núi cao; và nam giới là lao động chính ở các vùng nông thôn nên
tỉ lệ mắc bệnh ở đối tượng này cũng chiếm đa số Theo bảng 2, 68,4%bệnh nhân sốt ve mò đến bệnh viện sau khi sốt hơn 1 tuần và 18,3% đến điều trị sau khi sốt > 2 tuần, điều này có thể do đối tượng mắc bệnh thường là nông dân, hiểu biết về bệnh ít nên chưa nhận thức được mối nguy hiểm của bệnh sốt ve mò khi điều trị trễ Biểu hiện bệnh giống với mô tả trong y văn trước đây, nhức đầu và đau nhức mình là 2 triệu chứng thường gặp nhất của bệnh chiếm hơn 90%, triệu chứng hạch to chỉ chiếm 30,3%, các triệu chứng khác về phát ban, tiêu hóa và hô hấp chiếm 9,2%, 17,1 và 26%; theo thứ tự(5) Tuy nhiên các triệu chứng này không phải là triệu chứng đặc hiệu nên bệnh rất dễ bỏ sót nếu không ghi nhận dịch tễ liên quan và phát hiện vết loét do
ấu trùng mò cắn Tình trạng sốt cao ≥ 40oC khi nhập viện chiếm hơn 50%, với đa số là sốt cao
Trang 5liên tục Viêm phổi là biến chứng thường gặp
nhất với gần 50% số ca bệnh dù biểu hiện hô hấp
chỉ chiếm 17,1%; và tổn thương chủ yếu là dạng
mô kẻ trên phim X-quang phổi (26%) Các kết
quả này cũng phù hợp với một nghiên cứu ở Đài
Loan với hạch to chiếm 33%, ho 24%, tiêu chảy
18%,viêm phổi 36%(6); hoặc nghiên cứu khác về
lính Mỹ tham chiến tại Việt Nam với nhức đầu
chiếm 100%, phát ban 35%(2,3) Gần 2/3 vị trí vết
loét được ghi nhận dưới rốn với kích thước chủ
yếu từ 0,5x1 cho đến 1x1 cm; và đa số bệnh nhân
nghiên cứu chỉ có 1 vết loét (97,4%); 2 vết loét chỉ
chiếm 2,6% và không ghi nhận trường hợp có 3
vết loét trở lên
Cận lâm sàng của bệnh sốt ve mò đa phần
không đặc hiệu, bạch cầu máu trong giới hạn
bình thường chiếm hơn 50%; tiểu cầu thấp chỉ
chiếm 22,4%; đa phần có tăng men gan AST và
ALT nhẹ Trung bình của CRP và procalcitonin ở
mức cao, gan lách to chỉ chiếm 23,2% Một điều
hạn chế của nghiên cứu này là không làm được
các xét nghiệm để chẩn đoán xác định sốt ve mò,
cũng như xác định chủng Rickettsia lưu hành ở
từng địa phương
Hiện nay, kháng sinh điều trị sốt ve mò đã
thay đổi khi Chloramphenicol không còn được
sử dụng rộng rãi như trước kia, Doxycycline và
Azithromycin là 2 lựa chọn đầu tay để điều trị
sốt ve mò hiện tại(5 Trong 76 ca sốt ve mò tham
gia nghiên cứu có hơn 50% được điều trị với
Azithromycin đơn độc và 6,6% điều trị với
Doxycycline đơn độc, các kháng sinh khác phối
hợp kèm theo là Ceftriaxone, Imipenem,
Levofloxacin khi có biến chứng đi kèm Thời
gian cắt sốt trung bình khi dùng kháng sinh
Azithromycin hoặc Doxycycline đơn độc khoảng
48 giờ, còn khi có biến chứng thì dài hơn, so sánh
Doxycycline đơn độc không khác nhau có ý nghĩa về thời gian cắt sốt trung bình (p>0,05) Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ là nghiên cứu mô
tả hàng loạt ca nên chưa thể đánh giá so sánh hiệu quả điều trị của 2 loại thuốc trên, cần có nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng tiếp theo
KẾT LUẬN
Sốt ve mò là bệnh nhiễm trùng khá phổ biển trong những năm gần đây, việc chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào dịch tễ, lâm sàng với vết loét điển hình, còn cận lâm sàng chẩn đoán xác định chưa được quan tâm nhiều Nghề nghiệp làm nông, nam giới chiếm đa số và đa phần bệnh nhân được điều trị muộn Viêm phổi là biến chứng thường gặp nhất và chủ yếu là viêm phổi
mô kẻ Thời gian cắt sốt trung bình khi sử dụng kháng sinh Azithromycin hoặc Doxycyline đơn độc khác biệt không ý nghĩa, thời gian này khoảng 48 giờ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Althaf A, Sarosh Kumar K, et al (2008), “A study on scrub typhus in terytiary hospital”, KMI issue 4
2 Berman SJ, Kundin WD (1973), "Scrub typhus in South
Vietnam A study of 87 cases".Ann Intern Med, 79 (1), pp
26-30
3 Deller JJJr, Russell PK (1967), "An analysis of fevers of
unknown origin in American soldiers in Vietnam".Ann Intern Med, 66 (6), pp 1129-43
4 Liu YX, Feng D, Suo JJ, Xing YB, Liu G, et al (2009), "Clinical characteristics of the autumn-winter type scrub typhus cases
in south of Shandong province, northern China".BMC Infect Dis, 9, pp 82
5 Nguyễn Trần Chính (2008), "Bệnh sốt ve mò".Bệnh truyền nhiễm, pp 364-371
6 Tsay RW, Chang FY (1998), "Serious complications in scrub
typhus".J Microbiol Immunol Infect, 31 (4), pp 240-4
Ngày nhận bài báo: 27/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 15/02/2016