1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh sự phát triển thể chất của trẻ sinh ra từ chương trình thụ tinh trong ống nghiệm với mang thai tự nhiên

6 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 308,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cộng đồng gần đây rất cần biết thông tin sức khỏe của trẻ thụ tinh ống nghiệm (TTON). Mục tiêu nghiên cứu nhằm so sánh cân nặng, chiều cao của trẻ sinh ra bằng phương pháp TTON với trẻ mang thai tự nhiên từ 5- 30 tháng tuổi tại Bệnh viện Từ Dũ từ năm 2016 đến năm 2018.

Trang 1

SO SÁNH SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CỦA TRẺ SINH RA

TỪ CHƯƠNG TRÌNH THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM

VỚI MANG THAI TỰ NHIÊN

Lê Thị Minh Châu*, Võ Minh Tuấn**,Nguyễn Tâm Hồng Thúy***, Ngô Minh Xuân****

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Cộng đồng gần đây rất cần biết thông tin sức khỏe của trẻ thụ tinh ống nghiệm (TTON) Mục

tiêu nghiên cứu nhằm so sánh cân nặng, chiều cao của trẻ sinh ra bằng phương pháp TTON với trẻ mang thai tự nhiên từ 5- 30 tháng tuổi tại Bệnh viện Từ Dũ từ năm 2016 đến năm 2018

Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu được thực hiện so sánh 429 trẻ TTON (điều tại Bệnh viện Từ

Dũ) và 509 trẻ sinh tự nhiên Đây là các trẻ đơn thai, đủ tháng bắt cặp nhau về độ tuổi Kết quả chính là cân nặng, chiều cao của trẻ

Kết quả: Không có sự khác biệt giữa hai nhóm TTON và nhóm chứng về cân nặng (9,7±2,3 so với 9,5±1,9)

và chiều cao (74,8±7,7 so với 75,0±6,9) Tỉ lệ dư cân-béo phì ở bé TTON cao hơn bé tự nhiên có ý nghĩa thống kê (11% so với 7,1%, p= 0,037) Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ dư cân-béo phì giữa các nhóm tuổi của hai nhóm TTON và bé tự nhiên

Kết luận: Nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về cân nặng, chiều cao g giữa trẻ sinh

ra bằng phương pháp TTON so với trẻ mang thai tự nhiên giai đoạn 5-30 tháng tuổi

Từ khóa: sự tăng trưởng, thụ tinh ống nghiệm, cân nặng trẻ, chiều cao trẻ

ABSTRACT

COMPARE WEIGHT AND HEIGHT OF IN VITRO FERTILIZATION (IVF) -CONCEIVED CHILDREN

AND SPONTANEOUS CONCEIVED CHILDREN

Le Thi Minh Chau, Vo Minh Tuan, Nguyen Tam Hong Thuy, Ngo Minh Xuan

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement Vol 23 - No 2- 2019: 31 - 36

Objective: to compare weight and height of in vitro fertilization (IVF) -conceived children and spontaneous

conceived children at at the stage of 5 to 30 months in Tu Du hospital from 2016 to 2018

Methods: This is a prospective, controlled, cohort study A total of 429 in vitro fertilization -conceived

children were ompared with 509 spontaneous conceived children All children were full-term singletons Control group was selected to match study group for age Primary end-points were height and weight

Results: No significant differences were observed between the IVF children and controls regarding weight

(9.7±2.3 vs 9.5±1.9) and height (74.8±7.7 vs 75.0±6.9) The percentage of overweight and obese of IVF conceived children were significantly higher than that of natural children (11% vs 7.1%, p= 0.037) However, no significant difference was found in the percentage of overweight and obese between group of age in the study

Conclusion: the study was not found a significant difference between children conceived after IVF treatment

and naturally conceived children in terms of weight and height from 5 to 30 months

Key word: growth, in vitro fertilization, weight of children, height of children

*Bệnh viện Từ Dũ **BM Sản, Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

***Bệnh viện Tâm Thần Tp Hồ Chí Minh ****Trường Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

Tác giả liên lạc: PGS TS BS Võ Minh Tuấn ĐT: 0909727199 Email: vominhtuan@ump.edu.vn.

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thụ tinh trong ống nghiệm (TTON) là giải

pháp hữu hiệu cho các cặp vợ chồng hiếm muộn

và cho đến nay đã có hơn 4 triệu em bé ra đời

bằng phương pháp này(10) Tuy nhiên, TTON là

giải pháp can thiệp vào sự sống Sau TTON có

nhiều vấn đề cần quan tâm như: bất thường di

truyền, sanh non, các vấn đề tiền sản, chậm phát

triển(12) Về sự phát triển thể chất sự tăng trưởng

của trẻ liên quan đến chiều cao, cân nặng, Miles

và cộng sự năm 2007 ghi nhận trong một đoàn

hệ gồm 69 trẻ TTON tuổi từ 4-10 tuổi có chiều

cao và nồng độ IGF-I, IGF-II cao hơn có ý nghĩa

thống kê so với 71 trẻ sinh tự nhiên sau khi hiệu

chỉnh về tuổi và chiều cao của cha mẹ Bài báo

cho rằng sự khác biệt này có thể do sự thay đổi

nhỏ trong những dạng methyl hóa DNA của các

dấu ấn gen trong quá trình TTON(9) Theo

Koivurova và cộng sự trong một nghiên cứu

đoàn hệ vào năm 2003 cho thấy 299 trẻ TTON có

cân nặng nhẹ hơn có ý nghĩa thống kê so với 588

trẻ sinh tự nhiên ở giai đoạn cho đến 3 tuổi(6)

Một số nghiên cứu khác không tìm thấy sự khác

biệt về chiều cao và cân nặng giữa hai nhóm trẻ

sanh sau điều trị hỗ trợ sinh sản (HTSS) và sinh

tự nhiên(3,13)

Tại Việt Nam, chương trình TTON bắt đầu

từ năm 1997, đến nay có hơn 23 trung tâm

TTON ra đời Chúng ta đã thực hiện nhiều kỹ

thuật hiện đại, mang về tỉ lệ thành công cao,

tuy nhiên hiện vẫn chưa có nghiên cứu có

nhóm chứng đánh giá về sự phát triển thể chất

của trẻ TTON

Để trả lời cho câu hỏi: “có sự khác biệt nào

không về sự phát triển thể chất của trẻ TTON so

với trẻ mang thai tự nhiên?” Chúng tôi tiến hành

nghiên cứu so sánh sự phát triển cân nặng, chiều

cao của trẻ sinh ra bằng phương pháp TTON so

với trẻ mang thai tự nhiên tại Bệnh viện Từ Dũ

từ năm 2016 đến năm 2018

Mục tiêu nghiên cứu

So sánh sự phát triển cân nặng, chiều cao của

trẻ sinh ra bằng phương pháp TTON với trẻ

mang thai tự nhiên từ 5- 30 tháng tuổi tại Bệnh viện Từ Dũ từ năm 2016 đến năm 2018

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu

Dân số mục tiêu

Trẻ sinh ra từ phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm Việt Nam

Dân số nghiên cứu

Trẻ sinh ra bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Từ Dũ, TP Hồ Chí Minh

Dân số chọn mẫu

Trẻ sinh ra bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm 5-30 tháng tuổi được khám

2015-2018 tại Bệnh viện Từ Dũ, không phân biệt giới tính, ở TP Hồ Chí Minh

Tiêu chuẩn nhận mẫu

Nằm trong độ tuổi 5-30 tháng, Tuổi thai lúc sinh ≥ 37 tuần, Đơn thai,

Không nhẹ cân, Trẻ được mang thai bằng phương pháp TTON tại Bệnh viện Từ Dũ, sanh từ 2015 tại Bệnh viện Từ Dũ (nếu là nhóm TTON),

Trẻ thụ thai tự nhiên (không dùng bất kỳ biện pháp hỗ trợ sinh sản nào), sanh từ 2015 Bệnh viện Từ Dũ (nếu là nhóm tự nhiên)

Tiêu chuẩn loại trừ

Trẻ

Bệnh lý trong thai kỳ, Biến chứng trong khi sinh, Mắc bệnh truyền nhiễm,

Bị chấn thương sau sinh

Mẹ

Tiền căn bệnh lý nội ngoại khoa, Mắc bệnh do thai kỳ,

Có rượu, thuốc lá, chất gây nghiện, Sức khỏe tâm thần

Không đồng ý tham gia nghiên cứu

Trang 3

Cỡ mẫu

Lấy mẫu toàn bộ cho nhóm TTON trong

khoảng thời gian nghiên cứu khoảng 400

trường hợp Lấy mẫu ngẫu nhiên đơn cho

nhóm thụ thai thường với số lượng gần tương

ứng với nhóm TTON

Phương pháp tiến hành

Chuẩn bị danh sách các trẻ TTON cần khám

Lập danh sách tất cả các trường hợp TTON

thành công và đã sinh em bé từ năm 2015 từ sổ

ghi nhận và theo dõi thai tại đơn vị TTON Bệnh

viện Từ Dũ Chia các bé thành 5 nhóm tuổi (dưới

8 tháng, 8-12 tháng, 12-18 tháng, 18-24 tháng, từ

24 tháng trở lên)

Thông báo và chọn đối tượng nghiên cứu

Nhóm TTON

Gọi điện theo danh sách đã lọc, tư vấn qua

điện thoại về chương trình khám và mời đến

khám Nếu gia đình đồng ý sẽ được gửi thư mời

khám Khám vào hai buổi sáng thứ hai và thứ

Nhóm tự nhiên

Tư vấn tại đơn vị phòng khám trẻ lành mạnh

Bệnh viện Từ Dũ mời khám bắt cặp theo nhóm

tuổi của nhóm TTON trong tuần khám Khám 2

buổi sáng thứ 3 và thứ 5

Phỏng vấn và khám thử

Tổ chức thu thập số liệu thử 30 trẻ (mỗi

nhóm TTON và tự nhiên là 15 trẻ)

Triển khai khám và thu thập số liệu: gồm 2 bước tư vấn-hỏi và khám

Tư vấn-hỏi

Thông tin giới thiệu nghiên cứu, hướng dẫn cha mẹ đọc, giải đáp các thắc mắc và ký tên vào phiếu đồng thuận tham gia nghiên cứu Hỏi cha

mẹ về các kiện kinh tế-văn hóa-xã hội, sản khoa, bệnh sử TTON theo bảng câu hỏi soạn sẵn

Khám

Cân, đo trực tiếp cho từng trẻ một

Tổng hợp số liệu

Số liệu sẽ được nhập theo từng ngày khám

để xử lý kịp thời các trường hợp thông tin bị thiếu, sai, đảm bảo có số liệu đủ và đúng

Công cụ thu thập số liệu

Bảng câu hỏi soạn sẵn về thông tin sản khoa

và đặc điểm kinh tế-văn hóa-xã hội

Dữ liệu cân, đo trực tiếp mỗi trẻ

KẾT QUẢ

Trong thời gian từ tháng 8/2016 đến tháng 9/2018, theo danh sách thai TTON của khoa hiếm muộn Bệnh viện Từ Dũ, chúng tôi đã gửi

480 thư mời (400 thư mời chính thức và 80 thư mời dự bị) Kết quả có 441 bé đến theo lịch hẹn,

12 bé không đạt tiêu chuẩn nhận Tổng cộng chúng tôi khám 429 bé nhóm TTON và 509 bé nhóm tự nhiên

Bảng 1 Đặc điểm của bố mẹ và bé trong mẫu nghiên cứu (N=938)

Đặc điểm TTON(n=429) Thường(n=509) Chung(n=938) P

Trang 4

Đặc điểm TTON(n=429) Thường(n=509) Chung(n=938) P

Tuổi cha

Thứ tự bé

Tuổi mẹ và tuổi cha ở nhóm TTON đều lớn

tuổi hơn so với nhóm thai tự nhiên có ý nghĩa

thống kê, đặc biệt là ở mức trên 35 tuổi Ngoài

ra, trong nhóm TTON, tỉ lệ đây là lần mang

thai đầu tiên khá cao (83%) so với nhóm sinh

thường (69,9%) và sự khác biệt về thứ tự bé

mang thai lần này có ý nghĩa thống kê Các bà

mẹ mang thai do TTON có học vấn thấp hơn

có ý nghĩa thông kê so với nhóm bà mẹ thụ

thai thường, kết quả này tương tự cho bố

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống về

nhóm tuổi giữa hai nhóm TTON và thường

(Bảng 2)

Bảng 2 So sánh trung bình của các chỉ số tăng

trưởng của bé TTON và bé tự nhiên

Chỉ số phát triển TTON

(n=429)

Thường (n=509)

Khác biệt P*

(*) Independent samples TTest phân phối chuẩn

Chúng tôi tìm thấy không có sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê về cân nặng trung bình, chiều

cao trung bình giữa hai nhóm trẻ TTON và trẻ tự

nhiên Kết quả này đồng thuận với nhiều nghiên cứu thiết kế tốt trên thế giới khảo sát về sự tăng trưởng của các bé TTON(1,2,5,7,14) (Bảng 3)

Bảng 2 So sánh tỉ lệ bé suy dinh dưỡng vừa-nặng và

dư cân-béophì giữa bé TTON và bé tự nhiên theo phân loại cân nặng theo chiều cao (weight-for-length) của WHO

Phân loại theo hệ thống weight-for-length

TTON (n=429)

Thường (n=509)

P*

Suy dinh dưỡng vừa-nặng

Không 415 (96,7%) 487(95,7%)

(*) Kiểm định 2

Bảng 3 So sánh tỉ lệ dư cân-béophì theo nhóm tháng

tuổi giữa bé TTON và bé tự nhiên

Dư cân-béo phì

TTON (n=429)

Thường (n=509)

P*

Không 161 (93,1%) 187(97,4%)

Không 102 (90,3%) 137 (90,7)

Trang 5

Dư cân-béo

phì

TTON (n=429)

Thường (n=509)

P*

(*) Kiểm định 2 hay Fisher’s exact

Khi so sánh tỉ lệ dư cân-béo phì theo nhóm

tháng tuổi giữa hai nhóm, nhận thấy: chỉ có

nhóm <8 tháng có thể có nguy cơ béo phì ở

nhóm bé TTON cao hơn bé tự nhiên, còn lại ở tất

cả nhóm tuổi khác không có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê giữa bé TTON và bé tự nhiên

(p>0,05) (Bảng 4)

BÀN LUẬN

Với phân loại dinh dưỡng theo z-scores,

phân tích cân nặng theo chiều cao bé

(weight-for-length) theo tiêu chuẩn của WHO, chúng tôi

so sánh ở tỉ lệ bất thường về dinh dưỡng Kết

quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê về mức độ suy dinh dưỡng vừa-nặng

giữa hai nhóm trẻ Tuy nhiên tỉ lệ dư cân-béo phì

ở bé TTON cao hơn bé tự nhiên có ý nghĩa thống

kê (p< 0,05) Nghiên cứu chúng tôi khác với kết

quả một số nghiên cứu Ludwig năm 2009

(nghiên cứu mô tả bên trên) đã tìm thấy trẻ ICSI

có chỉ số BMI thấp hơn trẻ tự nhiên có ý nghĩa

thống, tuy nhiên sự khác biệt này khá nhỏ và

không có liên quan đến phương diện lâm

sàng(7) Nghiên cứu tiến cứu của Belva khảo sát

tình trạng sức khỏe 150 trẻ 8 tuổi đơn thai ICSI

(sanh từ tuần 32 trở lên) so với 147 trẻ tự nhiên,

ông không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê về chỉ số BMI giữa hai nhóm(1) Gần

đây hơn năm 2017, Meddeb và cộng sự đã công

bố kết quả một nghiên cứu dọc theo dõi sự tăng

trưởng của 118 trẻ TTON (IVF và ICSI) sinh đơn

thai từ lúc mới sinh đến 5 tuổi tại Pháp so với

320 trẻ tự nhiên, trong đó BMI là kết quả đo đạc

chính Kết quả tìm thấy không có sự khác biệt về

trung bình BMI giữa các nhóm bất chấp thời

điểm, kể cả khi kiểm soát các yếu tố gây nhiễu

liên quan đến cha mẹ, thai kỳ, đặc điểm của trẻ

và lối sống(8) Như vậy, đa số nghiên cứu có ghi

nhận chỉ số tăng trưởng đều không có sự khác

biệt có ý nghĩa hoặc khác biệt không liên quan đến phân loại lâm sàng trong khi bé TTON của chúng tôi lại có tỉ lệ béo phì cao hơn Nghiên cứu của Foix-L’Hélias có kết quả tương tự với chúng tôi khi theo dõi sự phát triển về tăng trưởng của các bé trưởng thành trứng non trong ống nghiệm (IVM) từ lúc mới sinh đến 2 tuổi, BMI ở nhóm TTON cao hơn nhóm chứng (TTON không IVM) có ý nghĩa thống kê(4) Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ có 38 trẻ mỗi nhóm, chỉ chuyên biệt so sánh cho trẻ TTON bằng kỹ thuật IVM, nhóm chứng là nhóm TTON không IVM

và sự khác biệt BMI này là ổn định từ lúc 1 tuổi đến 2 tuổi Khác với Foix-L’Hélias, nghiên cứu của chúng tôi là sự đa dạng về kỹ thuật, chỉ có 3 trường hợp thực hiện IVM (chiếm 0,7%) mặc dù

có tỉ lệ bé béo phì nhiều hơn nhưng khi phân nhóm theo tháng tuổi, chỉ có nhóm <8 tháng có thể có nguy cơ béo phì ở nhóm bé TTON cao hơn bé tự nhiên, còn lại ở tất cả nhóm tuổi khác không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa

bé TTON và bé tự nhiên (p>0,05), vì vậy khả năng bé béo phì là do sự thay đổi kiểu hình thông qua sự methyl hóa gen do thực hiện TTON còn chưa rõ ràng, cần có sự theo dõi thêm

về sau Một hạn chế trong nghiên cứu của chúng tôi là chiều cao, cân nặng, BMI của cha mẹ chưa được kiểm soát như là các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tăng trưởng của con Hơn nữa 83% bé TTON là con thứ nhất, cha mẹ ở nhóm này lớn tuổi hơn cha mẹ nhóm bé tự nhiên có ý nghĩa thống kế (p<0,05) nên trong gia đình có thể sẽ có

“môi trường con quý”(11), cha mẹ có thể sẽ có sự quan tâm, chăm sóc trẻ ở mức độ cao Mặt khác trình độ học vấn của cha, mẹ bé TTON thấp hơn

ở nhóm thường có ý nghĩa thống kê Điều này có thể ảnh hưởng đến cách chăm sóc, hướng dẫn chế độ ăn uống cho con có thể ảnh hưởng đến chế độ dinh dưỡng của bé Vì vậy, sự khác biệt

về phân độ dinh dưỡng của bé TTON, chúng tôi suy nghĩ nghiêng về phương diện chăm sóc trong chế độ dinh tưỡng của bé hơn là tình trạng bệnh lý Tuy nhiên, sự khác biệt được tìm thấy

về phân loại dinh dưỡng trong nghiên cứu của

Trang 6

chúng tôi nên được tiếp tục theo dõi, khảo sát

chi tiết ở những nghiên cứu tiếp theo ở độ tuổi

trẻ lớn hơn

KẾT LUẬN

Khảo sát 938 trường hợp, tất cả trẻ được cân,

đo trực tiếp Không có trường hợp nào từ chối

tham gia nghiên cứu sau khi được tư vấn mời

tham gia nghiên cứu Kết quả chúng tôi tìm thấy:

Không có sự khác biệt về chiều cao, cân nặng

giữa trẻ sinh ra bằng phương pháp TTTON so

với trẻ mang thai tự nhiên giai đoạn 5-30 tháng

tuổi Phổ biến rộng rãi kết quả nghiên cứu đến

các trung tâm TTON trên cả nước Đây là kết

quả hữu ích có thể sử dụng để thông tin, tư vấn

cho bệnh nhân trong điều trị hỗ trợ sinh sản

Tiếp tục khảo sát sức khỏe thể chất bé ở các khía

cạnh khác ngoài cân nặng, chiều cao như các

bệnh lý tổng quát (tim mạch, thần kinh) hay cân

nặng, chiều cao độ tuổi lớn hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Belva F, Henriet S, Liebaers I et al (2007) "Medical outcome of

8-year-old singleton ICSI children (born ≥32 weeks’ gestation) and

a spontaneously conceived comparison group" Human

Reproduction, 22 (2), 506-515

2 Bonduelle M, Wennerholm UB, Loft A et al (2005) "A

multi-centre cohort study of the physical health of 5-year-old children

conceived after intracytoplasmic sperm injection, in vitro

fertilization and natural conception" Human Reproduction, 20 (2),

413-419

3 Brandes JM, Itzkovits J, Scher A et al (1992) "Growth and

Development of Children Conceived by In Vitro Fertilization"

Pediatrics, 90 (3), 424-429

4 Foix-L'Hélias L, Grynberg M, Ducot B et al (2014) "Growth

development of French children born after in vitro maturation"

PloS one, 9(2), e89713-e89713

5 Knoester M, Helmerhorst FM, Vandenbroucke Jan P et al (2008)

"Perinatal outcome, health, growth, and medical care utilization

of 5- to 8-year-old intracytoplasmic sperm injection singletons"

Fertility and sterility, 89(5), 1133-1146

6 Koivurova S, Hartikainen AL, Sovio U et al (2003) "Growth, psychomotor development and morbidity up to 3 years of age

in children born after IVF" Human Reproduction, 18 (11),

2328-2336

7 Ludwig AK, Katalinic A, Thyen U et al (2009) "Physical health

at 5.5 years of age of term-born singletons after intracytoplasmic sperm injection: results of a prospective, controlled,

single-blinded study" Fertility and Sterility, 9(1), 115-124

8 Meddeb L, Pauly V, Boyer P et al (2017) "Longitudinal growth

of French singleton children born after in vitro fertilization and intracytoplasmic sperm injection Body mass index up to 5 years

of age" Revue d'Épidémiologie et de Santé Publique, 65 (3), 197-208

9 Miles HL, Hofman PL, Peek J et al (2007) "In Vitro Fertilization

Improves Childhood Growth and Metabolism" The Journal of

Clinical Endocrinology & Metabolism, 92(9), 3441-3445

10 Nobel Prize (2010) The Nobel Prize in Physiology or Medicine

2010 to Robert G Edwards for the development of in vitro

https://www.nobelprize.org/nobel_prizes/medicine/laureates/20 10/press.html, 25/3/2017

11 Punamäki RL, Tiitinen A, Lindblom J et al (2016) "Mental health and developmental outcomes for children born after ART: a comparative prospective study on child gender and treatment

type" Human Reproduction, 31 (1), 100-107

12 Squires J, Kaplan P (2007) "Developmental Outcomes of Children Born After Assisted Reproductive Technologies"

Infants & Young Children, 20 (1), 2-10

13 Wennerholm U, Albertsson-Wikland K, Bergh C et al (1998)

"Postnatal growth and health in children born after

cryopreservation as embryos" The Lancet, 351 (9109), 1085-1090

14 Woldringh GH, Hendriks JCM, van Klingeren J et al (2011)

"Weight of in vitro fertilization and intracytoplasmic sperm

injection singletons in early childhood" Fertility and sterility, 95

(8), 2775-2777

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 08/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 08:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w