1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả điều trị tắc lệ đạo bẩm sinh bằng phương pháp đặt ống silicone nối thông lệ mũi

9 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 322,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày đánh giá kết quả điều trị tắc lệ đạo bẩm sinh bằng phương pháp đặt ống silicone nối thông lệ mũi. Phương pháp đặt ống silicone nối thông lệ mũi mang lại hiệu quả trong điều trị tắc lệ đạo bẩm sinh. Can thiệp đặt ống silicone sớm sau khi thất bại với phương pháp điều trị bảo tồn và tránh nguy cơ phải can thiệp phẫu thuật tiếp khẩu túi lệ mũi xâm lấn về sau.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TẮC LỆ ĐẠO BẨM SINH

BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐẶT ỐNG SILICONE NỐI THÔNG LỆ MŨI

Nguyễn Thị Ngọc Anh*, Nguyễn Chí Hưng**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị tắc lệ đạo bẩm sinh bằng phương pháp đặt ống silicone nối thông lệ

mũi

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca, tiến hành tại tại bệnh viện Nhi

Đồng 1 Thành Phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 07 năm 2015 28 mắt của 24 bệnh nhi bị tắc lệ đạo bẩm sinh, tuổi từ 7 tháng đến 93 tháng, được chia thành 2 nhóm là nhóm ≤ 24 tháng tuổi

và nhóm > 24 tháng tuổi, tất cả đều đã thông lệ đạo trước đó và thất bại, được điều trị bằng phương pháp đặt ống silicone nối thông lệ mũi có kết hợp nội soi mũi dưới gây mê toàn thân Theo dõi và đánh giá kết quả sau khi rút ống 3 tháng

Kết quả: 24 bệnh nhi (28 mắt), tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 30,36 tháng tuổi Tỷ lệ thành công

chung của phương pháp đặt ống silicone nối thông lệ mũi điều trị tắc lệ đạo bẩm sinh là 79% Nhóm ≤ 24 tháng tuổi và đã thông lệ đạo trước đó ≤ 2 lần có tỷ lệ thành công cao 100% Nhóm > 24 tháng tuổi: nếu thông lệ đạo trước đó ≤ 2 lần có tỷ lệ thành công 50%, nếu thông lệ đạo trước đó > 2 lần có tỷ lệ thất bại hoàn hoàn Có 24/28 mắt đủ tiêu chuẩn rút ống vào thời điểm 3 tháng, tỷ lệ thành công 83,3% Những yếu tố liên quan đến sự thất bại: nhóm tuổi lớn hơn 24 tháng, những trường hợp thông lệ đạo lập lại nhiều lần Biến chứng tuột ống và thời gian lưu ống không liên quan đến sự thất bại

Kết luận: Phương pháp đặt ống silicone nối thông lệ mũi mang lại hiệu quả trong điều trị tắc lệ đạo bẩm

sinh Can thiệp đặt ống silicone sớm sau khi thất bại với phương pháp điều trị bảo tồn và tránh nguy cơ phải can thiệp phẫu thuật tiếp khẩu túi lệ mũi xâm lấn về sau

Từ khóa: Tắc lệ đạo bẩm sinh, đặt ống silicone

ABSTRACT

RESULTS OF SILICONE NASOLACRIMAL DUCT INTUBATION IN CHILDREN WITH

CONGENITAL NASOLACRIMAL DUCT OBSTRUCTION

Nguyen Thi Ngoc Anh, Nguyen Chi Hung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 142 - 150

Purpose: To evaluate the results of silicone nasolacrimal duct intubation in the treatment of congenital

nasolacrimal duct obstruction

Subject and methods: In a descriptive study at the Children Hospital Number 1, Ho Chi Minh city, from

October - 2014 to July – 2015 24 patients (28 eyes) with congenital nasolacrimal duct obstruction (CNLDO), who ranged in age from 7-93 months (≤ 24 months and > 24months), with history of failed probing, underwent silicone nasolacrimal duct intubation under general anaesthesia in conjunction with nasal endoscopy The study

outcome visit was timed 3 months after tube removal and treatment success was analyzed

Results: 24 patients (28 eyes), the mean age was 30.36 months The overall success rate was 79% Group

under 24 months of age and less than 2 failed probings, the success rate was 100% Group over 24 months of age

* Bệnh viện Nhi Đồng 1 ** Bộ môn Mắt - Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

Trang 2

and less than 2 failed probings, the success rate was 50% Group over 24 months of age and more than 2 failed probings, the failure rate in this group was complete Stent removal in 24 of 28 eyes took place 3 months after surgery, the success rate was 83.3% The relationship of failure rate: in the group over 24 months of age, repeated probing many times Prolapse of the tube and timing of tube removal are not related to the failure rate

