1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả điều trị thoái hóa khớp gối bằng phương pháp cấy chỉ Catgut kết hợp với bài thuốc độc hoạt tang ký sinh

7 129 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 105,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả điều trị thoái hóa khớp gối bằng phương pháp kết hợp giữa cấy chỉ và bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh; Phương pháp: thử nghiệm lâm sàng mở có so sánh trước sau điều trị và so sánh với nhóm chứng; Kết quả cho thấy sau 30 ngày điều trị, các chỉ tiêu quan sát: Chỉ số VAS, chỉ số Lequesne và tầm vận động khớp gối đều có cải thiện rõ rệt so với trước điều trị và so với nhóm đối chứng và sự thay đổi này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01; Phương pháp kết hợp cấy chỉ với sử dụng bài thuốc độc hoạt tang ký sinh có hiệu quả cao và an toàn trong điều trị thoái hóa khớp gối.

Trang 1

Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Giang Thanh, Khoa Y học cổ truyền, Trường Đại học Y Hà Nội

Email: Giangthanh_dt@yahoo.com Ngày nhận: 25/7/2013

Ngày được chấp thuận: 30/10/2013

HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA KHỚP GỐI BẰNG PHƯƠNG PHÁP CẤY CHỈ CATGUT KẾT HỢP VỚI BÀI THUỐC ĐỘC HOẠT TANG KÝ SINH

Nguyễn Giang Thanh 2

, Lê Thành Xuân 1 , Đỗ Thị Phương 1

1 Khoa Y học cổ truyền, 2 Trường Đại học Y Hà Nội Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả điều trị thoái hóa khớp gối bằng phương pháp kết hợp giữa cấy chỉ và bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh; Phương pháp: thử nghiệm lâm sàng mở có so sánh trước sau điều trị và so sánh với nhóm chứng; Kết quả cho thấy sau 30 ngày điều trị, các chỉ tiêu quan sát:

Chỉ số VAS, chỉ số Lequesne và tầm vận động khớp gối đều có cải thiện rõ rệt so với trước điều trị và so với nhóm đối chứng và sự thay đổi này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01; Phương pháp kết hợp cấy chỉ với sử dụng bài thuốc độc hoạt tang ký sinh có hiệu quả cao và an toàn trong điều trị thoái hóa khớp gối

Từ khóa: thoái hóa khớp gối, cấy chỉ, độc hoạt tang ký sinh

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Thoái hóa khớp gối (THKG) là một bệnh lý mạn tính bao gồm tổn thương sụn khớp là chủ yếu, kèm theo tổn thương xương dưới sụn, dây chằng, các cơ cạnh khớp và màng hoạt dịch Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh vẫn còn chưa rõ ràng, tuy nhiên nhiều giả thuyết cho rằng vấn đề lão hóa do tuổi tác và tình trạng chịu áp lực quá tải kéo dài là những nguyên nhân chính dẫn tới căn bệnh này [1]

Ở Mỹ hàng năm có 21 triệu người mắc bệnh thoái hóa khớp, với 4 triệu người phải nằm viện, khoảng 100.000 bệnh nhân không thể đi lại được do thoái hóa khớp gối nặng Thoái hóa khớp gối là nguyên nhân gây tàn tật cho người cao tuổi đứng thứ hai sau bệnh tim mạch [9] Thoái hóa khớp gối tuy không gây nguy hiểm tới tính mạng của người bệnh, nhưng có ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống cũng như khả năng vận động của bệnh

nhân Tại các nước châu Âu chi phí trực tiếp điều trị thoái hóa khớp gối khoảng 4.000 USD/

bệnh nhân/năm [12] Ở Việt Nam mỗi đợt điều trị nội khoa thoái hóa khớp gối khoảng 2 - 4 triệu Việt Nam đồng, chưa kể các chi phí dịch

vụ khác liên quan [2]

Ở Việt Nam thoái hóa khớp đứng hàng thứ ba (4,66%) trong các bệnh có tổn thương khớp, trong đó thoái hóa khớp gối chiếm 56,5% tổng số các bệnh khớp do thoái hóa cần điều trị nội trú [3] Theo Y học cổ truyền, thoái hóa khớp gối thuộc phạm vi chứng tý

Nguyên nhân do phong hàn thấp xâm phạm cùng với chính khi suy giảm mà gây nên bệnh, việc điều trị thường kết hợp châm cứu với dùng thuốc Y học cổ truyền…

Cấy chỉ là một phương pháp châm đặc biệt, sử dụng chỉ tự tiêu (catgut) lưu vào huyệt, để duy trì kích thích lâu dài, mục đích gây tác dụng giảm đau kéo dài hơn và liên tục hơn [4] Ở nước ta hiện nay cũng như trên thế giới chưa có công trình nào nghiên cứu điều trị thoái hóa khớp gối bằng phương pháp cấy chỉ Catgut, đồng thời với mục đích nâng cao

Trang 2

hiệu quả điều trị, chúng tôi đã tiến hành

nghiên cứu với các mục tiêu sau:

1 Đánh giá hiệu quả điều trị của phương

pháp cấy chỉ Catgut kết hợp với bài thuốc độc

hoạt tang ký sinh

của phương pháp cấy chỉ

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Chất liệu nghiên cứu

Chỉ catgut 4.0 của Đức, kim cấy chỉ 23 mm,

kim tiêm G23 mm, bông cồn sát khuẩn, cồn

Betadine và Bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh

2 Đối tượng

60 bệnh nhân được chẩn đoán thoái hóa

khớp gối điều trị tại Khoa khám bệnh - Bệnh

viện Y học cổ truyền Trung ương; Khoa Đông

y - Bệnh viện Đống Đa Hà Nội, thời gian từ

tháng 2/2012 đến tháng 09/2012

2.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

Nhận mọi bệnh nhân không phân biệt giới

tính, thời gian mắc bệnh, nghề nghiệp tự

nguyện tham gia và thỏa mãn các điều kiện sau:

- Được chẩn đoán thoái hóa khớp gối theo

tiêu chuẩn của Hội Khớp học Mỹ (American

College of Rheumatology - ACR) (1991) [10]

- Bệnh nhân thoái hóa khớp gối thể phong

hàn thấp tý theo y học cổ truyền

Tiêu chuẩn chẩn đoán thoái hóa khớp

gối theo ACR – 1991

1 Đau khớp gối; 2 Mọc gai xương ở rìa

khớp trên Xquang; 3 Dịch khớp là dịch thoái

hóa; 4 Tuổi ≥ 40; 5 Cứng khớp buổi sáng

dưới 30 phút; 6 Lạo xạo ở khớp khi cử động

[10]

Chẩn đoán xác định khi có yếu tố 1, 2 hoặc

1, 3, 5, 6 hoặc 1, 4, 5, 6

2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Loại trừ mọi bệnh nhân: tự dùng thuốc chống viêm, giảm đau khác trong thời gian nghiên cứu; Bệnh nhân đã điều trị thuốc chống viêm không steroid trong vòng 10 ngày hoặc đã tiêm corticoid tại chỗ trong vòng 3 tháng gần đây; Bỏ điều trị giữa chừng ≥ 3 ngày (bỏ uống thuốc); Bệnh nhân có tiền sử dị ứng; Bệnh nhân đang bị xuất huyết tiêu hóa;

Nhiễm khuẩn tại khớp và/hoặc nhiễm khuẩn toàn thân; thoái hóa khớp gối thứ phát; thoái hóa khớp gối có tràn dịch khớp gối; Có kèm theo tổn thương nội tạng hoặc các bệnh mạn tính khác: suy tim, suy thận, viêm gan, xơ gan, tăng huyết áp chưa ổn định, bệnh lý ác tính, rối loạn tâm thần; Phụ nữ có thai; Bệnh nhân không tình nguyện tham gia nghiên cứu

2.3 Phân nhóm nghiên cứu

Các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa chọn sau khi tiến hành hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng, làm xét nghiệm theo một mẫu bệnh án thống nhất, các bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên chia thành hai nhóm:

- Nhóm nghiên cứu (Nhóm NC): gồm 30 bệnh nhân, được điều trị bằng phương pháp cấy chỉ kết hợp với dùng bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh thang (sắc uống)

bệnh nhân, được điều trị đơn thuần bằng bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh thang (sắc uống)

3 Phương pháp

Thử nghiệm lâm sàng mở, có so sánh trước

và sau điều trị và so sánh với nhóm đối chứng

4 Quy trình tiến hành

- Công thức huyệt cấy chỉ gồm: Dương lăng tuyền, túc tam lý, âm lăng tuyền, huyết hải, lương khâu [5]

- Các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu,

có chẩn đoán thoái hóa cả hai bên khớp gối

Trang 3

thì tiến hành cấy chỉ cả hai bên khớp gối theo công thức huyệt ở trên Còn các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu chỉ thoái hóa một bên khớp gối thì tiến hành cấy chỉ một bên khớp gối theo công thức huyệt ở trên

- Thời điểm cấy chỉ: Các bệnh nhân được cấy chỉ vào hai thời điểm: Thời điểm D0 và

D15

- Bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh (Thiên Kim Phương) [5]

Thuốc được sắc bằng máy theo quy trình khép kín tại Khoa Dược bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương và khoa Dược bệnh viện Đống Đa, Hà Nội.Thuốc sắc được đóng dưới dạng túi (200ml/túi), mỗi bệnh nhân uống 2 túi mỗi ngày

5 Thời điểm theo dõi đánh giá điều trị

Các bệnh nhân nghiên cứu được theo dõi

và đánh giá trong vòng một tháng, qua 5 thời điểm: D0 (trước khi điều trị), D7 (sau 7 ngày điều trị), D15 (sau 15 ngày điều trị), D21 (sau 21 ngày điều trị) và D30 (sau 30 ngày điều trị)

6 Các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá

thang điểm VAS

- Đánh giá tổn thương chức năng khớp gối theo thang điểm Lequesne [11]

- Đánh giá tầm vận động khớp gối

- Tác dụng phụ của phương pháp cấy chỉ Catgut

7 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập được xử lý theo phần mềm thống kê Y học SPSS 16.0

8 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được sự đồng ý của bệnh viện

Y học cổ truyền Trung ương, bệnh viện Đống

Đa Hà Nội và khoa Y học cổ truyền trường Đại học Y Hà Nội Được sự tự nguyện hợp tác của đối tượng nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối tham gia chương trình nghiên cứu Nghiên cứu này chỉ nhằm bảo vệ

và nâng cao sức khỏe cho cộng đồng mà không nhằm mục đích nào khác Các thông tin

cá nhân của đối tượng nghiên cứu được đảm bảo giữ bí mật Khách quan trong đánh giá và phân loại, trung thực trong xử lý số liệu

III KẾT QUẢ

1 Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu

Trong 60 bệnh nhân thoái hóa khớp gối nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm đa số (86,67%); độ tuổi trung bình: 60,17 ± 11,33 tuổi; thấp nhất là 34 tuổi, cao nhất là 83 tuổi;

thời gian mắc bệnh trung bình là: 4,10 ± 2,40 năm

2 Kết quả nghiên cứu

2.1 Đánh giá hiệu quả giảm đau sau điều trị theo thang điểm VAS

Điểm VAS trung bình tại mỗi thời điểm đánh giá ở nhóm nghiên cứu giảm nhanh hơn

thống kê với p < 0,01 (biểu đồ 1)

2.2 Đánh giá hiệu quả điều trị theo thang điểm Lequesne

Điểm Lequesne trung bình sau mỗi tuần đánh giá ở hai nhóm đều có xu hướng giảm nhưng ở nhóm nghiên cứu điểm Lequesne trung bình giảm xuống nhanh và rõ rệt hơn nhóm đối chứng với p < 0,01

Trang 4

6,47 ± 1,22

4,37 ± 1,25

3,32 ± 1,19

2,27 ± 1,23

1,13 ± 1,22

5,93 ± 0,79

4,67 ± 0,92

3,93 ± 1,02

0

1

2

3

4

5

6

7

Nhóm NC Nhóm ĐC

Biểu đồ 1 Thay đổi chỉ số VAS trung bình tại các thời điểm

Điểm VAS trung bình tại mỗi thời điểm đánh giá ở nhóm nghiên cứu giảm nhanh hơn nhóm

đối chứng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01)

14,45 ± 2,85

10,47 ± 3,15

8,42 ± 3,62

5,97 ± 3,19

2,58 ± 1,83

11,5 ± 2,74

10,55 ± 2,76

7,19 ± 3,07

0

2

4

6

8

10

12

14

16

Nhóm NC Nhóm ĐC

Biểu đồ 2 Thay đổi chỉ số Lequesne trung bình tại các thời điểm

Điểm Lequesne trung bình sau mỗi tuần đánh giá ở hai nhóm đều có xu hướng giảm nhưng ở

nhóm nghiên cứu điểm Lequesne trung bình giảm xuống nhanh và rõ rệt hơn nhóm đối chứng,

p < 0,01

2.3 Đánh giá hiệu quả điều trị theo tầm vận động khớp

Chỉ

số

Le-que

sne

Thời gian (ngày)

113,33 ± 14,16

123,67 ± 11,37

129,5 ± 11,26

114,83 ± 10,46

119,33 ± 10,65

122,17 ± 10,72126 ± 10,54

128,33 ± 9,77

110

115

120

125

130

135

140

Nhóm NC Nhóm ĐC

Độ

Biểu đồ 3 Mức độ cải thiện tầm vận động khớp gối qua các thời điểm

Tầm vận động khớp gối ở nhóm nghiên cứu tăng nhanh rõ rệt hơn so với nhóm đối chứng, sự

khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,01

2.4 Tác dụng phụ không mong muốn

Trong 1 tháng điều trị, không thấy xuất hiện các dấu hiệu bất thường nào

Trang 5

IV BÀN LUẬN

Trong 60 bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm đa số 86,67%, kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả trong nước và ngoài nước Đa

số bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi

từ 50 tuổi trở lên, tuổi cao là một yếu tố nguy

cơ cao nhất của thoái hóa khớp nói chung và thoái hóa khớp gối nói riêng Các kết quả này, hoàn toàn phù hợp với những nhận định về bệnh thoái hóa khớp gối của các tác giả khác,

đó là: nữ nhiều hơn nam và độ tuổi càng cao thì nguy cơ mắc bệnh cũng như tình trạng bệnh càng nặng [6; 7; 8]

Thoái hóa khớp gối là một bệnh mạn tính, bệnh tiến triển nặng dần lên, lúc đầu bệnh nhân chỉ đau khớp gối khi vận động, đi lai hay mang vác nặng dần dần đau có thể xảy ra

cả khi nghỉ ngơi, đau liên tục và khiến bệnh nhân phải đến viện điều trị Thời điểm trước điều trị sự khác biệt giữa hai nhóm theo thang điểm VAS không có ý nghĩa thống kê với

p > 0,05 Sau mỗi tuần điều trị mức độ đau của mỗi nhóm đều có xu hướng giảm xuống,

nhanh hơn và khác biệt với nhóm đối chứng với p < 0,01 Theo nhận định của chúng tôi, kết quả này có được là do sự kết hợp cùng lúc của châm cứu (điều khí, thông kinh) phối hợp với tác dụng giảm đau của bài thuốc (phát tán phong thấp, thông kinh lạc), đây là thế mạnh của y học cổ truyền trong điều trị các bệnh lý

cơ xương khớp và nhờ đó bệnh nhân đã đỡ đau nhanh và nhiều sau khi được điều trị

Thang điểm Lequesne đánh giá chức năng vận động khớp gối, đây là thang điểm dùng phổ biến trong các nghiên cứu Có 5 mức tổn thương trong thang điểm Lequesne từ mức độ

trầm trọng, rất nặng, nặng, trung bình đến nhẹ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tại thời điểm trước nghiên cứu các bệnh nhân ở hai nhóm chủ yếu tổn thương chức năng khớp gối ở mức độ trầm trọng (điểm Lequesne > 14 điểm)

Tại từng thời điểm đánh giá sau mỗi tuần điều trị điểm Lequesne trung bình nhóm nghiên cứu giảm nhanh hơn nhóm đối chứng với

p < 0,01 Sau 30 ngày điều trị điểm Lequesne trung bình của nhóm nghiên cứu là 2,58 ± 1,83 còn ở nhóm đối chứng là 7,19 ± 3,07

Thời điểm trước điều trị các bệnh nhân ở hai nhóm có tầm vận động hạn chế nhiều, sự khác biệt giữa hai nhóm là không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Điều này cũng phản ánh tình trạng bệnh diễn biến lâu ngày, bệnh tiến triển dần, tổn thương xương sụn nhiều làm hẹp khe khớp, biến dạng khớp và hậu quả là làm hạn chế vận động khớp gối Sau điều trị 30 ngày, tầm vận động khớp gối ở nhóm nghiên cứu cải thiện rõ rệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 so với nhóm đối chứng,

ở nhóm nghiên cứu tầm vận động khớp gối trung bình là 137 ± 9,06 (độ) còn ở nhóm đối chứng là 128,33 ± 9,77 (độ)

Theo nhận định của chúng tôi: nhờ có khả năng giảm đau mạnh và kéo dài nên bệnh

mềm mại hơn do đó việc vận động của khớp gối cũng dễ dàng hơn, dẫn đến có những cải thiện đáng kể trong tầm vận động

Cấy chỉ là một phương pháp điều trị đã được áp dụng tại Việt Nam từ những thập niên 70, và cho đến nay cấy chỉ đã đang được

áp dụng điều trị hiệu quả rất nhiều mặt bệnh trên lâm sàng Cho đến nay phương pháp cấy chỉ đã được cải tiến rất nhiều về kỹ thuật cấy

Trang 6

và công thức huyệt đã đem lại hiệu quả cao

trên lâm sàng đồng thời ít gặp tác dụng phụ

trên lâm sàng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau 2 lần

cấy chỉ thì chưa gặp một trường hợp bệnh

nhân nào bị tác dụng phụ của cấy chỉ như là

đau, nhiễm trùng, dị ứng với chỉ catgut…

V KẾT LUẬN

Phương pháp điều trị kết hợp cấy chỉ

cat-gut với uống độc hoạt tang ký sinh là phương

pháp đem lại hiệu quả tốt trong điều trị thoái

hóa khớp gối, đồng thời giảm thời gian nằm

viện và chi phí cho bệnh nhân

Trong thời gian theo dõi 30 ngày, chưa

nhận thấy các dấu hiệu bất thường nào của

phương pháp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Thị Ngọc Lan (2011) Thoái

hóa khớp Bệnh học cơ xương khớp nội khoa,

Nhà xuất bản Y học, 140 - 154

2 Nguyễn Thị Mộng Trang, Lê Thị Anh

Thư (2004) Tình hình thoái hóa khớp tại khoa

nội cơ xương khớp Bệnh viện Chợ Rẫy trong

3 năm (2/2001 - 2/2004), Báo cáo khoa học

hội thấp khớp học lần thứ 3 Hội thấp khớp

học Việt Nam, 13 - 18

3 Vũ Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị

Tâm, Phạm Thắng (2012), Đặc điểm thoái

hóa khớp gối ở bệnh nhân đái tháo đường

cao tuổi, Tạp chí nghiên cứu Y học, 80(3),

19 - 24

4 Nguyễn Thị Bích Đào (2001) Nghiên

cứu tác dụng của phương pháp cấy chỉ catgut

vào huyệt lên một số sinh học và lâm sàng

của bệnh nhân sau phẫu thuật trĩ, Luận văn thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 21-

25, 29

5 Trường Đại Học Y Hà Nội (2006) Đau

nhức các khớp không có nóng đỏ Chuyên đề nội khoa Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học,

470 - 473

6 Nguyễn Thị Tâm, Phạm Thắng (2012)

Đánh giá hiệu quả của Axit Hyaluronic dạng uống trong điều trị thoái hóa khớp gối ở bệnh

Việt Nam, 394(2), 73 - 77

7 Nguyễn Thị Ngọc Lan (2009) Nghiên

cứu hiệu quả của Glucosamin Sulfat (Viartril S) trong điều trị thoái hóa khớp gối, Tạp chí nội khoa, 4, 112 - 119

8 Trần Trung Dũng, Đoàn Việt Quân (2012) Nhận xét kết quả phẫu thuật thay khớp gối toàn bộ cho bệnh nhân thoái hóa khớp gối tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Tạp chí Y học thực hành, 3, 20 0 22

9 Aggaarwal Anita (2003) A.H injection

for knee osteoarthritis Canadian family

physi-cian, 133 - 135

10 Altman RD (1991) Critieria for

classifi-cation of clinical osteoarthritis, J Rheumatol

Suppl, 27, 10 - 12

11 Lequesne M (1985) Athrose de la

hanche et du Genou, Criteres de diagnostic, indices de mesure de la doubecr de la function

et du resultats therapeutique osteoarthritis,

39 - 43

12 Gabriel SE, Crowson CS, Campion ME (1997) Direct medical costs unique to people

with arthritis, J Rheumatol 24(4), 719 - 725

Trang 7

Summary EFFECTIVENESS OF TREATMENT KNEE OSTEOARTHRITIS

BY COMBINATION CATGUT EMBEDDING THERAPY WITH

“DOC HOAT TANG KY SINH”

The study was to evaluate the effectiveness of treatment of knee osteoarthritis by combination catgut embedding therapy and “Doc hoat tang ky sinh” The open clinical trial compared the results before and after treatment of 60 patients with ostoarthritis The 60 patients were divided into 2 groups One group was treated with a combination of catgut embedding therapy and “Doc hoat tang ky sinh” and the other group was treated with the “Doc hoat tang ky sinh” alone After

30 days of treatment, patients in both groups showed significant improvement prior treatment according to VAS indicators, Lequesne index and range of knee movement However, those patients treated with a combination of catgut embedding therapy and “Doc hoat tang ky sinh”

showed significant more improvement (p < 0.01) than those treated with the “Doc hoat tang ky sinh” alone In conclusion, the method of combining both catgut embedding therapy and “Doc hoat tang ky sinh” method is an effective and safe method in treating knee osteoarthritis

Keywords: Knee osteoarthritis, Catgut embedding therapy, Doc hoat tang ky sinh

Ngày đăng: 15/01/2020, 08:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w