1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phối hợp giảm đau đa mô thức trong phẫu thuật vùng ngực

8 84 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 389,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả giảm đau của phương pháp phối hợp giảm đau đa mô thức trong phẫu thuật vùng ngực. Phương pháp giảm đau với gây tê ngoài màng cứng sử dụng thuốc tê Bupivacaine phối hợp thuốc giảm đau Fentanyl mang lại hiệu quả chắc chắn, giúp bệnh nhân mau hồi phục và bệnh nhân hài lòng hơn. Giảm đau đa phương thức an toàn và hiệu quả cho phẫu thuật vùng ngực.

Trang 1

VÙNG NGỰC 

 Nguyễn Văn Chừng*, Nguyễn Văn Chinh*  

TÓM TẮT 

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả giảm đau của phương pháp phối hợp giảm đau đa mô thức trong 

phẫu thuật vùng ngực. 

Phương  pháp:  Nghiên cứu tiền cứu, can thiệp lâm sàng trên 46 bệnh nhân (BN). Các BN được áp dụng 

phương pháp giảm đau đa phương thức với sự phối hợp các loại thuốc giảm đau, phối hợp thuốc tê và thuốc giảm  đau trong kỹ thuật gây mê kết hợp gây tê ngoài màng cứng để giảm đau liên tục trong và sau phẫu thuật vùng  ngực. Mạch, huyết áp, nhịp thở và tình trạng sức khỏe của BN được theo dõi trước và sau khi tiêm thuốc giảm  đau. Xác định tỷ lệ các tai biến biến chứng trong và sau mổ. 

Kết quả: Thời gian từ tháng 3/2010 đến 3/2014 tại bệnh viện Đại học Y Dược và bệnh viện Quận Thủ Đức 

TPHCM.  Thực  hiện  giảm  đau  trong  và  sau  mổ  cho  46  bệnh  nhân  được  phẫu  thuật  vùng  ngực,  với  thuốc  tê  Bupivacaine 0,1% phối hợp thuốc giảm đau Fentanyl 4 mcg/ml truyền 2‐ 6ml/giờ; theo dõi 72 giờ sau mổ. Tất cả  bệnh nhân đều đáp ứng tốt, bệnh nhân cảm thấy hài lòng, rất ít phản ứng không thuận lợi. Đây là phương pháp  giảm đau hiệu quả, nên áp dụng phương pháp giảm đau này rộng rãi cho người bệnh.  

Kết luận: Phương pháp giảm đau với gây tê ngoài màng cứng sử dụng thuốc tê Bupivacaine phối hợp thuốc 

giảm đau Fentanyl mang lại hiệu quả chắc chắn, giúp bệnh nhân mau hồi phục và bệnh nhân hài lòng hơn. Giảm  đau đa phương thức an toàn và hiệu quả cho phẫu thuật vùng ngực. 

Từ khóa: Đa mô thức, giảm đau, giảm đau ngoài màng cứng, biến chứng sau mổ.  

ABSTRACT 

COMBINED MULTIMODALITY IN PAIN RELIEF FOR THORACIC SURGERY  

Nguyen Van Chung, Nguyen Van Chinh  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 5‐ 2014: 39 ‐ 46 

Objective: To evaluate the effects of combined multimodality in pain relief for thoracic surgery. 

Methods:  Prospective,  clinical  intervention  study  on  46  patients.  All  of  them  have  undergone  combined 

multimodality in pain relief, combined general anesthesia ‐ epidural anesthesia for thoracic surgery. Pulse, blood  presure,  resspiratory  rate  and  health  status  of  the  patients  were  monitored  right  before  and  after  analgesic  injection. Todetermine the proportion of complications during and after the operation. 

Results: From March 2010 to March 2014 at UMC and Thu Duc hospital, HoChiMinh city, 46 Patients 

were  evaluated  with  epidural  analgesia  with  Bupivacaine  0.1%  +  Fentanyl  0.004%,  2‐  6  ml/h.  Patients  were  assessed with pain score and pain score recorded by nurses, vital signs and side effects during the first 72 hours.  All patients achieved good analgesia with pain score low at rest and during cough. However, patients were more  satisfied with epidural analgesia. The side effects were in acceptable range. The application of techniques depends 

on human and equipment resources. 

Conclusions: Epidural analgesia and general anesthesia to provide good analgesia, patient satisfaction and 

recovery. Bupivacaine‐Fentanyl with epidural analgesia provides superior analgesia, reduced opioid requirement.  Combined multimodality in pain relief for thoracic surgery is safe and effective. 

Keywords: Multimodality, pain relief, Epidural analgesia, postoperative complications.  

Trang 2

Đối với các phẫu thuật vùng ngực, thời gian 

mổ kéo dài, trên các đối tượng có các bệnh lý tim 

mạch,  hô  hấp  kèm  theo…  với  nhiều  nguy  cơ 

trong  và  sau  phẫu  thuật,  ngoài  các  vấn  đề  về 

ngoại khoa, đau được ví như một dấu hiệu sinh 

tồn cần phải được quan tâm đúng mức. Những 

trường  hợp  như  vậy,  việc  đặt  một  ống  thông 

nhỏ  (catheter)  vào  khoang  ngoài  màng  cứng 

(NMC)  vừa  là  phương  pháp  vô  cảm  và  giảm 

đau trong mổ, vừa giảm đau sau mổ liên tục rất 

tiện lợi. Đau đớn trong thời gian phẫu thuật và 

sau  phẫu  thuật,  nhất  là  phẫu  thuật  vùng  ngực 

rất dữ dội, gây cho bệnh nhân nhiều hệ lụy; nên 

giảm  bớt  đau  trong  và  sau  mổ  luôn  là  vấn  đề 

quan trong mà người làm công tác Gây Mê Hồi 

Sức luôn tìm cách can thiệp; chúng tôi thực hiện 

nghiên  cứu  tiền  cứu,  can  thiệp  lâm  sàng  trên 

những bệnh nhân phẫu thuật chương trình can 

thiệp vùng ngực. Sau khi được tư vấn, giới thiệu 

về những phương pháp giảm đau trong và sau 

mổ,  bệnh  nhân  đồng  ý  tham  gia  vào  nhóm 

nghiên cứu sẽ được thực hiện gây tê ngoài màng 

cứng để giảm đau. 

Phương  pháp  giảm  đau  đa  mô  thức  với 

thuốc  tê  và  thuốc  giảm  đau  trung  ương  nhóm 

morphinique,  giảm  thời  gian  chăm  sóc  BN  của 

điều dưỡng, nhất là các phẫu thuật lớn. Phương 

pháp  giảm  đau  này  áp  dụng  rộng  rãi  ở  nhiều 

nước  trên  thế  giới,  nhưng  tại  Việt  Nam  hiện 

chưa  được  chú  ý  nhiều(9) và  chưa  có  nhiều 

nghiên cứu về phương pháp giảm đau NMC. Vì 

vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với mục 

tiêu là đánh giá hiệu quả của phương pháp giảm 

đau đường NMC cho phẫu thuật vùng ngực. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với mục 

tiêu: 

‐ Đánh  giá  hiệu  quả  của  phương  pháp 

giảm đau đa phương thức trong và sau 

phẫu thuật vùng ngực. 

‐ Phân tích những thuận lợi, khó khăn và 

tác  dụng  không  mong  muốn  của  của 

phương  pháp  giảm  đau  đa  phương  thức. 

‐ Đánh giá các tai biến, biến chứng và xác  định  tỉ  lệ  an  toàn  của  phương  pháp  giảm  đau  đa  phương  thức  trong  phẫu  thuật vùng ngực. 

 ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Thiết kế nghiên cứu 

Nghiên cứu tiền cứu, thử nghiệm lâm sàng. 

Đối tượng nghiên cứu 

Những  BN  có  chỉ  định  phẫu  thuật  vùng  ngực tại bệnh viện Đại học Y Dược và Bệnh viện  Quận  Thủ  Đức  TP  Hồ  Chí  Minh,  thời  gian  từ  03/2010 đến 03/2014. 

Kỹ thuật chọn mẫu 

Tiêu chuẩn nhận 

ASA  I,  II,  III.  Không  có  chống  chỉ  định  gây 

mê  tổng  quát,  GTNMC  và  có  chỉ  định  phẫu 

thuật vùng ngực. 

Tiêu chuẩn loại 

BN  đang  nhiễm  trùng  toàn  thân,  tình  trạng  sốc, hay thiếu khối lượng tuần hoàn. 

Không thực hiện chọc dò NMC được.  

Có chống chỉ định GTNMC. 

BN không giao tiếp được. 

Phương tiện và trang thiết bị  Phương  tiện  theo  dõi  và  hồi  sức:  nguồn  dưỡng khí, ống nghe tim phổi, máy đo HA động  mạch,  nhiệt  độ,  kim  luồn  20G,  18G…  máy  monitor theo dõi. Dụng cụ gây mê tổng quát và  GTNMC: bộ đặt nội khí quản, bộ GTNMC, hộp  đựng  dụng  cụ  gây  tê  đã  vô  khuẩn,  bơm  tiêm  điện  liên tục, găng tay  vô trùng.  Thuốc  và dịch  truyền: Lidocaine 2% 2ml, Bupivacain (Marcain)  0,5%,  20ml,  Fentanyl  100  mcg  (2ml).  Thuốc  sát 

trùng, cấp cứu, dịch truyền… 

Phương thức tiến hành 

Chọn bệnh theo yêu cầu tiêu chuẩn nhận và  tiêu chuẩn loại. Thăm khám, giải thích và chuẩn 

bị BN như một cuộc gây mê bình thường: thăm  khám tiền mê, đặc biệt vùng lưng, cột sống, các 

Trang 3

thường qui, các yếu tố đông máu, điện tâm đồ…  

Phương pháp vô cảm 

Đặt  đường  truyền  tĩnh  mạch  ngoại  biên 

bằng  kim  luồn  20G  hay  18G,  dung  dịch  NaCl 

0,9%  hay  Lactate  Ringer.  Gắn  monitor  theo  dõi 

sinh hiệu, cho BN thở oxy 2‐3 lít/ phút.  

Tiền mê: Midazolam, Fentanyl.  

Khởi mê: Thuốc mê tĩnh mạch Propofol, dãn 

cơ Rocuronium. 

Đặt nội khí quản; hô hấp kiểm soát với máy 

thở Omeda. 

Duy  trì:  Thuốc  mê  hô  hấp  Isoflurane  hay 

Sevoflurane. 

Kiểm báo đa mô thức: mạch, điện tim, huyết 

áp, độ bão hòa SpO2.  

Thực hiện phương pháp GTNMC 

Đặt BN nằm nghiêng tư thế cong lưng tôm. 

Mốc  chọc  dò  GTNMC  và  luồn  catheter  là 

khoảng  liên đốt  sống  T7  –  T8.  Người  thực hiện 

rửa  tay,  mang  găng,  sát  trùng  vùng  chọc  bằng 

Betadin, trải khăn lỗ.  

Tê tại chỗ ngực T7 – T8 với Lidocaine 2% 2ml 

hay Marcain 0,5% 1ml (5mg). GTNMC ở T7 – T8, 

xác định khoang NMC bằng phương pháp mất 

sức cản. Luồn catheter vào khoang NMC hướng 

lên phía đầu khoảng 3cm, tối đa 5cm. 

Bơm  liều  test  Lidocaine  2%  2ml  có 

Adrenaline 1/400.000.  

Cố  định  catheter  bằng  băng  keo  trong,  cho 

BN nằm ngữa và bắt đầu chuẩn bị phẫu thuật. 

Trước rạch da: bơm liều bolus 10ml Lidocain 

1% chia làm 2 lần, bơm chậm ngoài màng cứng 

cách nhau mỗi 5 phút. 

Trong khi mổ, chúng tôi duy trì liên tục giảm 

đau  ngoài  màng  cứng  với  dung  dịch  gồm: 

Bupivacain 0,1% + Fentanyl 4 mcg/ml bằng dụng 

cụ bơm tiêm điện với vận tốc 2‐6 ml/giờ liên tục 

trong  72  giờ,  kết  hợp  với  nhóm  thuốc  AINS  (2 

lần/ngày) và Paracetamol 1g x 3 lần/ngày. Sau 72 

giờ,  rút  catheter  ngoài  màng  cứng  và  tiếp  tục 

duy trì 2 nhóm thuốc còn lại cho đến khi BN hết 

đau. Đồng thời, những ngày sau mổ cho BN vừa  tập  vật  lý  trị  liệu  vừa  kết  hợp  cho  BN  chườm  lạnh 20 phút/1 lần x 6 lần/ ngày.  

Sau  mổ,  ghi  nhận  sinh  hiệu,  điểm  an  thần,  mức độ đau, điểm vận động, và các dấu hiệu tác  dụng phụ như buồn nôn, nôn, run, ngứa hoặc bí  tiểu vào các thời điểm sau mổ: 0 – 2 – 4 – 6 – 12 – 

18 – 24 (giờ). Ngoài các thời điểm trên, bất cứ khi  nào bệnh nhân có các diễn biến bất thường đều  được ghi nhận và xử trí.  

Khi  kết  thúc  cuộc  mổ,  bệnh  nhân  được  rút  ống nội khí quản. 

Đánh giá kết quả 

Ghi  nhận  những  khó  khăn,  thuận  lợi  của  phương pháp GTNMC giảm đau trong và sau 

mổ. 

Đánh giá tỉ lệ % của các yếu tố cần khảo sát  theo mẫu nghiên cứu. 

Đánh  giá  tính  hiệu  quả,  tính  an  toàn  của  GTNMC trong và sau mổ. 

Đánh giá mức độ mất cảm giác, thang điểm  đau (VAS), hiệu quả trong cuộc mổ… theo phiếu  thu thập số liệu. 

Thang  điểm  đau  (VAS  =  Visual  Analog  Scale). 

 

Mức  A:  từ  8  đến  10  điểm  đau  (đau  nhiều  nhất). 

Mức B: từ 5 đến nhỏ hơn 8 điểm.  

Mức C: từ 3 đến nhỏ hơn 5 điểm. 

Mức D: từ 1đến nhỏ hơn 3 điểm.  

Mức E: từ 0 đến nhỏ hơn 1 điểm (không đau  hoàn toàn). 

  Tiêu chuẩn đánh giá giảm đau sau mổ  Giảm  đau  tốt:  tương  ứng  mức  độ  0  ‐  2  (VAS).  

Giảm đau trung bình: tương ứng mức độ 

3 ‐ 4 (VAS).  

Trang 4

Đánh  giá  phong  bế  vận  động:  đánh  giá  theo 

thang điểm Bromage 

Độ  IV:  cử  động  các  khớp  háng,  gối  và  bàn 

chân bình thường. 

Độ  III:  không  thể  nhấc  cẳng  chân  lên,  cử 

động được khớp gối và bàn chân. 

Độ II: không gấp được khớp gối, chỉ cử động 

được bàn chân. 

Độ  I:  không  thể  cử  động  được  các  khớp 

háng, gối và bàn chân. 

Phát hiện và xử trí những rối loạn khi cần 

Ghi nhận các tác dụng ngoại ý, các tai biến 

Về hô hấp 

Thở bình thường, tấn số thở > 10 lần/phút. 

Thở ngáy, tần số thở > 10 lần/phút. 

Thở không đều, nông, tắc nghẽn, co kéo hoặc 

tần số thở < 10 lần/phút. 

Thở ngắt quãng hoặc ngừng thở. 

Các TH 3 và 4 hoặc tần số thở <10 lần/phút: 

ngừng thuốc, thở oxy, theo dõi sát. 

Về tuần hoàn 

Theo  dõi  M,  HA,  tụt  HA  nếu  HA  tối  đa 

<90mmHg hoặc giảm 20‐30% trị số HA ban đầu 

(loại trừ tụt HA do các nguyên nhân khác) 

Nôn và buồn nôn 

Không nôn hoặc buồn nôn. 

Nôn  và  buồn  nôn  xuất  hiện  thoáng  qua, 

không cần điều trị. 

Nôn  và  buồn  nôn  cần  phải  điều  trị  nhưng 

đáp ứng với điều trị. 

Nôn và buồn nôn không đáp ứng điều trị. 

Rối loạn bàng quang 

Tiểu bình thường. 

Phải chườm nóng mới tiểu được. 

Phải đặt thông tiểu. 

Các tác dụng ngoại ý khác 

Dị ứng: ngứa, nổi mẩn. 

Đau đầu, đau lưng: thời gian xuất hiện, kéo 

dài, kết thúc. 

Lạnh run. 

Thu thập và xử lý số liệu 

Tất  cả  các  số  liệu  đều  được  ghi  lại  trong  phiếu theo dõi nghiên cứu và nhập vào máy vi  tính.  

Quản  lý  và  xử  lý  tất  cả  các  số  liệu  theo  chương trình SPSS 13.0.  

KẾT QUẢ 

Từ tháng 3/2010 đến tháng 3/2014, tại bệnh  viện  Đại  học  Y  Dược  và  bệnh  viện  Quận  Thủ  Đức  TP.  Hồ  Chí  Minh,  chúng  tôi  thực  hiện  phẫu thuật vùng ngực trên 46 BN với phương  pháp  vô  cảm  gây  tê  ngoài  màng  cứng  với  thuốc tê Bupivacaine phối hợp thuốc giảm đau  Fentanyl  kết  hợp  gây  mê  toàn  thể  trong  thời  gian  phẫu  thuật;  với  phương  pháp  gây  tê  ngoài  màng  cứng  được  duy  trì  để  giảm  đau  sau mổ thời gian 72 giờ. 

Bảng 1. Đặc điểm chung (số BN (%)) 

Giới: (%) 12 (26,1) 34 (73,9) 46 Cân nặng (kg ) 45,3 ± 11,8 45,2 ± 9,0 Chiều cao (cm) 159,8 ± 8,0 159,1 ± 6,4 ASA I (%) 6 (13,1) 18 (39,1) 24

II (%) 4 (8,7) 12 (26,1) 16 III (%) 2 (4,3) 4 (8,7) 6

 

BN 8 (17,4) 4 (8,7) 14 (30,4) 8 (17,4) 12 (26,1)

Bảng 2: Bệnh lý cần phẫu thuật: số BN (%) 

Bướu vú 1 (2,2) 19 (41,3) 20

U phổi 6 (13,1) 4 (8,7) 10

U thực quản 5 (10,9) 0 5

U trung thất 9 (19,6) 2 (4,3) 11 Sau  mổ  bệnh  nhân  được  giảm  đau  với  truyền  dung  dịch  giảm  đau  vào  khoang  NMC.  Trong  24  giờ  đầu,  không  có  bệnh  nhân  nào  có  nhịp thở < 10 lần/ phút, không có bệnh nhân nào 

có  SpO2  <  95%.  Huyết  động  ổn  định,  không  có  bệnh nhân nào có mạch chậm hoặc bị tụt huyết 

áp. Mức độ an thần của BN luôn ở mức 0, 1 và 2:  nghĩa là không có BN nào có tình trạng ngủ sâu,  khó đánh thức.  

Trang 5

nghiên  cứu  đều  được  đặt  ống  thông  tiểu  trong 

24 giờ sau mổ nên chúng tôi không đánh giá tác 

dụng phụ gây bí tiểu của thuốc giảm đau. 

Bảng 3. Tác dụng không mong muốn. 

Bệnh  nhân đánh  giá  tốt  phương  pháp  giảm  đau qua đường NMC với điểm đau trung bình  gần với mức độ tốt. Hầu hết BN đánh giá tốt với  phương  pháp  điều  trị  đau  cho  họ  và  không  có 

BN nào không hài lòng với phương pháp giảm  đau đa mô thức này. 

 

Bảng 4.Thay đổi sinh hiệu của bệnh nhân 

Trước gây tê 83,9  7,4 112,2  9,6 72,3  9,5 20,3  2,4 Sau gây tê 89,2  9,4 104,7  5,9 64,7  8,7 21,4  2,0 Trong mổ 90,4  8,8 103,9  8,6 66,4  6,5 19,7  2,2 Sau mổ 88,9  9,8 111,5  8,3 64,1  6,3 21,4  2,3

Sinh  hiệu  của  BN  ít  thay  đổi  trong  và  sau 

phẫu thuật.  

BÀN LUẬN 

Phẫu thuật vùng ngực là phẫu thuật gây đau 

đớn  nhiều  nhất  bởi  vì  ngoài  đặc  tính  đau  do 

phản  ứng  viêm,  do  tổn  thương  cấu  trúc  giải 

phẫu gây ra, thêm vào đó, khi thở lồng ngực di 

động, mà bệnh nhân phải luôn luôn thở nên gây 

đau  đớn  nhiều  hơn,  vai  trò  của  vật  lý  trị  liệu 

trước mổ giúp người bệnh thở bụng, cơ hoành di 

chuyển nhiều, trong khi đó lồng ngực ít di động 

sẽ ít gây đau, nhưng muốn có hiệu quả do động 

tác  thở  bụng  hay  thở  ngực  để  vùng  ngực  hay 

vùng  bụng  ít  di  động  cần  phải  tập  cho  bệnh 

nhân quen thở ngực hay thở bụng từ trước khi 

phẫu thuật. 

Gây  tê  ngoài  màng  cứng  là  một  phương 

pháp  gây  tê  vùng,  bằng  cách  đưa  một  lượng 

thuốc tê thích hợp vào khoang ngoài màng cứng 

(NMC),  thuốc  tê  sẽ  tác  dụng  vào  rễ  thần  kinh, 

tạo  ra  tình  trạng  giảm  đau  hoàn  hảo  nhất; 

khoang  NMC  bắt  đầu  từ  lỗ  chẩm  đến  khoang 

cùng  cụt,  vì  vậy  phương  pháp  GTNMC  có  thể 

thực hiện để giảm đau cho hầu hết những vùng 

da của thân thể; với những tính chất căn bản của 

nó,  và  sử  dụng  nồng  độ  thích  hợp,  thuốc  tê  sẽ 

ngăn chặn hầu hết cảm giác từ ngoài vào, kể cả 

sự vận động của những sợi thần kinh, vì vậy nên 

phương  pháp  giảm  đau  với  dùng  thuốc  tê  để  gây tê những sợi thần kinh này là cho hiệu quả  chắc chắn nhất, với tính chất ngăn cản cảm giác  hơn  là  làm  liệt  vận  động  của  thuốc  tê  Bupivacaine,  vì  những  lý  do  trên  việc  sử  dụng  thuốc này để giảm đau mang tính thuyết phục,  trong khi muốn là liệt vận động, tức muốn làm  cho  cơ  mềm  nên  dùng  thuốc  tê  Bupivacaine  nồng độ cao hơn, hoặc dùng thuốc tê Lidocaine 

sẽ có tác dụng làm mềm cơ;  

Qua  nghiên  cứu  bước  đầu  46  bệnh  nhân,  thực  hiện  giảm  đau  trong  và  sau  phẫu  thuật  vùng ngực với truyền liên tục hỗn hợp thuốc tê  Bupivacaine phối hợp thuốc giảm đau Fentanyl  cho hiệu quả tốt: huyết động ổn định, chỉ số hô  hấp  ít  dao  động,  mức  độ  giảm  đau  tốt;  tất  cả  bệnh  nhân  đều  hài  lòng  về  phương  pháp  giảm  đau  mà  họ  được  áp  dụng,  không  có  những  tác  dụng  không  mong  muốn  trầm  trọng  như  ngộ  độc  thuốc  tê  do  chích  thuốc  tê  vào  mạch  máu,  hay gây tê tủy sống toàn thể do làm thủng màng  cứng,  để  hạn  chế  những  tai  biến  này  cần  phải  tuân  thủ  chặt  chẽ  những  quy  định  về  gây  tê  ngoài  màng  cứng,  phải  thử  để  xác  định  không  chích thuốc tê vào mạch máu hay bơm thuốc tê  vào  khoang  dưới  màng  nhện(6,13);  hay  tụ  máu  ngoài  màng  cứng  là  những  tai  biến  nặng  cần  quan  tâm  đề  phòng  và  có  những  biện  pháp  đề  phòng và xử trí thích hợp và hiệu quả.  

Trang 6

Trong  thời  gian  đầu  sau  mổ:  thầy  thuốc  và 

BN  thường  quan  tâm  nhiều  nhất  đến  đau  sau 

phẫu thuật lồng ngực và phẫu thuật vùng bụng 

trên. Vì vậy sau mổ ở những vùng này gây ảnh 

hưởng nhiều đến các cơ quan, ảnh hưởng trong 

toàn cơ thể, nhất là hệ hô hấp cũng như hệ thần 

kinh – nội tiết vì có ảnh hưởng quan trọng đến 

toàn bộ hoạt động của cơ thể.  

Mức độ đau khi hít sâu – ho là tiêu chí đánh 

giá chính khi điều trị đau sau mổ cho bệnh nhân. 

Vì bệnh nhân cần phải tập vật lý trị liệu nhất là 

tập thở và ho để cải thiện chức năng hô hấp sau 

mổ.  Đặc  biệt  với  mức  độ  đau  khi  hít  sâu  –  ho 

dưới mức đau vừa, BN có thể tự tập các động tác 

vận động mà không cần người giúp đỡ, chỉ cần 

thường xuyên nhắc nhở, khuyến khích BN. Các 

nghiên cứu đều cho thấy khi BN vận động sớm 

sẽ  hồi  phục  sớm,  nhu  động  ruột  có  lại  nhanh, 

tránh được các biến chứng hậu phẫu như viêm 

phổi, xẹp phổi, viêm tắc tĩnh mạch, loét  Ngoài 

việc nhắc nhở BN tập, nhân viên y tế còn khuyên 

nhủ BN rằng việc tập thở, vận động không ảnh 

hưởng  đến  vết  mổ  còn  giúp  ích  cho  quá  trình 

lành  vết  thương  nữa.  Vì  mặc  dù  đã  được  giải 

thích trước mổ nhưng đa số BN lo lắng rằng sự 

vận động sẽ làm cho vết thương không dính vào 

với nhau được và có thể làm bung chỉ vết mổ.  

Trong điều trị đau cổ điển, khi đau BN được 

cho thuốc qua đường tiêm bắp gây đau đớn cho 

bệnh nhân, thời gian tiềm phục chậm, thời gian 

thuốc  tác  dụng  thay  đổi  từng  bệnh  nhân,  theo 

thuốc  trong  máu.  Albright(1)  nhận  thấy  ở  trên 

cùng  một  bệnh  nhân  khi  cho  Meperidine  tiêm 

bắp nhiều lần, nồng độ đỉnh của thuốc thay đổi 

gấp  2  lần  và  thời  gian  đạt  được  nồng  độ  đích 

thay đổi gấp 3 lần. Cũng trong nghiên cứu này 

tác giả nhận thấy giữa các BN nồng độ đỉnh có 

thể thay đổi gấp 5 lần và thời gian tiềm phục có 

thể  khác  nhau  gấp  7  lần.  Cùng  với  những  lần 

tiêm thuốc này, nồng độ thuốc tối thiểu đạt hiệu 

quả  giảm  đau  dao  động  khoảng  35%  khi  tiêm 

thuốc ngắt quảng mỗi 4 giờ.  

Phương  pháp  giảm  đau  đa  mô  thức  được 

hình thành dựa trên giả thuyết tồn tại một vòng 

phản hồi âm tính. 

Khi  cảm  thấy  đau,  BN  sẽ  cần  thuốc  giảm  đau. 

Khi  đau  giảm  xuống  BN  sẽ  không  còn  nhu  cầu nữa.  

Vòng  phản  hồi  này  bị  phá  vỡ  và  gây  nguy  hiểm nếu điều dưỡng và thân nhân BN tham gia  vào  việc  đưa  thuốc  vào  người  BN.  Tương  tự,  nguyên tắc điều trị này có thể đưa lại những tác  dụng không mong muốn khi BN quyết định đưa  nhiều thuốc vào người do những khó chịu khác  không phải đau. Phương pháp này có thể dùng  bằng nhiều cách khác nhau như bơm thuốc từng  lúc, từng liều vào khoang NMC, hay người bệnh 

tự điều khiển ; tất cả đều dựa trên một nguyên  tắc là theo nhu cầu giảm đau cho BN(3,11). 

Tác  giả  Trần  Ngọc  Mỹ,  Nguyễn  Văn  Chừng(13), nhóm 1 giảm đau trong và sau mổ với  gây  tê  ngoài  màng  cứng  kết  hợp  thuốc  tê  Bupivacaine 0,17% và Fetanyl 15 mcg/ml; nhóm 

2  sử  dụng  phương  pháp  BNTKSĐ  qua  đường 

TM với Morphine 1 mg/ ml, bolus 1 ml, thời gian  khóa 6 phút, tốc độ truyền cơ bản = 0 cho mức 

độ  đau  khi  nghỉ  trong  24  giờ  đầu  khi  nghỉ  là  3,61, BN có mức độ đau ở dưới mức trung bình 

và gần với cảm giác đau nhẹ. 

Theo  Robert  B(12)  nghiên  cứu  điều  trị  giảm  đau sau phẫu thuật mổ cắt đại tràng, một nhóm 

sử dụng Morphine có mức độ đau khá cao > 50%  trên  thang  độ  VAS.  Một  nhóm  dùng  Ropivacaine 0,2% – Fentanyl 2mcg/ml với tốc độ  truyền  cơ  bản  là  4  ml/giờ,  bolus  2  ml/  lần,  thời  gian khóa 15 phút; nhóm này có mức độ đau khi 

ho rất tốt luôn ở mức đau ít.  

Nếu như BN có đủ điều kiện để thực hiện cả 

2 phương pháp điều trị đau, không có chống chỉ  định  gây  tê  NMC  và  đồng  ý  áp  dụng  phương  pháp  giảm  đau  nào  cũng  được.  Phương  pháp  gây tê NMC và gây mê toàn diện kết hợp được  chọn  trong  việc  áp  dụng  vô  cảm  cho  BN.  Phương  pháp  vô  cảm  cân  bằng  này  mang  lại  nhiều lợi ích cho BN trong cả trong và sau mổ,  nhất là chất lượng giảm đau sau mổ(2,3,5). Lượng 

Trang 7

thuốc  giảm  đau  họ  morphine  cũng  giảm  nhiều 

khi dùng thuốc đường NMC. 

Tác  giả  Francois  JS,  Jean‐Marie  AG(3) thực 

hiện giảm đau sau phẫu thuật khớp háng nhận 

thấy  những  bệnh  nhân  sử  dụng  phương  pháp 

giảm  đau  ngoài  màng  cứng  với  hiệu  quả  giảm 

đau  tốt  hơn  và  bệnh  nhân  hài  lòng  cao  hơn 

những bệnh nhân dùng phương pháp giảm đau 

qua  đường  tĩnh  mạch,  bệnh  nhân  tham  gia  tập 

vật  lý  trị  liệu  sau  mổ  tích  cực  hơn  nên  tránh 

được hầu hết những tai biến do nằm lâu, ít vận 

động  đối  với  người  lớn  tuổi,  như  loét  da,  viêm 

phổi,  viêm  nhiễm  đường  tiết  niệu  và  nhất  là 

viêm tắc do huyết khối. 

Thay đổi sinh hiệu bệnh nhân, chúng tôi cho 

thấy các chỉ số về mạch, huyết áp, nhịp thở ở các 

thời điểm trước gây tê, sau gây tê, trong lúc mổ, 

sau mổ đều khác nhau không có ý nghĩa về mặt 

thống kê với p> 0,05. Đây cũng là ưu điểm của 

phương pháp gây tê tủy sống kết hợp GTNMC 

vì giảm được liều thuốc tê vào khoang tuỷ sống 

và  cả  khoang  ngoài  màng  cứng(7,8).Tuy  nhiên 

trong  nhóm  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  hầu  hết 

không  có  dấu  hiệu mất máu  đến  mức  cần  phải 

truyền  máu.  Hơn  nữa,  chúng  tôi  sử  dụng  liều 

thuốc  Bupivacaine  và  Fentanyl  thấp  nên  hầu 

như  không  ảnh  hưởng  đến  huyết  động  học, 

lượng  dung  dịch  tinh  thể  chúng  tôi  truyền  cho 

bệnh  nhân  chỉ  là  đủ  nhu  cầu  sinh  lý  bình 

thường.  Triển  khai  phương  pháp  giảm  đau  đa 

mô  thức  ở  khoa  phòng  điều  trị  là  một  vấn  đề 

được bàn luận nhiều(9,14). Qua khảo sát, người ta 

thấy  việc  điều  trị  đau  được  thực  hiện  ở  phòng 

săn sóc đặc biệt, phòng hồi tỉnh sau mổ, phòng 

theo  dõi  sát  ở  tại  khoa  phòng  và  thậm  chí  ở  cả 

phòng bệnh bình thường. Điều này đặt ra nhiều 

vấn  đề  tranh  cãi  và  cũng  là  một  trong  những 

khuyết  điểm  của  phương  pháp  bệnh  nhân  tự 

kiểm  soát  đau  (BNTKSĐ).  Phương  pháp 

BNTKSĐ  rất  cần  được  theo  dõi  sát  trong  trong 

quá  trình  điều  trị  đau  cho  BN;  mặt  khác,  máy 

móc  sử  dụng  để  thực  hiện  phương  pháp 

BNTKSĐ  cũng  gây  một  số  cản  trở  khiến  BN 

không thể tập vận động nhiều hơn như đứng, đi 

lại, vận động và những vấn đề khác như vệ sinh 

cá nhân, ăn uống(4).  Khác với bệnh viện Đại học Y Dược, tại bệnh  viện  Quận  Thủ  Đức  đã  thực  hiện  những  phẫu  thuật vùng ngực, nhưng mới bước đầu thực hiện  loại phẫu thuật không đơn giản này nên chưa có  nhiều  kinh  nghiệm  và  chưa  được  thực  hiện  thường  xuyên;  về  phương  diện  vô  cảm  giảm  đau  trong  và  sau  phẫu  thuật,  sử  dụng  thuốc  tê  phối  hợp  thuốc  giảm  đau  trung  ương  đường  ngoài  màng  cứng  do  mới  thực  hiện  phương  pháp  giảm  đau  NMC,  nên  còn  hạn  chế  về  việc  theo  dõi  BN  cũng  như  việc  huấn  luyện  nhân  viên y tế trong việc theo dõi, chăm sóc BN, nên  chúng tôi mới chỉ thực hiện phương pháp giảm  đau này trước khi bắt đầu mổ và kéo dài trong  một thời gian ngắn sau mổ, trong thời gian tới sẽ  thường xuyên sử dụng phương pháp giảm đau 

có nhiều ưu điểm này để BN được hưởng những  tính  chất  ưu  việt  của  sự  tiến  bộ  của  khoa  học  giảm đau. BN được theo dõi chặt chẽ 24 giờ sau  khi  rút  bỏ  catheter  NMC,  và  được  săn  sóc  theo  chế độ thường quy cho đến khi xuất viện(10).  

KẾT LUẬN 

Qua  nghiên  cứu  46  bệnh  nhân  sau  phẫu  thuật vùng ngực, với phương pháp giảm đau đa 

mô thức: phối hợp các kỹ thuật vô cảm gây mê  toàn diện và GTNMC, phối hợp các loại thuốc tê 

và  thuốc  giảm  đau  trung  ương  trong  thời  gian  phẫu thuật, cùng với việc giảm đau bằng chườm  lạnh  sau  mổ  tại  Đại  học  Y  Dược  và  bệnh  viện  Quận Thủ Đức. Kết quả cho thấy đây là phương  pháp  an  toàn,  hiệu  quả  và  không  có  những  tai  biến, biến chứng quan trọng. Hơn nữa, hiệu quả  giảm đau liên tục trong và sau mổ của phương  pháp  giảm  đau  đa  mô  thức  giúp  cho  BN  vận  động sớm sau mổ, thực hiện tốt các bài tập vật lý  trị liệu, rút ngắn thời gian nằm viện và hạn chế  các tai biến về hô hấp, tuần hoàn ở BN lớn tuổi,  nhiều bệnh kèm theo.  

Do đó, phương pháp này nên được áp dụng  rộng  rãi  cho  các  bệnh  viện  có  phẫu  thuật  vùng  ngực.  

Trang 8

pháp  này,  phải  chuẩn  bị  đầy  đủ  nhân  lực  và 

trang thiết bị, nhất là phải có quy trình và phác 

đồ thống nhất với các bộ phận liên quan. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Albright  GA.  (1979),  “Cardiac  arrest  following  regional 

anesthesia  with  etidocaine  or  bupivacaine.ʺ.Anesthesiology, 

51: 285 – 287; 

2 Chazalon  P.,  Tourtier  JP.,  Giraud  D.,  Saissy  JM.  (2003), 

“Ropivacaine‐induced  cardiac  arrest  after  periperal  nerve 

block:  Successfully  resuscitationʺ.  Anesthesiology.  99:  1449  ‐ 

1451;  

3 Francois  JS,  Jean‐Marie  AG  (1999),  “Postoperative  analgesia 

after  total  hip  arthroplasty:  IV  PCA  with  morphine,  patient‐

controlled epidural analgesia, or continuos “3‐in‐1” block?: A 

prospective evaluation by our acute pain service in more than 

1,300 patients”. Journal of clinical anesthesia, 11: p 550‐554;  

4 Graf  BM.,  Abraham  I.,  Martin  E.  (2002),  “Differences  in 

cardiotoxicity  of  Bupivacaine  and  Ropivacaine  are  the  result 

of  physicochemical  and  stereoelective  propertiesʺ. 

Anesthesiology. 96 : 1427 ‐ 1434;  

5 Marco  B.,  et  al.  (2000)  “0,2%  ropivacaine  with  or  without 

fentanyl for patient‐controlled epidural analgesia after major 

abdominal  surgery:  A  double‐blind  study”.  Journal of clinical 

anesthesia, 12: pp 292‐297;  

6 Nguyễn Văn Chừng, Bùi Ngọc Uyên Chi, Phan Tôn Ngọc Vũ, 

Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Hồng Vân, (2007), ʺSo sánh 

hiệu  quả  phương  pháp  bệnh  nhân  tự  kiểm  soát  đau  với 

Bupivacaine‐Fentanyl đường ngoài màng cứng và Morphine 

đường  tĩnh  mạch  sau  phẫu  thuật  lớn  vùng  bụngʺ,  Y  Học 

Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 11 (1)tr. 01 – 09;  

7 Nguyễn  Văn  Chừng  (2011),  ʺNhững  thuốc  thường  dùng 

trong Gây mê Hồi sứcʺ, Trong Gây Mê Hồi Sức Căn Bản. Nhà 

xuất bản Y Học, Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 259 –  289;  

8 Nguyễn  Văn  Chừng,  Lê  Văn  Chung  (2008),  “Gây  tê  ngoài  màng  cứng  và  gây  tê  tủy  sống  phối  hợp  trong  phẫu  thuật 

chỉnh hình chi dưới”. Y học TP Hồ Chí Minh, tập 12 (1), tr. 78 ‐ 

83. 

9 Nguyễn  Văn  Chừng,  Nguyễn  Thị  Phương  Dung  (2010). 

“Đánh giá hiệu quả của gây tê tủy sống kết hợp gây tê ngoài 

màng cứng trong phẫu thuật chi dưới”. Y học TP Hồ Chí Minh, 

tập 14 (1), tr. 211 ‐ 216. 

10 Nguyễn  Thị  Ngọc  Đào,  Võ  Thị  Nhật  Khuyên,  Nguyễn  Văn  Chừng, Nguyễn Anh Tuấn, (2007), ʺTai biến, biến chứng sau  gây  tê  thần  kinh  trung  ươngʺ,  Y  Học  Thành  phố  Hồ  Chí  Minh, Tập 15 (1)tr. 319 – 326. 

11 Phan  Thị  Hồ  Hải,  Lê  Quốc  Hải,  (2005),  ʺGây  tê  ngoài  màng  cứng liên tục trên bệnh nhân ung thư vú có bệnh COPDʺ, Y  Học Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 9 (1)tr. 111 – 113. 

12 Robert BS, et al. (2002), “Comparison of ropivacaine‐fentanyl  patient‐controlled  epidural  analgesia  with  morphine  intravenous  patient‐controlled  analgesia  and  recovery  after 

open  colon  surgery”.  Journal of clinical anesthesia,  14:  pp  571‐

577. 

13 Trần  Ngọc  Mỹ.  Nguyễn  Văn  Chừng.  (2007),  ʺHiệu  quả  của  gây tê ngoài màng cứng bằng Bupivacaine và Fentanyl trong  phẫu thuật lồng ngựcʺ, Y Học Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 

11 (1)tr. 57 – 62. 

14 Weinberg G, Ripper R, Hoffman W. (2003), “Lipid emulsion  infusion  rescues  dogs  from  bupivacaine  –  induced  cardiac  toxicity.ʺ. Reg Anesth Pain Med, 28: 198 – 202.  

 

Ngày nhận bài báo:        18/8/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:    29/9/2014  Ngày bài báo được đăng:  20/10/2014  

  

 

Ngày đăng: 15/01/2020, 08:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w