Conclusion: Silicone nasolacrimal duct intubation is an effective treatment for patients with congenital

nasolacrimal duct obstruction We recommend silicone intubation as the procedure of choice for congenital nasolacrimal duct obstruction in children after failure of conservative treatment and nasolacrimal duct probings Intubation has been advocated to obviate the need for dacryocystorhinostomy

Key words: Congenital nasolacrimal duct obstruction, silicone intubation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tắc lệ đạo bẩm sinh là bệnh lý khá phổ biến

ở trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi với tần suất từ

5%-20%(5,2) Biểu hiện lâm sàng xuất hiện sớm sau

sinh với triệu chứng chảy nước mắt sống kèm

tăng tiết chất nhầy, có nguy cơ tiềm tàng nhiễm

trùng vùng hốc mắt và nhãn cầu, gây rất nhiều

lo lắng cho thân nhân bệnh nhi Nguyên nhân

chính chiếm khoảng 80% các trường hợp gây

tắc nghẽn trong hệ thống thoát lưu nước mắt là

do sự tồn tại một màng che tại van Hasner bởi

quá trình ống hóa không hoàn toàn(13,14) Liệu

trình điều trị bao gồm: day ấn túi lệ kết hợp nhỏ

kháng sinh 6 tháng đầu sau sinh, nếu không

hiệu quả sẽ tiến hành thông lệ đạo Tuy nhiên,

vẫn có một tỷ lệ thất bại đáng kể sau khi đã điều

trị bằng thông lệ đạo, khi đó chuyển sang áp

dụng một biện pháp can thiệp chuyên sâu hơn

là đặt ống silicone nối thông lệ mũi(7)

Từ năm 1970 nghiên cứu về phương pháp

đặt ống silicone nối thông lệ mũi điều trị tắc lệ

đạo bẩm sinh đã được thực hiện nhiều nơi trên

thế giới với kết quả thành công từ 69-100%(11,20)

Kết quả phương pháp đặt ống silicone nối

thông lệ mũi điều trị tắc lệ đạo bẩm sinh phụ

thuộc nhiều yếu tố: độ tuổi, số lần thông lệ đạo

trước đó, biến chứng và thời gian lưu ống

nhưng chưa được nghiên cứu nhiều, vì vậy

chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm đánh

giá kết quả điều trị tắc lệ đạo bẩm sinh bằng

phương pháp đặt ống silicone nối thông lệ mũi

giúp cho việc điều trị đạt hiệu quả hơn, hạn chế

biến chứng, tránh phẫu thuật nhiều lần, đặc biệt

là trẻ em

Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả đặc điểm dịch tễ và lâm sàng của trẻ tắc lệ đạo bẩm sinh

Đánh giá kết quả của phương pháp đặt ống silicone nối thông lệ mũi

Xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến

sự thất bại của phương pháp đặt ống silicone nối thông lệ mũi

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu

Có chỉ định đặt ống silicone nối thông lệ mũi: Bệnh nhi được chẩn đoán tắc lệ đạo bẩm sinh và đã thông lệ đạo ít nhất 1 lần trước đó và thất bại

Thân nhân bệnh nhi đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi nghe giải thích rõ ràng về

phương pháp đặt ống silicone nối thông lệ mũi

Tiêu chuẩn loại trừ

Bất thường bẩm sinh ở lệ đạo: không có điểm lệ, không có lệ quản, tắc lệ đạo do xương không thể luồn que thông xuống mũi

Bất thường bẩm sinh ở mi mắt: khuyết mi, quặm mi, dính mi cầu, dính khe mí, hội chứng Goldenhar

Bệnh lý tại mắt: viêm kết giác mạc, viêm túi

lệ, viêm màng bồ đào, tăng nhãn áp, đục thủy tinh thể, bong võng mạc

Dị tật bẩm sinh vùng sọ mặt: loạn sản sọ mặt, sứt môi, hở hàm ếch

Tiền căn chấn thương, phẫu thuật vùng hàm-mặt, mũi- xoang, hốc mắt

Trang 3

Bệnh nhi không tuân thủ chế độ điều trị,

không tái khám theo lịch hẹn

Những chống chỉ định không thể gây mê

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca có điều trị

đặt ống silicone nối thông lệ mũi thực hiện tại

bệnh viện Nhi Đồng I từ tháng 10/2014 đến

tháng 07/2015

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Tất cả các trường hợp được tiến hành đặt

ống silicone nối thông lệ mũi, đủ tiêu chuẩn

chọn bệnh và không thuộc tiêu chuẩn loại trừ

trong thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2014 đến

tháng 07/2015 tại bệnh viện Nhi Đồng 1

Quy trình nghiên cứu

Chẩn đoán tắc lệ đạo bẩm sinh

Bệnh sử: triệu chứng chảy nước mắt liên tục

và kéo dài ngay từ khi sinh hoặc xảy ra sớm sau

khi sinh, có thể kèm triệu chứng tăng tiết dịch

nhầy, dính ghèn mi, đỏ mắt nếu có bội nhiễm

Khám ấn túi lệ thấy trào ngược nước mắt

hoặc chất nhầy tại điểm lệ

Nghiệm pháp thuốc nhuộm cho kết quả bất

thường

Thủ thuật bơm rửa lệ đạo giúp chẩn đoán vị

trí tắc nghẽn

Chỉ định đặt ống silicone

Đặt ống silicone nối thông lệ mũi được chỉ

định trong những trường hợp tắc lệ đạo bẩm

sinh sau khi thất bại với phương pháp thông lệ

đạo

Phương pháp tiến hành

Gây mê qua nội khí quản bằng thuốc mê

Sevoflurance Nhỏ thuốc Otrivin 0,05% co niêm

mạc mũi

Rửa mắt bằng Cloracin 0,4% và dung dịch

Betadin 5%, sát trùng vùng da mi, mũi bằng

Betadin 10%

Đầu tiên phải nong điểm lệ trên và dưới

Động tác kéo mi dưới hướng xuống dưới và ra ngoài để tránh cho lệ quản bị xoắn, tránh nguy

cơ đi sai đường, tổn thương niêm mạc lệ quản Đưa que thông Bowman vào điểm lệ và bóng lệ theo hướng vuông góc với bờ mi, sau đó xoay 90º về phía thái dương, tiếp tục đưa que hướng ngang vào lệ quản chạm đến thành trong túi lệ, cảm giác được dấu hiệu chạm xương sau đó xoay que thông thẳng đứng đi theo thành trong túi lệ, hướng que từ trên xuống dưới - hơi ra ngoài - về phía sau, luồn đến ống lệ mũi Sau đó đưa que thông Ritleng dẫn đường vào lệ đạo với hướng đi tương tự như que thông Bowman

Ống silicone Ritleng có hai đầu là hai que thông dẻo dẫn đường, lần lượt luồn trong nòng que thông Ritleng qua lệ đạo, đầu que thông dẫn đường thứ nhất sau khi đi qua lệ đạo sẽ được lấy ra qua nội soi mũi kéo theo ống silicone Sau đó lặp lại thao tác kỹ thuật như trên để luồn ống silicone còn lại xuống khe mũi dưới Buộc chặt hai đầu ống với nhau.Tiến hành

bẽ cuốn mũi dưới

Trong thời gian lưu ống silicone sử dụng thuốc nhỏ kháng sinh để chống nhiễm trùng và kích thích Ống sẽ được lấy ra bằng cách cắt quai ống giữa hai điểm lệ và kéo một đầu ống cho đến khi nốt chỉ đi ngược qua ống lệ mũi, túi

lệ và lệ quản

Quy trình theo dõi

Theo dõi sau khi đặt ống silicone 1 tuần, sau

đó mỗi tháng Sau khi rút ống theo dõi 1 tháng,

3 tháng, 6 tháng Tại mỗi thời điểm tái khám bệnh nhi sẽ được kiểm tra 3 yếu tố:

Triệu chứng cơ năng: chảy nước mắt, chất nhầy ghèn

Dấu hiệu lâm sàng: ấn vùng túi lệ, bơm rửa

lệ đạo

Nghiệm pháp mất thuốc nhuộm

Kết quả được xác định thành công khi: Không còn triệu chứng cơ năng, và Không còn dấu hiệu lâm sàng, và

Trang 4

Nghiệm pháp mất thuốc nhuộm cho kết quả

bình thường

Kết quả được xác định thất bại khi:

Vẫn còn triệu chứng cơ năng, hoặc

Còn dấu hiệu lâm sàng, hoặc

Nghiệm pháp mất thuốc nhuộm cho kết quả

bất thường

KẾT QUẢ

Đặc điểm dịch tễ và lâm sàng

Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là

30,36 tháng tuổi Tỷ lệ nam chiếm đa số

(64%) Số trẻ bị bệnh ở 1 bên mắt chiếm tỷ lệ

cao hơn trẻ bệnh cả 2 mắt Đối tượng trong

nghiên cứu là tắc lệ đạo bẩm sinh đã được

thông lệ đạo trước đó nhưng không hiệu quả

Đánh giá kết quả của phương pháp đặt

ống silicone nối thông lệ mũi

Trong 28 mắt nghiên cứu, có 2 nhóm tuổi:

nhóm ≤ 24 tháng tuổi (có 20 mắt) và nhóm >

24 tháng tuổi (có 8 mắt) Phân tích kết quả của

nhóm ≤ 24 tháng tuổi có số lần can thiệp

thông lệ đạo trước đó ≤ 2 lần, nhóm > 24

tháng tuổi có số lần can thiệp thông lệ đạo

trước đó ≤ 2 lần và số lần thông lệ đạo > 2 lần

Đánh giá kết quả của nhóm ≤ 24 tháng tuổi

Bảng 1: Tỷ lệ thành công của nhóm ≤ 24 tháng tuổi

Tần số Tỷ lệ %

P=0,0002

Sau 3 tháng đặt ống có 20 mắt đủ tiêu

chuẩn rút ống khi hết hoàn toàn triệu chứng

cơ năng, không còn triệu chứng lâm sàng

Đánh giá kết quả sau 1 tháng rút ống, có 20/20

mắt thành công (100%) không còn triệu

chứng cơ năng, không còn dấu hiệu lâm sàng,

FDT bình thường Theo dõi tiếp 3 tháng sau

rút ống vẫn không có mắt nào tái phát Có ý

nghĩa thống kê (p <0,05)

Kết quả của nhóm > 24 tháng tuổi

Bảng 2: Kết quả của nhóm > 24 tháng tuổi

Sau rút ống 1 tháng

Sau rút ống 3 tháng

Thông lệ đạo ≤ 2 lần (n= 4 mắt)

Thành

Thất bại 2/4 (50%) 2/4 (50%) Thông lệ đạo > 2

lần (n= 4 mắt)

Thành

Thất bại 4/4 (100%) 4/4 (100%)

Trong 4 mắt thông lệ đạo ≤ 2 lần, đủ tiêu chuẩn rút ống vào thời điểm 3 tháng Kết quả sau rút ống 3 tháng có 2/4 mắt thành công (50%), 2/4 mắt thất bại (50%)

Còn 4 mắt thông lệ đạo > 2 lần, lưu ống silicone đến 4 tháng, có 3 mắt hết triệu chứng và

có chỉ định rút ống vào thời điểm 4 tháng Đánh giá lại sau 3 tháng rút ống, có 3/3 mắt tái phát với triệu chứng chảy nước mắt, tiết nhầy, FDT

độ 2, bơm rửa lệ đạo có hẹp ống lệ mũi (chiếm

tỷ lệ 100%) Còn 1 mắt lưu ống tiếp cũng có chỉ định rút ống tại thời điểm 5 tháng Theo dõi sau rút ống 3 tháng, trường hợp này tái phát lại với triệu chứng chảy nước mắt và FDT độ 2

Đánh giá kết cục

Bảng 3: Tỷ lệ thành công chung

Tần số Tỷ lệ %

P=0,0008

Có 6/28 mắt tái phát (chiếm tỷ lệ 21%), được đánh giá là thất bại Có 22/28 mắt thành công (chiếm tỷ lệ 79%) Có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Các yếu tố nguy cơ liên quan đến sự thất bại

Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của phương pháp đặt ống silicone nối thông

lệ mũi điều trị tắc lệ đạo bẩm sinh: độ tuổi tại thời điểm can thiệp, số lần thông lệ đạo trước khi tiến hành đặt ống silicone, biến chứng trong khi tiến hành thủ thuật, biến chứng

Trang 5

trong thời gian lưu ống, thời gian lưu ống

silicone

Bảng 4: Mối tương quan giữa tỷ lệ thất bại và tuổi

Thất bại Thành công

OR = 57 CI = 3,29 - 2748,39 P = 0,0001

Nhóm tuổi trên 24 tháng có 2/8 mắt thành

công (25%), trong khi nhóm tuổi dưới 24

tháng có 20/20 mắt thành công (100%) Nhóm

tuổi trên 24 tháng có nguy cơ thất bại cao gấp

57 lần so với nhóm tuổi dưới 24 tháng Có ý

nghĩa thống kê (p < 0,05)

Bảng 5: Mối tương quan giữa tỷ lệ thất bại và số lần

thông lệ đạo

Tổng Thất bại Thành công

OR = 42, CI=2,11 – 2158,94 P = 0,0004

Số lần thông lệ đạo trước đó ảnh hưởng

đến kết quả của phương pháp đặt ống

silicone Những trẻ thông lệ đạo trước đó > 2

lần có tỷ lệ thất bại là 100%, trong khi những

trẻ thông lệ đạo trước đó ≤ 2 lần có tỷ lệ thất

bại là 8,3%, nguy cơ thất bại gấp 42 lần Có ý

nghĩa thống kê (p< 0,05)

Bảng 6: Mối tương quan giữa tỷ lệ thất bại và tuột

ống

Thất bại Thành công

Biến chứng tuột ống trong thời gian lưu

ống không liên quan đến sự thất bại của

phương pháp đặt ống silicone (Khoảng tin

cậy = 0,84 - 120,28)

Bảng 7: Mối tương quan giữa tỷ lệ thất bại và biến

chứng trong lúc mổ

Biến chứng trong lúc mổ

Kết quả

Tổng Thất bại Thành công

Biến chứng trong lúc mổ có liên quan đến

sự thất bại của phương pháp đặt ống silicone Những trường hợp có biến chứng thì tỷ lệ thất bại 100%, trong khi những trường hợp không có biến chứng trong lúc mổ thì tỷ lệ thất bại 4,3% Gấp 105 lần Có ý nghĩa thống kê (p <0,05)

Bảng 8: Mối tương quan giữa tỷ lệ thất bại và thời

gian lưu ống

Tổng Thất bại Thành công

Nhóm lưu ống 3 tháng có 2/24 trường hợp thất bại (8,3%), trong khi đó nhóm lưu ống trên 3 tháng có 4/4 trường hợp thất bại (100%) Không có sự tương quan (Khoảng tin cậy = 0,01 – 3,78)

BÀN LUẬN Đặc điểm dịch tễ và lâm sàng

Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu tại thời điểm phẫu thuật đặt ống silicone là 30,36 tháng,

bé nhỏ nhất là 7 tháng, lớn nhất là 93 tháng Tuổi trung bình trong mẫu nghiên cứu này thấp hơn nghiên cứu tại Anh của tác giả Aggarwal

RK là 43 tháng tuổi(1), nhưng cao hơn nghiên cứu tại một số nước ở châu Á của tác giả Karci

B là 18,8 tháng tuổi(11), tác giả Po- Lieng Chen là 20,1 tháng tuổi(2), tác giả Mariya NM là 25,8 tháng tuổi(16) Sự khác nhau này thể hiện quan điểm điều trị khác nhau ở các nước.Tác giả tại Châu Âu chọn mẫu trên 11 tháng tuổi trong khi các tác giả tại Châu Á chọn nhóm đối tượng trên

7 tháng tuổi Điều này cho thấy thời điểm tiến hành đặt ống silicone vẫn còn là một đề tài

Trang 6

tranh luận Một số tác giả quan điểm thông lệ

đạo trễ sau 12 tháng tuổi nhằm chờ đợi sự tự

khỏi, dẫn đến thời điểm đặt ống silicone ở lứa

tuổi lớn(1,15,16) Ngược lại một số tác giả khác đề

nghị đặt ống silicone sớm trên 07 tháng tuổi,

giải quyết tình trạng chảy nước mắt, ghèn, hạn

chế phải sử dụng kháng sinh kéo dài, đồng thời

ghi nhận tỷ lệ thành công cao, tránh nguy cơ

phải can thiệp phẫu thuật tiếp khẩu túi lệ mũi

xâm lấn sau này(9,2)

Tỷ lệ thành công chung

Khi đối chiếu với các nghiên cứu khác, kết

quả nghiên cứu của chúng tôi (tỷ lệ thành công:

79%) gần tương tự với các tác giả Dortzbach RK

(82,5%)(3), tác giả Aggarwal RK (80%)(1), tác giả

Jihyun Park (82,8%)(8), nhưng thấp hơn so với

kết quả của tác giả Po-Liang Chen (90%)(2), tác

giả Mariya NM (89%)(16) Sự khác biệt này là do

toàn bộ mắt trong mẫu nghiên cứu của chúng

tôi tiến hành đặt ống silicone sau khi đã điều trị

thông lệ đạo trước đó nhưng thất bại, trong khi nghiên cứu của tác giả Po-Liang Chen tiến hành đặt ống silicone ở những trẻ đã thông lệ đạo hoặc chưa thông lần nào, còn tác giả Mariya

NM thì can thiệp đặt ống silicone nguyên phát cho những trẻ bị tắc lệ đạo bẩm sinh chưa trải qua thông lệ đạo lần nào Bên cạnh đó, còn có

sự khác biệt về tuổi của nhóm đối tượng nghiên cứu, trong nghiên cứu của chúng tôi độ tuổi phân bố rộng, tuổi cao nhất lên đến 8 tuổi Trong bệnh lý tắc lệ đạo bẩm sinh ở trẻ lớn có

sự gia tăng tỷ lệ các dạng tắc nghẽn lệ đạo phức tạp, các bất thường vùng mũi đi kèm, gia tăng tình trạng sẹo xơ hóa lệ đạo do quá trình điều trị trước đây gây ra, điều này cho thấy những bệnh nhi trong mẫu nghiên cứu được tiến hành đặt ống silicone là những trường hợp tắc nghẽn lệ đạo nặng, phức tạp, không đáp ứng với điều trị bảo tồn

Bảng 9: So sánh tỷ lệ thành công với các tác giả khác

Tác giả - Quốc Gia Tỷ lệ thành công Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Dortzbach RK, Hoa Kỳ (1982) (5) 82,5% Tất cả đều đã thông lệ đạo thất bại, thời gian lưu ống trung bình

4,3 tháng

Aggarwal RK, Anh (1993) (4) 80% Tất cả đã thông lệ đạo ít nhất 1 lần thất bại, tuổi từ 11- 108 tháng,

thời gian lưu ống trung bình 4,35 tháng Po-Liang Chen, Đài Loan (2004)(19) 90% Tuổi từ 7 tháng đến 5 tuổi, mẫu gồm những trẻ đã thông lệ đạo ít

nhất 1 lần thất bại hoặc chưa thông lần nào

Jihyun Park, Hàn Quốc (2011)(10) 82,8% Nghiên cứu hồi cứu, thời gian lưu ống từ 2 tuần đến 6 tháng Mariya NM, Pakistan (2012)(16) 89% Đặt ống silicone nguyên phát cho trẻ tuổi từ 12 - 48 tháng, lưu

ống trung bình 6,9 ± 3,4 tháng

N.T.Ngọc Anh Việt nam (2015) 79% Tất cả đều thông lệ đạo ít nhất 1 lần thất bại, thời gian lưu ống 3 -

5 tháng

Các yếu tố nguy cơ liên quan sự thất bại

Mối tương quan với độ tuổi tại thời điểm can

thiệp

Độ tuổi thích hợp để tiến hành phẫu thuật

đặt ống silicone vẫn còn là một đề tài tranh cãi,

tuy nhiên đa số các nghiên cứu nhận định rằng

tỷ lệ thành công tỷ lệ nghịch với độ tuổi tại thời

điểm can thiệp phẫu thuật(6,15)

Qua bảng 4, cho thấy mối tương quan giữa

tỷ lệ thành công và độ tuổi tại thời điểm can

thiệp đặt ống silicone, nhóm bệnh nhi trên 24

tháng tuổi có 2/8 mắt thành công (25%), trong

khi nhóm tuổi dưới 24 tháng có 20/20 mắt thành công (100%) Nhóm bệnh nhi trên 24 tháng tuổi

có nguy cơ thất bại cao gấp 57 lần so với nhóm dưới 24 tháng Đối chiếu với kết quả của các nghiên cứu khác trên thế giới, nhận thấy công trình của chúng tôi không có sự khác biệt về tỷ

lệ thành công theo độ tuổi Cụ thể: Tác giả Lim

và cộng sự báo cáo kết quả nghiên cứu đạt tỷ lệ thành công 83-100% ở độ tuổi 1- 4 tuổi và 71-75% ở những trẻ trên 4 tuổi(15).Trong nghiên cứu của tác giả Engel và cộng sự tỷ lệ thành công là 97% ở nhóm dưới 24 tháng tuổi, và giảm còn 90% ở độ tuổi lớn trên 24 tháng tuổi(6) Tác giả

Trang 7

Welsh và Katowitz báo cáo tỷ lệ thành công

giảm từ 100% ở nhóm tuổi 6 tháng đến 13 tháng

xuống còn 79,6% ở nhóm trên 2 tuổi(21) Kết quả

này cho thấy can thiệp đặt ống silicone ở độ

càng lớn cho tỷ lệ thành công thấp hơn vì tắc

ống lệ mũi lâu ngày gây viêm nhiễm kéo dài

làm cho ống lệ mũi hẹp lại bởi thâm nhiễm, phù

nề, tiết tố nhầy mủ đọng nhiều trong túi lệ dẫn

đến giãn túi lệ, mất trương lực làm giảm hiệu

quả của bơm nước mắt, một số trường hợp có

biến chứng áp xe vùng túi lệ cũng gây biến đổi

mô tế bào, chèn ép vào đường lệ Các yếu tố

trên làm cho việc điều trị tắc lệ đạo bẩm sinh lâu

ngày trở nên khó khăn và không hiệu quả

Mối tương quan với số lần thông lệ đạo trước

đây

Qua bảng 5, cho thấy số lần thông lệ đạo

trước đó ảnh hưởng đến kết quả của phương

pháp đặt ống silicone Những mắt đã thông lệ

đạo trước đó trên 2 lần có tỷ lệ thất bại là 100%,

trong khi những mắt đã thông lệ đạo trước đó

dưới 2 lần thì tỷ lệ thất bại thấp hơn chiếm 8,3%,

nguy cơ thất bại cao gấp 42 lần Sự khác biệt này

có ý nghĩa thống kê Tương tự kết quả của tác

giả Nguyễn Thành Danh là thành công 100% ở

nhóm can thiệp dưới 2 lần, 66,7% ở nhóm can

thiệp trên 2 lần(18)

Thông lệ đạo là một trong những phương

pháp điều trị tắc lệ đạo bẩm sinh.Tuy nhiên

nếu quá trình thông lệ đạo lập lại nhiều lần sẽ

làm tổn thương gây xơ sẹo hệ thống lệ đạo

làm cho các phương pháp điều trị tiếp theo sẽ

gặp nhiều khó khăn và tỷ lệ thành công thấp

hơn Do đó, những trường hợp đã thông lệ

đạo 2 lần thất bại nên chỉ định đặt ống

silicone theo phác đồ điều trị

Mối tương quan với biến chứng trong thời

gian lưu ống

Các biến chứng có thể gặp trong quá trình

lưu ống silicone bao gồm chảy máu mũi, nhiễm

trùng, rách điểm lệ, loét lệ quản, phản ứng tạo u

hạt, tuột ống

Qua bảng 6, cho thấy biến chứng tuột ống trong thời gian lưu ống không liên quan đến sự thất bại của phương pháp đặt ống silicone Tương tự tác giả Engel (2007) nhận định rằng tuột ống không làm ảnh hưởng sự thành công(6)

Mối tương quan với những yếu tố không thuận lợi và biến chứng trong lúc mổ

Những yếu tố không thuận lợi và biến chứng có thể gặp trong quá trình tiến hành thủ thuật bao gồm thông sai đường, khe mũi dưới hẹp và chảy máu mũi Trong nghiên cứu của chúng tôi có 5 mắt (chiếm tỷ lệ 17,9%) có yếu tố không thuận lợi bao gồm khe mũi dưới rất hẹp, chảy máu trong lúc mổ nhiều, chúng tôi không gặp biến chứng thông sai đường do có nội soi

hỗ trợ

Qua bảng 7, cho thấy các yếu tố không thuận lợi và biến chứng trong lúc mổ có liên quan đến sự thất bại của phương pháp đặt ống silicone Những trường hợp có biến chứng trong lúc tiến hành thủ thuật thì tỷ lệ thất bại 100%, trong khi những trường hợp không có biến chứng thì tỷ lệ thất bại 4,3% Có ý nghĩa thống kê (p <0,05)

Theo tác giả Po-Liang Chen cho rằng tình trạng tắc nghẽn lệ đạo làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và hậu quả của viêm nhiễm dẫn đến xơ sẹo chít hẹp trong lòng lệ đạo, ghi nhận thêm trong quá trình thông lệ đạo để đặt ống silicone, cảm giác que thông đi qua đoạn chít hẹp, khó kéo ống silicone xuống mũi Những điều này được ghi nhận trong những trường hợp thất bại với điều trị(2).Tương tự tác giả Dortzbach đã báo cáo những trường hợp có những yếu tố không thuận lợi trong lúc đặt ống silicone là những trường hợp tắc nghẽn lệ đạo nặng nên tỷ lệ thất bại sẽ cao hơn(3)

Mối tương quan với thời gian lưu ống

Nhiều nghiên cứu của các tác giả đã báo cáo khoảng thời gian lưu ống khác nhau từ 6 tuần đến 15 tháng, tuy nhiên thời gian lưu ống tối ưu vẫn chưa được thống nhất (3, 19) Trong nghiên cứu của tác giả Mariya, tỷ lệ

Trang 8

thành công là 83% khi lưu ống dưới 3 tháng,

cải thiện tỷ lệ thành công là 92,3% khi lưu ống

từ 3-6 tháng, nhưng sau đó tỷ lệ giảm xuống

nếu lưu ống kéo dài, tỷ lệ giảm còn 80% nếu

lưu trên 12 tháng(16) Tương tự, tác giả Lim

(2004) cho kết quả là 95% khi lưu ống dưới 3

tháng và giảm tỷ lệ thành công còn 87% khi

lưu ống 3-5 tháng, nếu lưu ống từ 6- 8 tháng

tỷ lệ thấp hơn là 78%, và lưu ống trên 12

tháng tỷ lệ thành công chỉ còn 67%(15)

Một số tác giả khác cũng ủng hộ quan điểm

không nên lưu ống silicone kéo dài quá lâu, như

tác giả Migliori và Putterman cho rằng chỉ nên

lưu ống trong 6 tuần với kết quả rất khả quan(17)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, mẫu nghiên

cứu là 28, tuổi từ 7 tháng đến 93 tháng, tất cả đã

được thông lệ đạo trước đó và thất bại Qua

bảng 8, cho thấy nhóm lưu ống 3 tháng có 2/24

trường hợp thất bại (8,3%), trong khi đó nhóm

lưu ống trên 3 tháng có 4/4 trường hợp thất bại

(100%) Đặc điểm chung của 4 mắt lưu ống trên

3 tháng là độ tuổi các bệnh nhi được can thiệp

đặt ống silicone là quá trễ (trên 4 tuổi), số lần

can thiệp thông lệ đạo nhiều lần (4 lần), Nghiệm

pháp thuốc nhuộm trước điều trị ở phân độ

nặng (độ 3), có những yếu tố không thuận lợi và

biến chứng trong lúc mổ là khe mũi dưới hẹp,

chảy máu mũi và biến chứng tuột ống trong

thời gian lưu ống Những điều này cho thấy 4

mắt này tắc lệ đạo nặng, phức tạp Theo nghiên

cứu của tác giả Peterson cho thấy việc rút ống

sớm trước 1 tháng không làm tăng nguy cơ thất

bại cho trẻ dưới 24 tháng, nhưng ảnh hưởng

làm giảm tỷ lệ thành công đối với trẻ trên 24

tháng(19) Trong nghiên cứu của tác giả Kominek

không có sự khác biệt về tỷ lệ thành công của

nhóm lưu ống 2 tháng và 5 tháng(12) Điều này

ủng hộ cho quan điểm không nên lưu ống quá

kéo dài vì tỷ lệ thành công không tăng thêm mà

gây kích thích khó chịu cho đối tượng là trẻ em

KẾT LUẬN

Phương pháp đặt ống silicone nối thông lệ

mũi mang lại hiệu quả trong điều trị tắc lệ đạo

bẩm sinh Can thiệp đặt ống silicone sớm sau khi thất bại với phương pháp điều trị bảo tồn và tránh nguy cơ phải can thiệp phẫu thuật tiếp khẩu túi lệ mũi xâm lấn về sau

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aggarwal RK et al (1993), "The role of nasolacrimal intubation in the management of childhood epiphora", Eye

7, pp 760-762

2 Chen PL et al (2004), "The experience with Ritleng Intubation

System in patients with congenital nasolacrimal duct

obstruction", J Chin Med Assoc 67, pp 344-348

3 Dortzbach RK et al (1982), "Silicone intubation for obstruction of the nasolacrimal duct in children", Am J

Ophthalmol 94, pp 585-590

4 Durso F et al (1980), "Silicone intubation in children with nasolacrimal obstruction", Journal Pediatric Ophthalmology

Strabismus, 17, pp 389-393

5 Emmerich KH (2007), "Recent developments in the diagnosis

and management of congenital lacrimal stenosis", Essentials

in Ophthalmology: Oculoplastics and Orbit, Springer, pp

219-228

6 Engel JM et al (2007), "Monocanalicular silastic intubation for

the initial correction of congenital nasolacrimal duct

obstruction", J AAPOS 11, pp 183-186

7 Espinoza GM and Lueder GT (2007), "Outcomes in children with nasolacrimal duct obstruction: significance of persistent

symptoms while stents are in place", J AAPOS 11, pp

187-188

8 Jihyun P et al (2011), "Factors Affecting the Outcome of

Silicone Intubation for Congenital Nasolacrimal Duct

Obstruction", The Korean Ophthalmological Society 52, pp 266-

271

9 Karci B, Yagci A, Ergezen F (2000), "Probing and Bicanalicular silicone tube intubation under nasal endoscopy

in congenital nasolacrimal duct obstruction", Ophthal Plast

Reconstr Surg 16, pp 58-61

10 Katowitz J.A (2002), "Management of Pediatric lower system:

Probing and silastic intubation", Pediatric Oculoplastic Surgery,

Springer

11 Kaufman LM, Guay-Bhatia LA (1998), "Monocanalicular intubation with Monoka tubes for the treatment of congenital

nasolacrimal duct obstruction", Ophthalmology 105, pp

336-341

12 Komínek P, Stanislav C, Petr M (2010), "Does the length of Intubation Affect the Success of Treatment for Congenital

Nasolacrimal Duct Obstruction", Ophthal Plast Reconstr Surg

26, pp 103-105

13 Lê Đỗ Thùy Lan (2008), Dị tật bẩm sinh ở mắt và các phương

pháp điều trị, Vol 1, Nhà Xuất Bản Y học, tr.16-18

14 Lê Minh Thông (2010), "Bệnh học lệ bộ", Nhãn khoa lâm sàng,

Nhà Xuất Bản Y học, tr 350-360

15 Lim CS et al (2004), "Nasolacrimal duct obstruction in children: outcome of intubation", J AAPOS 8, pp 466-472

16 Mariya NM, et al (2012), "Nasolacrimal duct obstruction in children: outcome of primary intubation", JPMA 62, pp

1329-1332

17 Migliori ME, Putterman AM (1988),"Silicone intubation for the treatment of congenital lacrimal duct obstruction:

Trang 9

successful results removing the tubes after six weeks",

Ophthalmology(95), pp 792-795

18 Nguyễn Thành Danh (2012), “Đánh giá hiệu quả thủ thuật

thông lệ đạo kết hợp nội soi mũi trong điều trị tắc lệ đạo bẩm

sinh”, Tạp chí nhãn khoa Việt Nam, tr 24

19 Peterson NJ, Weaver RG, Yeatts RP (2008), "Effect of

short-duration silicone intubation in congenital nasolacrimal duct

obstruction", Ophthal Plast Reconstr Surg 24, pp 167-171

20 Ratliff CD, Meyer DR (1994), "Silicone intubation without

intranasal fixation for treatment of congenital nasolacrimal

duct obstruction", Am J Ophthalmology 118, pp 781-785

21 Welsh MG, Katowitz JA (1989), "Timing of Silastic tubing removal after intubation for congenital nasolacrimal duct

obstruction", Ophthalmic Plastic Reconstructive Surgery, pp

43-48

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/04/2016 Ngày bài báo được đăng: 15/04/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 08:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm