1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Điều trị đau lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng với kỹ thuật kéo nắn cột sống bằng tay và kéo nắn bằng máy tại Bệnh viện Thống Nhất

9 124 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 399,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày khảo sát mức độ giảm đau vùng thắt lưng bằng kỹ thuật kéo nắn cột sống thắt lưng bằng tay so với kỹ thuật bằng máy Tru-Trac Traction Unit trên những bệnh nhân đau lưng tại bệnh viện Thống Nhất.

Trang 1

ĐIỀU TRỊ ĐAU LƯNG DO THOÁI HÓA CỘT SỐNG THẮT LƯNG VỚI KỸ THUẬT KÉO NẮN CỘT SỐNG BẰNG TAY VÀ KÉO NẮN

BẰNG MÁY TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

Nguyễn Thị Lam*, Lê Thị Gấm*, Lê Sỹ Sâm**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Đau lưng là dấu hiệu phổ biến của đau vùng thắt lưng, nguyên nhân thường gặp nhất là thoái

hóa cột sống thắt lưng

Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát mức độ giảm đau vùng thắt lưng bằng kỹ thuật kéo nắn cột sống thắt lưng bằng tay so với kỹ thuật bằng máy Tru-Trac Traction Unit trên những bệnh nhân đau lưng tại bệnh viện

Thống Nhất

Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu, mô tả cắt ngang

Kết quả: 68 bệnh nhân đau lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng, trong đó chiếm 78% ở độ tuổi từ 40 – 60

tuổi, 84% đau từ trên 3 tháng tới 2 năm Đánh giá về mức độ giảm đau sau kéo nắn 1 tuần giảm được 47% ở nhóm I còn 57,4% nhóm II Sau 2 tuần là 59% ở nhóm I còn 35,3% nhóm II, đến tuần thứ 3 là 75% ở nhóm I còn 25% nhóm II và sau 1 tháng đã giảm đến 95% ở nhóm I còn 6,8% nhóm II Đánh giá về các triệu chứng lâm sàng và các triệu chứng của hội chứng rễ thần kinh như nghiệm pháp Lasegue, điểm đau Valleix, cũng đã cải thiện rất rõ sau 4 tuần điều trị

Kết luận: Kỹ thuật kéo nắn cột sống thắt lưng bằng tay hay bằng máy để điều trị bệnh lý đau vùng thắt

lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng là hiệu quả, kinh tế, giúp trả lại sức khỏe tốt cho người bệnh trong độ tuổi lao động

Từ khóa: Cột sống thắt lưng, hội chứng rễ thần kinh

ABSTRACT

BACK PAIN TREATMENT DUE DEGENERATIVE LUMBAR SPINE BENDING AND TRACTOR WITH TECHNICAL MANUAL AND MACHINERY TECHNOLOGY IN THONG NHAT HOSPITAL

Nguyen Thi Lam, Le Thi Gam, Le Sy Sam

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 5 - 2015: 79 - 87

Background: Back pain is a common symptom of lower back pain,the most common cause is degeneration of

the lumbar spine

Study objectives: The survey extent of lower back paint in Engineering Repair lumbar Spine by hand on

back pain patients with degenerative lumbar spine hospital uniform

Method: prospective study, descrptive and cross-section.

Results: 68 patient with low back pain due to lumbar spinal degeneration which occupies 78% aged 40 to 60

years 84% investment in the 3 monthsto 2 years Assessthe level of pain reduction after 1 week repair is reduced 47%, after 3 weeks was 75 % and then 4 weeks dropped to 95% Assessment of clinical symptoms and symptomsof nerve root syndrome (Lasegue-test, Valleix point) were also improved clearly visible after 4 weeks of

* Khoa VLTL – PHCN, Bệnh viện Thống Nhất

Trang 2

treatment

Conclusion: Repair engineering lumbar spine with manual treatment of lower back pain due to lumbar

spinal degeneration is efficient, economic and good health the patients

Key Words: lumbar spine

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau lưng, cụ thể và chính xác là đau vùng

thắt lưng, là triệu chứng lâm sàng phổ biến của

bệnh lý vùng thắt lưng Nguyên nhân thường

gặp nhất là thoái hóa cột sống thắt lưng

(THCSTL) Đối với người cao tuổi đau lưng là

mối quan tâm lớn nhất Đau lưng làm mọi sinh

hoạt bị hạn chế, nặng hơn có thể nằm tại chỗ và

mọi sinh hoạt phải phụ thuộc vào người khác(3,6)

Cơn đau kéo dài âm ỉ khó chịu, làm cho người

bệnh hoang mang sau một thời gian đã đi điều

trị với nhiều biện pháp chưa đạt được hiệu quả

cao Người bệnh cao tuổi ai cũng sợ bị “va chạm

dao kéo, can thiệp bằng máy móc”, vật lý trị liệu

- phục hồi chức năng (VLTL – PHCN) đã giúp

phần nào xóa bỏ tâm lý người bệnh

Vì vậy, chúng tôi so sánh, đánh giá sự đáp

ứng điều trị giữa 2 phương pháp kéo nắn thắt

lưng bằng tay và phương pháp kéo nắn thắt

lưng bằng máy Sau 1 tháng điều trị, để tìm

phương pháp ưu việt hơn cho bệnh nhân cao

tuổi đang điều trị tại Bệnh viện Thống Nhất

Trong tổng số bệnh nhân đang điều trị ở

đây, đã có 1/3 số bệnh nhân điều trị tại khoa

VLTL – PHCN của bệnh Thống Nhất là đau lưng

do (THCSTL) Hầu hết bệnh nhân không chỉ đơn

thuần mắc một bệnh mà còn kèm theo cả nhiều

bệnh khác như: tim mạch, tăng huyết áp, tiểu

đường… vì vậy đòi phải có phương pháp điều

trị chọn lọc sao cho bệnh nhân an tâm và phối

hợp điều trị tốt

Chúng tôi nhận thấy cả 2 kỹ thuật kéo nắn

đều có hiệu quả điều trị đau lưng do thoái hoá

cột sống thắt lưng Nhóm bệnh nhân cao tuổi,

bệnh nặng thường triệu chứng đau giảm chậm

Phương pháp kéo nắn thắt lưng bằng máy

không kiểm soát được mức độ đau khi kéo nên

bệnh nhân không an tâm khi điều trị (nhóm bệnh nhân nặng)

Phương pháp kéo nắn bằng tay ưu thế hơn: (1) Giúp cho bệnh nhân an tâm khi điều trị, kiểm soát được mức độ đau mà khi kéo lưng bằng máy không thể thay thế được Biểu hiện tinh thần lương y như từ mẫu (2) Vì vậy phương pháp này rất an toàn cho những bệnh nhân cao tuổi cải thiện tâm lý tốt nên chiếm ưu thế hơn cho nhóm bệnh nhân này Vì vậy, phương pháp này được ưa chuộng hơn

Hiện nay ở Việt Nam, vật lý trị liệu phục hồi chức năng ngày càng được quan tâm hơn Bệnh nhân đau lưng đã được phục hồi vận động tốt hơn, giúp họ được tái nhập với xã hội tốt hơn

Mục tiêu của đề tài nhằm khảo sát mức độ giảm

đau vùng lưng với phương pháp kéo nắn , xoa bóp CSTL bằng tay so sánh với kéo cột sốung thắt lưng bằng máy ở những bệnh nhân đau lưng do THCSTL

ĐỐI TƯỢNG- PHƯƠNG PHÁP Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh

Thời gian nghiên cứu

Kỹ thuật kéo CSTL bằng tay từ ngày 01/7/2011 đến ngày 30/10/2011

Kỹ thuật kéo CSTL bằng máy từ ngày 01/3/2015 đến ngày 30/6/2015

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Những bệnh nhân THCSTL có đau vùng lưng và điều trị tại khoa VLTL – PHCN

Được điều trị với kỹ thuật kéo CSTL bằng tay từ ngày 01/7 đến 30/10/2011 và được kỹ thuật kéo CSTL bằng máy từ ngày 01/3/2015 đến 30/6/2015

Tiêu chuẩn loại trừ

Trang 3

Bệnh nhân có chống chỉ định với phương

pháp kéo nắn, xoa bóp, bao gồm: Khối u cột

sống, nhiễm trùng cột sống, đang dùng thuốc

chống đông, mới được mổ kết hợp xương

Chẩn đoán nguyên nhân đau

Các bệnh nhân nghiên cứu được thăm khám

để xác định nguyên nhân đau lưng, dựa vào:

Lâm sàng: các triệu chứng của hội chứng

CSTL và hội chứng rễ thần kinh/THCSTL

Cận lâm sàng: chụp XQ CSTL, chụp CT scan

CSTL, chụp MRI vùng CSTL

Qui trình thực hiện kỹ thuật kéo nắn,xoa

bóp bằng tay

Áp dụng kỹ thuật kéo nắn theo nguyên lý

vận động học và nguyên tắc sinh cơ học trong

kéo nắn trị liệu Chỉ áp dụng kéo nắn trị liệu vào

thời kỳ đàn hồi và tạo hình gồm 3 thao tác: kéo,

nắn,di chuyển (ba thời kỳ bao gồm: thời kỳ đàn

hồi –thời kỳ gây thương tổn thương)

Mô tả kỹ thuật kéo với 3 mức độ K1, K2, K3

tùy thuộc vào 4 yếu tố là thời gian, hướng tác

động, biên độ và lực tác động Kỹ thuật nắn theo

5 mức độ N1, N2, N3, N4, N5 với 4 yếu tố như

trên

Qui trình thực hiện kỹ thuật kéo CSTL

bằng máy Tru-Trac Traction Unit

Áp dụng kỹ thuật kéo theo nguyên lý vận

động học và nguyên tắc sinh cơ học trong kéo trị

liệu Chỉ áp dụng kéo trị liệu vào thời kỳ đàn hồi

và tạo hình gồm 3 thao tác: kéo, di chuyển (ba

thời kỳ bao gồm: thời kỳ đàn hồi – thời kỳ gây

thương tổn thương)

Mô tả kỹ thuật kéo với 3 mức độ K1, K2, K3

tùy thuộc vào 4 yếu tố là thời gian, hướng tác

động, cân nặng 1/2 đến 1/3 trọng lượng cơ thể,

thời gian kéo 10 phút, thời gian nghỉ 10 giây

Kỹ thuật tiến hành

Phân thành hai nhóm bệnh: Nhóm I bao

gồm những bệnh nhân được áp dụng kỹ thuật

kéo nắn CSTL bằng tay Nhóm II bao gồm

những bệnh nhân được áp dụng kỹ thuật kéo

nắn CSTL bằng bằng máy Tru-Trac Traction Unit

Hai nhóm nghiên cứu có sự tương đồng đặc điểm dịch tễ Thời gian mắc bệnh, các triệu chứng lâm sàng và thời gian điều trị để dễ so sánh kết quả của hai phương pháp điều trị

Đánh giá kết quả

So sánh mức độ giảm đau trước và sau khi

sử dụng kỹ thuật kéo nắn,xoa bóp bằng tay với

kỷ thuật kéo nắn bằng máy được đánh giá qua :1 tuần, 2 tuần,3 tuần, 4 tuần, bao gồm:

Thang điểm đánh giá mức độ đau do hội chứng cột sống thắt lưng là:

- Mức độ nhẹ: 1 – 3 điểm: đau lưng nghỉ ngơi hết đau trên MRI: thoái vị đĩa đêm chưa chèn ép thần kinh

- Mức độ trung bình: 4 – 6 điểm: MĐ 1 + dấu hiệu chèn ép thần kinh, nghỉ ngơi giảm đau

- Mức độ nặng: 7 – 9 điểm: MĐ 2 + có tư thế giảm đau + nghỉ ngơi không giảm đau

- Đau rất nặng: 10 điểm: MĐ 2 + kèm theo các tổn thương khác của cột sống

Thu thập, xử lý số liệu thống kê bằng phần mềm Excel 2003 và SPSS 16.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm dịch tễ nhóm nghiên cứu

Toàn bộ nhóm nghiên cứu có 136 bệnh nhân, được chia thành hai nhóm:

Bảng 1: Phân bố của hai nhóm nghiên cứu

Nhóm Số BN Phương pháp kéo nắn

I 68 Bằng tay (phương pháp 1: PP1)

II 68 Bằng máy (phương pháp 2: PP2)

Tru-Trac Traction Unit Tổng cộng 136

Nhóm I: có 68 bệnh nhân thực hiện kỹ thuật kéo nắn bằng tay, gọi phương pháp 1 (PP1) Nhóm II: Thực hiện kỹ thuật kéo nắn bằng máy Tru-Trac Traction Unit, gọi (PP2)

Bảng 2: Tuổi và giới tính nhóm nghiên cứu của hai

nhóm nghiên cứu

Tuổi Giới Nhóm Số BN Tổng (%)

Trang 4

I II

Tổng số có 136 bệnh nhân, có 65% bệnh nhân

tuổi nhỏ hơn 60 tuổi

Có 35% bệnh nhân tuổi lớn hơn 60 tuổi

Bảng 3: Thời gian phát hiện đau vùng thắt lưng

Thời gian đau Nhóm I Nhóm II

Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ %

Bảng 4: Kết quả đánh giá mức độ giảm đau

Mức độ

đau Nhóm

Số BN trước ĐT

Số BN sau điều trị X 2 – test

Pvalue =

1 tuần 2 tuần 3 tuần 4 tuần

Nhẹ

(1 – 3 đ)

I 18(26,5) 10 (56) 8 (44) 4 (22) 0 (0)

0,8816

II 19(27,9) 10(56) 5(7,4) 2(2,9) 0(0)

Tr/bình

(4 – 6 đ)

I 8(11,8) 4(50) 3(38) 2(5) 0(0)

0,9830

II 27(39,7) 15(22,1) 7(10,3) 5(7,4) 0 (0)

Nặng

(7 – 9 đ)

I 40(58,8) 30(75) 15(38) 10(25) 2(5)

0,6106

II 12(17,6) 6(8,8) 4(5,9) 2(2,9) 2(2,9)

Rất nặng

(10 đ)

I 2(2,9) 2(100) 2(100) 1(50) 1(50)

0,9672

II 10(6,8) 8(80) 8(80) 8(80) 8(80)

T/cộng

I 68(100) 36(52,9) 28(41,2) 17(25) 3(4,4)

0,3950

II 68(100) 39(57,4) 24(25,3) 17(25) 10(6,8)

X 2 – test

- Kết quả kéo nắn bằng tay nghiên cứu y học

tập 16 phụ bản số 1 năm 2012 cho thấy: Trước

điều trị đau mức tối đa (điểm 10) sau 4 tuần điều

trị còn 1 người, đây là bệnh nhân chấn thương

cột sống có dấu hiệu chèn ép tủy, sau thời gian

điều trị 4 tuần chỉ giảm đau 50% và giảm tê cũng

rất chậm Bệnh nhân đau mức độ nặng (7- 9

điểm) sau điều trị số bệnh nhân còn đau giảm

dần chỉ còn 2 bệnh nhân do điều trị không liên

tục Bệnh nhân đau mức độ trung bình (3 – 6

điểm) hoàn toàn đỡ đau sau 4 tuần sử dụng kỹ

thuật kéo nắn, xoa bóp Bệnh nhân đau mức độ nhẹ (<3 điểm) hoàn toàn đáp ứng điều trị

- Kết quả kéo CSTL bằng máy 2015 cho thấy trước điều trị có 10 bệnh nhân ở mức độ tối đa 6,8%, sau 1 tuần điều trị còn 8 người, đây là bệnh nhân chấn thương cột sống có dấu hiệu chèn ép tủy, thoát vị trung tâm (7-9mm) kèm theo tổn thương cột sống (2 người xẹp đốt sống L4,5), 2 người khuyết cung sống Sau thời gian điều trị 4 tuần chỉ giảm đau tại chỗ, giảm co cứng cơ cạnh sống, dấu chèn ép rễ thần kinh và rối loạn vận động thay đổi không đáng kể

- Bệnh nhân đau mức độ nặng (7- 9 điểm) sau điều trị 4 tuần số bệnh nhân còn đau giảm dần các triệu chứng co cứng cơ cạnh sống, điểm đau cạnh sống, rối loạn vận động chỉ còn 2 bệnh nhân còn cảm giác dị cảm ở bàn chân khi đi lại khoảng 500m + Bệnh nhân đau mức độ trung bình (3 – 6 điểm) hoàn toàn đỡ đau sau 4 tuần

- Bệnh nhân đau mức độ nhẹ (<3 điểm) hoàn toàn đáp ứng điều trị

Nhìn chung, so sánh giữa 2 phương pháp sau 1 tuần điều trị mức độ giảm đau của bệnh nhân giảm dần ở nhóm I còn 52,9%, nhóm II còn 57,4%, sau 2 tuần nhóm I giảm còn 41,2%, nhóm

II còn 35,3%, sau 3 tuần nhóm I còn 25%, nhóm II còn 25% và tuần thứ 4 nhóm I còn dưới 5%, nhóm II còn 6,8%

Bảng 5: Đánh giá các triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng Nhóm

Số

BN trước

ĐT

Số Bn sau điều trị X 2

– test

Pvalue =

1 tuần n(%)

2 tuần n(%)

3 tuần n(%)

4 tuần n(%)

Co cứng

cơ cạnh sống

I 68 65

(95,6)

48 (70,6)

27 (39,7) 0

0,8814

II 58 58

(100)

35 (60,3)

20 (34,5) 0 Điểm

đau cạnh sống

I 68 42

(61,8)

35 (51,5)

23 (33,8) 0

0,4082

II 58 37

(63,8)

18 (31)

15 (29,5) 0

Dấu ấn chuông

I 60 50

(83,3)

32 (53,3)

25 (41,7) 0

0,3479

II 58 37

(63,8)

18 (31)

15 (29,5) 0

X 2 – test

Trang 5

Các triệu chứng thực thể trên lâm sàng tại

cột sống như co cứng cơ, điểm đau cột sống, đau

cạnh sống và dấu ấn chuông đã được cải thiện rõ

rệt từ tuần thứ 3 sau điều trị trên cả 2 phương

pháp Riêng nhóm rất nặng 3 tuần cuối các triệu

chứng không đáp ứng với phương pháp kéo

CSTL bằng máy do bệnh nhân kết hợp nhiều

bệnh lý như tim mạch, huyết áp, sức yếu… đồng

thời hầu hết ở nhóm này là bệnh nhân trên 65

tuổi, không thể đạt được tỷ lệ của tạ kéo với cân

nặng của bệnh nhân cùng với thời gian 15 phút

trong 1 liệu trình kéo Do đó, kết quả không

được cải thiện như mong muốn

Bảng 6: Đánh giá các triệu chứng trong hội chứng rễ

thần kinh

Triệu

chứng Nhóm

Số

BN trước

ĐT

Số BN sau điều trị

X 2 – test

Pvalue =

1 tuần 2 tuần 3 tuần 4 tuần

N/pháp

Lasegue

96,7%

52 86,7%

40 66,7%

0 0%

0,0136

II 58 48

82,8%

40 51,7%

30 51,7%

10 17,2%

Điểm

đau

Valleix

83,3%

32 53,3%

10 16,7% 0

0,0229

II 68 50

73,5%

36 52,9%

36 52,9% 0

Rối loạn

cảm giác

93,7%

28 87,5%

20 62,5%

3 9,4%

0,2419

II 22 20

90,9%

10 45,5%

8 80%

5 50%

Rối loạn

vận

động

93,75%

10 62,5%

5 31,25

%

0 0%

0,0064

II 22 22

100%

21 95,5%

20 90,9%

20 90,9%

X 2 – test

Dấu hiệu chèn ép rễ cải thiện rõ từ tuần thứ 3

và giảm nhanh từ tuần thứ 4 trên 2 phương

pháp, riêng nhóm rất nặng cải thiện không đáng

kể ở nhóm II

Rối loạn cảm giác tê bì hay kiến bò 1 hoặc 2

chân, giảm dần trong 3 tuần đầu và đến tuần thứ

4 không đáp ứng 9,37%, do có hội chứng chùm

đuôi ngựa bị chèn ép và không phù hợp với

phương pháp kéo

Rối loạn vận động do tư thế giảm đau đáp ứng từ tuần thứ 3 – 4 trên cả 2 phương pháp Riêng nhóm đau rất nặng trong PP2 đáp ứng chưa đáng kể (do tổn thương cấu trúc cột sống kèm theo) và lớn tuổi, mất sức Rối loạn vận động cần hỗ trợ không có trong lô điều trị Như vậy sau mỗi tuần điều trị các dấu hiệu ép

rễ cũng được thể hiện rõ rệt so với trước điều trị cùng với rối loại dị cảm và rối loạn vận động, riêng PP2 nhóm rất nặng đáp ứng không đáng kể

BÀN LUẬN

Về giới tính: các tác giả cho rằng bệnh gặp ở nam giới nhiều hơn nữ Theo thống kê tại khoa VLTL – PHCN Bệnh viện Thống Nhất nam chiếm 61,8%, nữ chiếm 38,2% (năm 2012)(6) Hiện nay trên đề tài này 2015 nam chiếm 24/68 (35,3%), 44/68 (64,7%) là nữ Như vậy, đau lưng trên bệnh nhân thoái hóa cột sống tại bệnh viện Thống nhất có phải chăng nữ mắc bệnh cột sống nhiều hơn nam do nữ lão hóa sớm hơn nam, áp lực công việc nhiều hơn, thời gian được đi điều trị ít hơn

Về tuổi: cũng như các tác giả khác, chủ yếu là trong lứa tuổi lao động, nghiên cứu của chúng tôi gặp 68% ở nhóm I, nhóm II là 51%, lứa tuổi từ

40 đến 59 tuổi, trong đó 56% ở nhóm I, nhóm II

là 23,5% Từ 40 đến 49 tuổi, nhóm II là 27,5% Tại Bệnh viện Bạch Mai thống kê trên đề tài nghiên cứu kéo nắn cột sống năm 2003 là 48,4% ở lứa tuổi 40 đến 49 Theo Davis, ở lứa tuổi lao động bị đau lưng chiếm 90,4%(1) Như vậy hầu hết đau lưng thường mắc ở lứa tuổi lao động và ở tuổi bắt đầu thoái hóa cột sống

Về thời gian mắc bệnh: so sánh 2 PP điều trị bệnh nhân tới khoa VLTL – PHCN Bệnh viện Thống Nhất gặp nhiều nhất sau 1 năm đến 2 năm PP1 chiếm 47%, nhóm II chiếm 70,1% Số bệnh nhân mắc bệnh dưới 3 tháng chiếm 8,8%, nhóm II chiếm 23,5% Số bệnh nhân tới muộn nhất sau 36 tháng PP1chiếm 7,3%, nhóm II chiếm 16,2%

Thời gian mắc bệnh lâu thường kèm theo

Trang 6

hưởng lớn đến hiệu quả điều trị vì vậy phải

chọn phương pháp điều trị phù hợp thì kết

quả tốt hơn

Về biểu hiện làm sàng

Thông qua xác suất p < 0,05, khác nhau có ý

nghĩa thống kê, nghĩa là hiệu quả của hai

phương pháp không giống nhau Bệnh nhân đau

lúc khởi phát hầu hết là đau thắt lưng có tính

chất đau âm ỉ, đau lan xuống 1 chi theo đường đi

của dây thần kinh S1 hoặc L5 nhóm I, chiếm

59%, nhóm II chiếm 67% (mức độ đau từ 1 đến 6

điểm) Giảm vận động (mức độ nặng 7 đến 10

điểm) thường kèm theo đau lan 2 bên, PP1

chiếm 61,8%, nhóm II chiếm 32,4% Cả 2 PP đều

giảm dần các triệu chứng trong 3 tuần

Tuần thứ 4 nhóm bệnh nặng (7 đến 9 điểm)

nhóm I, còn 5%, nhóm II còn 2,9% Nhóm bệnh

nhân rất nặng thì nhóm I còn lại 50%, nhóm II

còn 80% là do bệnh nhân tuổi cao và kèm theo

những bệnh nội khoa khác

Rối loạn dị cảm p < 0,05 khác biệt có ý nghĩa

thống kê, nghĩa là hai phương pháp có hiệu quả

điều trị không giống nhau nhóm II không tiến

triển (50%), không đáp ứng do phương pháp kéo

bằng máy sau tuần thứ 2 do bệnh nhân có kèm

theo dấu hiệu chèn ép chùm đuôi ngựa (2

người) Thoát vị đĩa đệm trung tâm 8 đến 10mm

(2 người), khuyết eo và trượt nhẹ đốt sống, thoát

vị đa tầng (4 người) Hầu hết họ là những người

trên 65 tuổi, mắc bệnh trên 1 năm, sức yếu, hạn

chế sử dụng lực kéo của tạ không phù hợp với

cân nặng dẫn đến kết quả không như mong

muốn

Về so sánh triệu chứng rối loạn vận động của

hai phương pháp, p>0,05 không có ý nghĩa thống

kê, nghĩa là hai phương pháp có hiệu quả điều

trị như nhau Nhóm kéo CSTL bằng tay chiếm

ưu thế (đáp ứng tốt) tư thế giảm đau từ 1 đến 6

điểm đáp ứng tốt 100% Nhóm 7 đến 9 điểm còn

lại ở nhóm II là 90,9% tuần thứ 4 (đau khi đi xa

500m), đường cong sinh lý được cải thiện ít (do

thời gian điều trị muộn)

Các biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhân khi vào viện chủ yếu là sự kết hợp cả 2 hội chứng, hội chứng cột sống thắt lưng và hội chứng rễ Tuổi cao, điều trị muộn, cùng một lúc kết hợp với nhiều bệnh do đó phương pháp kéo cột sống bằng máy bị hạn chế Vì vậy kết quả đối với nhóm bệnh rất nặng không đáp ứng với điều trị

so với nhóm kéo CSTL bằng tay PP1 (50%), nhóm II còn lại 80%

Đánh giá kết quả điều trị

Đánh giá kết quả giảm đau: Theo Nguyễn Xuân Nghiên, sau kéo nắn số bệnh nhân giảm đau chiếm tỷ lệ cao 73,8% Tác giả Davis (2000)(1)

đã kéo nắn cho 120 bệnh nhân thì 110 bệnh nhân hết hoặc giảm đau, chiếm 91,7% Trong nghiên cứu của chúng tôi sau 4 tuần thì chỉ còn 95,6% số bệnh nhân giảm đau và chuyển từ mức độ đau nhiều đến đau ít hơn…Mức độ đau cải thiện dần theo thời gian điều trị, điều này cũng phù hợp với các tác giả trên

Đánh giá sự cải thiện triệu chứng rối loạn vận động: Trước điều trị cả 2 PP có 68 bệnh nhân

có 16 bệnh nhân nhóm I, nhóm II là 22 bệnh nhân rối loạn vận động với tư thế chống đau không có bệnh nhân liệt hoàn toàn Sau 4 tuần điều trị bằng kỹ thuật kéo CSTL thì số bệnh nhân

có tư thế chống đau giảm đi rất nhiều, pp1 còn lại 0% nhóm II không đáp ứng còn 80% Điều này cho ta thấy cả 2 PP Rối loạn vận động do tư thế giảm đau từ 1 đến 6 điểm đáp ứng tốt 100% Nhóm 7 đến 9 điểm còn lại ở nhóm II là 90,9% đáp ứng kém

Các biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhân khi vào viện chủ yếu là sự kết hợp cả 2 hội chứng, hội chứng cột sống thắt lưng và hội chứng rễ Tuổi cao, điều trị muộn, cùng một lúc kết hợp với nhiều bệnh do đó phương pháp kéo cột sống bằng máy bị hạn chế Vì vậy kết quả đối với nhóm bệnh rất nặng không đáp ứng với điều trị

so với nhóm kéo CSTL bằng tay nhóm I (50%) , nhóm II còn lại 80%

Đánh giá sự cải thiện triệu chứng thực thể tại cột sống: Trước điều trị kéo nắn, khám thấy hầu

Trang 7

hết bệnh nhân đều có các triệu chứng tại cột

sống như: co cứng cơ cạnh sống, điểm đau cột

sống, dấu hiệu bấm chuông Nhưng sau mỗi

tuần điều trị các triệu chứng được cải thiện đáng

kể ở cả 2 PP Sau 4 tuần còn rất ít bệnh nhân co

cứng cơ cạnh sống Các triệu chứng thực thể tại

cột sống được cải thiện rõ rệt từ tuần thứ 3 sau điều trị đối với nhóm 1 điểm đến 9 điểm trên cả

2 PP Riêng nhóm rất nặng sau tuần thứ 2 đáp ứng chậm dần đến tuần thứ 3 thứ 4 không đáp ứng còn 90,9%

Bệnh nhân đau mức độ nhẹ 1 - 3 điểm

0.00

0.20

0.40

0.60

0.80

1.00

Trước ĐT Sau 1w Sau 2w Sau 3w Sau 4w

Trước và sau điều trị (tuần)

Nhóm I Nhóm II

Bệnh nhân đau mức độ trung bình 4 - 6 điểm

0.00 0.20 0.40 0.60 0.80 1.00

Trước ĐT Sau 1w Sau 2w Sau 3w Sau 4w

Trước và sau điều trị (tuần)

Nhóm I Nhóm II

Bệnh nhân đau mức độ nặng 7 - 9 điểm

0.00

0.20

0.40

0.60

0.80

1.00

Trước ĐT Sau 1w Sau 2w Sau 3w Sau 4w

Trước và sau điều trị (tuần)

Nhóm I Nhóm II

Bệnh nhân đau mức độ rất nặng 10 điểm

0.00 0.20 0.40 0.60 0.80 1.00

Trước ĐT Sau 1w Sau 2w Sau 3w Sau 4w

Trước và sau điều trị (tuần)

Nhóm I Nhóm II

Biểu đồ 1: Tỷ lệ % số bệnh nhân còn đau sau điều trị 1, 2, 3 và 4 tuần ở các mức độ đau

Co cứng cơ cạnh sống

0.00

0.20

0.40

0.60

0.80

1.00

Trước ĐT Sau 1w Sau 2w Sau 3w Sau 4w

Trước và sau điều trị (tuần)

Nhóm I Nhóm II

Điểm đau cạnh sống

0.00 0.20 0.40 0.60 0.80 1.00

Trước ĐT Sau 1w Sau 2w Sau 3w Sau 4w

Trước và sau điều trị (tuần)

Nhóm I Nhóm II

Trang 8

Dấu ấn chuông

0.00

0.20

0.40

0.60

0.80

1.00

Trước ĐT Sau 1w Sau 2w Sau 3w Sau 4w

Trước và sau điều trị (tuần)

Nhóm I Nhóm II

Biểu đồ 2: Tỷ lệ % số bệnh nhân còn triệu chứng sau

điều trị 1, 2, 3 và 4 tuần

Đánh giá sự cải thiện dấu hiệu ép rễ: Dấu hiệu đánh giá sự chèn ép rễ trên lâm sàng là điểm đau Lasegue và Valleix cũng có thay đổi đáng kể ở cả 2 PP Sau 4 tuần áp dụng kỹ thuật kéo nắn cột sống bằng tay đã không còn bệnh nhân nào đau các điểm này nữa Trên kéo cột sống bằng máy (nhóm II)chỉ đáp ứng từ 1 đến 9 điểm Trên nhóm 10 điểm không đáp ứng ở tuần thứ 2 do tuổi cao, điều trị muộn, cùng một lúc kết hợp với nhiều bệnh nội khoa và thời gian nằm kéo lâu, tỷ lệ tạ kéo với cân nặng của bệnh nhân không phù hợp với bệnh lý Do đó phương pháp kéo cột sống bằng máy bị hạn chế trên nhóm bệnh rất nặng (còn lại 80% không giảm triệu chứng ép rễ)

Ngiệm pháp Lasegue

0.00

0.20

0.40

0.60

0.80

1.00

Trước và sau điều trị (tuần)

Nhóm I Nhóm II

Điểm đau Valleix

0.00 0.20 0.40 0.60 0.80 1.00

Trước và sau điều trị (tuần)

Nhóm I Nhóm II

Rối loạn cảm giác

0.00

0.20

0.40

0.60

0.80

1.00

Trước và sau điều trị (tuần)

Nhóm I Nhóm II

Rối loạn cảm giác

0.00 0.20 0.40 0.60 0.80 1.00

Trước và sau điều trị (tuần)

Nhóm I Nhóm II

Biểu đồ 3: Tỷ lệ % số bệnh nhân còn đau sau điều trị 1, 2, 3 và 4 tuần ở các mức độ đau

Đánh giá sự cải thiện tâm lý: Ngoài nhiệm

vụ điều trị bệnh, thử thách lớn nhất của các bác

sỹ là cải thiện tâm lý của bệnh nhân Vì thế việc

đánh giá sau điều trị cũng rất quan trọng Theo Nguyễn Xuân Nghiên tiến bộ tâm lý của những bệnh nhân điều trị bằng kỹ thuật kéo nắn đạt kết

Trang 9

quả tốt 76,1% so với kéo CSTL bằng máy tại khoa

VLTL – PHCN Trước điều trị 100% bệnh nhân

có tâm trạng lo lắng, sau điều trị hầu hết các

bệnh nhân có sự cải thiện tốt về tâm lý

Tại bệnh viện Thống nhất đạt kết quả điều trị

của nhóm I 95,6% được cải thiện về mặt tâm lý

so với kéo CSTL bằng máy (nhóm II) tại khoa

VLTL còn lại 6,8% không đáp ứng điều trị riêng

nhóm bệnh nhân rất nặng chỉ cải thiện được 20%

về tâm lý

Nhóm I là kéo CSTL bằng tay kết hợp xoa

bóp: là phương pháp điều trị khoa học tinh tế, là

một nghệ thuật bằng tay đòi hỏi có sự kinh

nghiệm của người thầy thuốc mà không có máy

nào thay thế được trong PHCN nói lên tinh thần

lương y như từ mẫu, làm cho bệnh nhân an tâm

nhất là những người lớn tuổi đang được điều trị

ở bệnh viện Thống nhất nói riêng, có thể kiểm

soát theo mức độ đau thay đổi trong quá trình

kéo, chỉ có PP này mới thể hiện được quan hệ

giữa con người với con người, giữa bệnh nhân

với thầy thuốc Đây là một PP nghệ thuật trong

nghệ thuật

Trong nghiên cứu này không gặp tai biến

xảy ra trong và sau quá trình thực hiện kỹ thuật

kéo nắn bằng tay

Tóm lại: Qua 2 kỹ thuật kéo CSTL đều có kết

quả như nhau, P > 0,05 Riêng rối loạn vận động

nhóm 1 chiếm ưu thế hơn , bệnh nhân đi lại

được tốt hơn Nghiệm pháp Lasegue và điểm

đau Valleix nhóm 1 đáp ứng nhanh hơn điều trị

bệnh lý đau vùng thắt lưng có kết quả rất khả

quan, là một phương pháp không dùng thuốc

nhưng lại hiệu quả, an toàn trên mọi lứa tuổi

Trừ nhóm II nhóm bệnh đau CSTL do

THCSTL nhóm nặng (10 điểm) bệnh nhân đáp

ứng kém hơn nhóm 1 do bệnh nhân lớn tuổi kết

hợp bệnh lý tim mạch hạn chế khi kéo bằng máy

về trọng lượng và thời gian kéo

Nhóm I đặc biệt là các bệnh nhân người lớn tuổi kiểm soát được mức độ đau khi kéo yên tâm phối hợp khi điều trị nên tâm lý cải thiện tốt trong quá trình điều trị ở tất cả các lứa tuổi và các mức độ của bệnh nhân mà không có máy nào thay thế được Đây là một PP nghệ thuật trong nghệ thuật

KẾT LUẬN

Cả 2 phương pháp kéo cột sống thắt lưng bằng tay và kéo nắn bằng máy để điều trị bệnh

lý đau vùng thắt lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng là hiệu quả, kinh tế trả lại sức khỏe tốt cho người bệnh trong độ tuổi lao động Nhưng đối với bệnh nhân cao tuổi ở Bệnh viện Thống Nhất,

PP kéo CSTL bằng tay được ưa chuộng hơn, vì

an toàn, an tâm, cải thiện tốt tâm lý trong quá trình điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Davis RA (1994) A long term outcome analysis of 984 surgically treated herniated lumbar disc, orthopedic clinics of North America Vol 2 No 2 pp 415 – 421

lý và thực hành NXB Văn hóa thông tin, Hà nội, số 7, 2004,

tr277-288

3 Hỗ Hữu Lương (2001) Đau thắt lưng và thoái vị đĩa đệm

NXB Y học Hà Nội 2001, số 5 - 2001; tr.141

4 Ngô Thanh Hồi (1995) Nghiên cứu giá trị các triệu chứng và tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng thoái vị đĩa đệm cột sống thắt

lưng Luận án phó tiến sĩ khoa học y dược Học viện Quân Y,

tr45

Engineering Back Pain Repair Or The Lumbar Spine In

Patients Manual Degeneration Of The Lumbar Spine Y Học

TP.Hồ Chi Minh *Vol.16 – Supplement of No 1 – 2012: 221 –

225

6 Vũ Quang Bính (2001) Phòng và chữa các chứng bệnh đau

lưng NXB Y học Hà Nội, số 2, tr.11

Ngày nhận bài báo: 01/07/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/07/2015 Ngày bài báo được đăng: 20/10/2015

Ngày đăng: 15/01/2020, 08:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm