1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Điều trị lỗ tiểu thấp theo kỹ thuật cuộn ống tại chỗ có rạch sàn niệu đạo

6 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 324,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày đánh giá kết quả điều trị lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau theo kỹ thuật cuộn ống tại chỗ có rạch sàn niệu đạo (Snodgrass) tại Bệnh viện Nhi đồng 2.

Trang 1

ĐIỀU TRỊ LỖ TIỂU THẤP THEO KỸ THUẬT CUỘN ỐNG TẠI CHỖ

CÓ RẠCH SÀN NIỆU ĐẠO

Phạm Ngọc Thạch*, Lê Tấn Sơn**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau theo kỹ thuật cuộn ống tại chỗ có rạch

sàn niệu đạo (Snodgrass) tại Bệnh viện Nhi đồng 2

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu mô tả không đối chứng từ tháng 3/2012 đến tháng 3/2015,

các trường hợp lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau được chẩn đoán trước mổ, sau khi degloving và được bảo tồn sàn niệu đạo triển khai được kỹ thuật Snodgrass sẽ được đưa vào nghiên cứu; các trường hợp cắt sàn niệu đạo làm phẫu thuật thì 1, hoặc sàn niệu đạo nhỏ thiểu sản tạo hình niệu đạo theo kỹ thuật Onlay flaps sẽ bị loại khỏi nghiên cứu Kỹ thuật tạo hình niệu đạo theo Snodgrass khâu niệu đạo một hoặc hai lớp, có tăng cường khâu thể xốp hay không; khâu phủ niệu đạo tân tạo bằng mảnh mô dưới bao qui đầu hoặc mảnh tinh mạc

Kết quả: Có 359 trường hợp lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau trong thời gian trên được đưa vào nghiên cứu,

tuổi trung vị là 2 tuổi; thể giữa chiếm 196 trường hợp và thể sau chiếm 163 trường hợp Sau khi làm thẳng dương vật 81 trường hợp bị loại khỏi nghiên cứu; còn lại 278 bệnh nhân được phẫu thuật tạo hình niệu đạo theo

kỹ thuật Snodgrass; có 112 trường hợp được làm thẳng dương vật với kỹ thuật Nesbit khâu gấp mặt lưng dương vật, trong đó có 27 trường hợp kết hợp với kỹ thuật tách sàn niệu đạo của Mollard Biến chứng lâu dài xảy ra ở 65 trường hợp cần phải phẫu thuật lại (27 trường hợp thể giữa và 38 trường hợp thể sau) chiếm tỉ lệ biến chứng chung 23,3% (65/278) trong đó rò niệu đạo 41 trường hợp (14,7%), tụt lỗ sáo 18 trường hợp (6,4%) và hẹp miệng sáo 6 trường hợp (2,1%) trong đó có 2 ca hẹp miệng sáo kèm rò niệu đạo Tỉ lệ biến chứng ở lỗ tiểu thấp thể giữa 15,9% (27/169) thấp hơn biến chứng ở lỗ tiểu thấp thể sau 34,8% (38/109) (p<0,05) Thời gian theo dõi từ 6 tháng đến 36 tháng

Kết luận: Biến chứng chung của kỹ thuật Snodgrass cho lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau là 23,3% Tỉ lệ biến

chứng này chấp nhận được so với các kỹ thuật khác; ưu điểm nổi bật của kỹ thuật thể hiện ở sự đơn giản và tính

thẩm mỹ cao

Từ khóa: lỗ tiểu thấp thể sau, tạo hình niệu đạo

ABSTRACT

TUBULARISED INCISED PLATE TECHNIQUE FOR HYPOSPADIAS REPAIR

Pham Ngoc Thach, Le Tan Son * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 4 - 2016: 87 - 92

Objective: To describe the results in using Snodgrass technique for middle and posterior hypospadias at the

Children hospital number 2

Methods: prospective descriptive study, from March 2012 to March 2015 primary repairs were carried out

on 278 boys with proximal hypospadias After degloving the penile skin, tunica albuginea plication was used to correct residual ventral curvature in 112 boys The method of urethroplasty was adapted from that described by Snodgrass The key step of the TIP repair is a midline incision of the urethral plate; a preputial dartos flapor a tunica vaginalis flapare used to cover the neourethra An 8Fr Foley is used as a urethral tent and remove from 10

Tác giả liên lạc: TS BS Phạm Ngọc Thạch ĐT: 0902187095 Email: dr.thachpham@yahoo.fr

Trang 2

to 14 days after surgery The follow-up time is 6-36 months

Results: Mean age 2years, tunica albuginea plication was used to correct penile curvature in 112 of the

patients.The overall complication rates was 23,3%; 41urethrocutaneous fistulas(14,7%), 18 meatal regressions (6,4%) and 6 meatal stenosis(2,1%) The meatal stenosis was managed by meatplasty

Posterior hypospadias were more complication rates than middle hypospadias (p<0,05)

Conclusions: Postoperative complications rate could be accepted, the results in using Snodgrass technique

for posterior hypospadias is good

Keywords: posterior hypospadias, urethroplasty

MỞ ĐẦU

Lỗ tiểu thấp được định nghĩa là sự dừng lại

của quá trình phát triển bình thường của niệu

đạo, bao qui đầu và mặt bụng dương vật; là một

trong những dị tật bẩm sinh về tiết niệu sinh dục

thường gặp ở trẻ em với tần suất 1 trên 300 trẻ

trai sinh ra Hai thương tổn chính là lỗ sáo lệch

thấp hơn so với vị trí bình thường từ qui đầu cho

tới tầng sinh môn và dương vật cong ở nhiều

mức độ khác nhau Về mặt lịch sử, việc điều trị

lỗ tiểu thấp đã trải qua rất nhiều giai đoạn, đến

nay đã có hơn 300 phẫu thuật được miêu tả

trong y văn Điều này nói lên việc điều trị lỗ tiểu

thấp gặp nhiều khó khăn qua từng thời kỳ,

không có một kỹ thuật duy nhất nào là tối ưu

cũng như có thể điều trị được mọi phân loại lỗ

tiểu thấp(1)

Kể từ năm 1995 khi tác giả Duckett(8) đưa ra

quan niệm mới về vai trò sàn niệu đạo trong việc

tạo hình niệu đạo trong bệnh lý lỗ tiểu thấp, nay

đã trở thành việc thực hành lâm sàng chuẩn mực

trong việc điều trị, các phẫu thuật viên luôn cố

gắng bảo tồn tối đa sàn niệu đạo trong việc tạo

hình niệu đạo; khuynh hướng mới này đang

được chấp nhận sự đồng thuận rộng rãi(3) đưa

vào các Algorithm, textbook cũng như

guidelines(23) Nền tảng của xu hướng này dựa

trên các nghiên cứu chứng minh sàn niệu đạo có

mô liên kết giàu mạch máu, không có mô xơ hay

mô loạn sản (4,20); điều này cũng giải thích tại sao

hầu hết các trường hợp sàn niệu đạo không phải

là nguyên nhân gây cong dương vật, việc cắt sàn

niệu đạo không giải quyết được vấn đề cong

dương vật; bên cạnh đó việc sử dụng sàn niệu

đạo hay hợp nhất sàn niệu đạo trong việc tạo

hình niệu đạo giúp làm giảm các tỉ lệ biến chứng

so với các kỹ thuật khác đã được chứng minh(14) Xuất hiện muộn nhất trong lịch sử phả hệ về điều trị lỗ tiểu thấp, nhưng kỹ thuật cuộn ống tại chỗ có rạch sàn niệu đạo (tubulazied incised plate-TIP) được tác giả Snodgrass giới thiệu vào năm 1994(21) nhanh chóng trở nên phổ biến và chiếm dần ưu thế so với các kỹ thuật khác Cải tiến kỹ thuật Duplay với điểm mấu chốt là đường rạch giữa sàn niệu đạo làm rộng thêm sàn niệu đạo, giúp mô tại chỗ đủ để cuộn ống tạo hình niệu đạo Kỹ thuật TIP mang tên tác giả Snodgrass lan rộng và chiếm được sự ưa chuộng các phẫu thuật viên do tính đơn giản của kỹ thuật thể hiện đây là phẫu thuật một thì với số đường khâu và số đường rạch da ít(5); việc sử dụng sàn niệu đạo dồi dào mạch máu mà không phải sử dụng mô từ nơi khác đến giúp làm giảm

tỉ lệ biến chứng(12); bên cạnh đó tính thẩm mỹ vượt trội với hình thái qui đầu và dương vật cân đối, da che phủ dương vật đủ sau mổ, dương vật không xoay và miệng niệu đạo hình khe tự nhiên (slit like meatus); đây chính là những ưu thế thực sự của kỹ thuật đã được chứng minh Tính ứng dụng của kỹ thuật Snodgrass lan rộng

từ thể trước và đang bắt đầu lấn dần ra thể giữa

và thể sau(16)

Kỹ thuật Snodgrass đã được sự chấp nhận rộng rãi, đạt được sự đồng thuận cao và trở nên thường qui cho việc điều trị đối với lỗ tiểu thấp ở thể trước(1,23); tuy nhiên việc áp dụng kỹ thuật này cho thể giữa và thể sau thực sự vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ, vẫn còn đó nhiều ý kiến tranh cãi do những đặc điểm khác biệt về giải phẫu bệnh như sàn niệu đạo thiểu sản, tổn thương

Trang 3

cong dương vật nặng kèm theo khó cho phép

triển khai kỹ thuật(13) Hiện nay việc lựa chọn kỹ

thuật tốt nhất cho thể giữa và thể sau trong bệnh

lý lỗ tiểu thấp vẫn chưa có câu trả lời; nếu như

ưu điểm của kỹ thuật hai thì là tỷ lệ biến chứng

thấp thì khuyết điểm là phải mổ hai lần; trong

khi đó thì kỹ thuật một thì chỉ cần một lần phẫu

thuật thường lại phức tạp hơn, tỉ lệ biến chứng

cao hơn, kết quả thẩm mỹ hạn chế(2) Vậy liệu kỹ

thuật Snodgrass có hội đủ các ưu điểm vừa là kỹ

thuật một thì, lại là kỹ thuật đơn giản, biến

chứng sau mổ thấp, tính thẩm mỹ cao và tính đa

năng của kỹ thuật để có thể triển khai được ở thể

giữa và thể sau lỗ tiểu thấp? Trong lúc chờ đợi

trả lời câu hỏi này thì hiện vẫn có ít các công

trình nghiên cứu ở nước ngoài đặc biệt là các

nghiên cứu có mức độ chứng cứ cao hay mang

tính hệ thống đề cập vấn đề này; còn tại Việt

Nam chỉ có vài báo cáo đơn lẻ mô tả kết quả

bước đầu trong việc ứng dụng kỹ thuật

Snodgrass cho lỗ tiểu thấp thể trước ở vài trung

tâm phía Nam còn đối với thể giữa và thể sau thì

không ghi nhận Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả điều trị

lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau theo kỹ thuật Snodgrass tại khoa Niệu bệnh viện Nhi đồng 2 trong thời gian dài 3 năm liên tục

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Bao gồm những bệnh nhân lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau được phẫu thuật theo kỹ thuật Snodgrass và được theo dõi tại khoa Niệu bệnh viện Nhi đồng 2 trong thời gian từ tháng 3/2012 đến tháng 3/2015

Các trường hợp cắt sàn niệu đạo làm phẫu thuật thì 1, hoặc sàn niệu đạo nhỏ thiểu sản tạo hình niệu đạo theo kỹ thuật Onlay flaps sẽ bị loại

khỏi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiền cứu, mô tả

Mô tả kỹ thuật

Hình 1: Kỹ thuật Snodgrass

Kỹ thuật Snodgrass được thực hiện đường

rạch hình chữ U từ qui đầu song song sàn niệu

đạo và vòng xuống miệng niệu đạo đóng thấp;

điểm mấu chốt của kỹ thuật là rạch một đường

rạch sâu vào sàn niệu đạo (thủ thuật Snodgrass)

giúp sàn niệu đạo trở nên rộng hơn Khâu khép

cuộn ống lại hai cánh niệu đạo, khâu phủ niệu

đạo mới bằng hai cánh của vật xốp (spongioplasty) bên cạnh đó để giảm xì rò, lấy mảnh mô dưới da bao qui đầu có cuống mạch khâu phủ tăng cường niệu đạo mới hoặc trong trường hợp niệu đạo tân tạo dài có thể lấy mảnh tinh mạc có cuống từ bao tinh hoàn Cuối cùng là khép hai cánh qui đầu và khâu da

Trang 4

Nguồn gốc số liệu

Bảng thu thập số liệu

Phép kiểm thống kê

T test

KẾT QUẢ

Có 359 trường hợp lỗ tiểu thấp thể giữa và

thể sau trong thời gian trên được đưa vào nghiên

cứu, tuổi trung vị là 2 tuổi; thể giữa chiếm 196

trường hợp và thể sau chiếm 163 trường hợp

Sau khi làm thẳng dương vật 81 trường hợp bị

loại khỏi nghiên cứu; còn lại 278 bệnh nhân được

phẫu thuật tạo hình niệu đạo theo kỹ thuật

Snodgrass Thời gian theo dõi từ 6 tháng đến 36

tháng

Có 112 trường hợp được làm thẳng dương

vật với kỹ thuật Nesbit khâu gấp mặt lưng

dương vật, trong đó có 27 trường hợp kết hợp

với kỹ thuật tách sàn niệu đạo của Mollard Biến

chứng xảy ra ở 65 trường hợp cần phải phẫu

thuật lại(27 trường hợp thể giữa và 38 trường

hợp thể sau) chiếm tỉ lệ biến chứng chung

23,3%(65/278) trong đó rò niệu đạo 41 trường

hợp (14,7%), tụt lỗ sáo 18 trường hợp(6,4%) và

hẹp miệng sáo phải chỉnh hình miệng sáo 6

trường hợp (2,1%) trong đó có 2 ca hẹp miệng

sáo kèm rò niệu đạo

Tỉ lệ biến chứng ở lỗ tiểu thấp thể giữa 15,9%

(27/169) thấp hơn biến chứng ở lỗ tiểu thấp thể

sau 34,8% (38/109) (p<0,05)

BÀN LUẬN

Phẫu thuật chỉnh sửa cho tật lỗ tiểu thấp thể

giữa và thể sau vẫn luôn là một thách thức cho

phẫu thuật viên niệu nhi Dị tật cong dương vật

và sàn niệu đạo thiểu sản luôn là những yếu tố

ngăn cản triển khai kỹ thuật Snodgrass ở lỗ tiểu

thấp thể giữa và thể sau Trong nghiên cứu của

chúng tôi có 112 trường hợp được khâu gấp mặt

lưng làm thẳng dương vật theo kỹ thuật Nesbit

chiếm tỉ lệ 40%; trong nghiên cứu của tác giả

Snodgrass (2002)(18) thực hiện kỹ thuật Snodgrass

trên 33 trẻ có lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau tác

giả đã sử dụng Nesbit ở 18 trường hợp chiếm

55%.Còn trong nghiên cứu của tác giả Mazen(2010) tỉ lệ dùng kỹ thuật Nesbit làm thẳng dương vật cho lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau là 78%(38/49)(15)

Điều trị đúng cong dương vật là bước đi đầu tiên và cần thiết để điều trị tốt dị tật lỗ tiểu thấp

ở phần tạo hình niệu đạo tiếp theo Nguyên tắc chungđể làm thẳng dương vật là can thiệp giải quyết các nguyên nhân gây cong dương vật Nếu nguyên nhân là thiểu sản da mặt bụng dương vật( skin chordee), da gây co rút thì ở mức độ này phẫu thuật chỉ cần can thiệp vào vùng da (degloving) Nếu nguyên nhân là do vật xốp thoái hóa gây co rút cần phải cắt các mô xơ dọc hai bên sàn niệu đạo, tuy nhiên nhiều trường hợp dãi xơ kéo dài từ khấc qui đầu theo hai bên bờ niệu đạo đến lỗ sáo và xa hơn nữa; do

đó sau khi cắt mô xơ hai bên sàn niệu đạo mà dương vật vẫn không thẳng, việc tách rời sàn niệu đạo và đoạn niệu đạo gần ra khỏi vật hang

sẽ giúp làm thẳng dương vật (kỹ thuật Mollard) Trong 112 trường hợp khâu gấp mặt lưng với kỹ thuật Nesbit có 27 trường hợp tách sàn niệu đạo theo kỹ thuật Mollard Kỹ thuật Mollard tách sàn niệu đạo ra khỏi vật hang trong điều trị cong dương vật nặng lớn hơn 30 độ, giải pháp này giúp giải quyết được tình trạng cong dương vật nhưng vẫn giữ lại sàn niệu đạo giúp việc thực hiện phẫu thuật tạo hình niệu đạo về sau.Ưu điểm của phương pháp này là giúp loại bỏ triệt

để các mô xơ hai bên sàn niệu đạo cũng như vật xốp thiểu sản gây co rút, bên cạnh đó khuynh hướng điều trị miệng niệu đạo đóng thấp sử dụng sàn niệu đạo ngày càng chiếm ưu thế, do

đó nhiều tác giả cố gắng tìm mọi cách làm thẳng dương vật mà vẫn bảo tồn được sàn niệu đạo mà

kỹ thuật Mollar đáp ứng được Tác giả Snodgrass trong nghiên cứu của mình(19) đã đưa

ra kết luận về việc tách sàn niệu đạo để điều trị cong dương vật là không làm tăng thêm biến chứng của việc tạo hình niệu đạo theo kỹ thuật Snodgrass

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ biến chứng chung là 23,3% trong đó rò niệu đạo

Trang 5

chiếm 14,7% Năm 1998 chính tác giả

Snodgrass(17) công bố nghiên cứu đầu tiên ứng

dụng kỹ thuật Snodgrass cho 27 trẻ có lỗ tiểu

thấp thể giữa và thể sau Đây là nghiên cứu đa

trung tâm ứng dụng kỹ thuật Snodgrass lần đầu

tiên được ứng dụng cho thể giữ và thể sau, trong

nghiên cứu của tác giả chỉ có 3 trên 27 trẻ có biến

chứng (chiếm tỉ lệ biến chứng chung thấp 11%)

Theo Campbell Wash Urology (2012)(1) thống kê

7 nghiên cứu trên thế giới thực hiện kỹ thuật

Snodgrass thể giữa và sau lỗ tiểu thấp trên 237

bệnh nhân có tỉ lệ biến chứng chung dao động từ

4% đến 60% trung bình là 22%

So với các nghiên cứu khác sử dụng các kỹ

thuật thường dùng cho lỗ tiểu thấp thể sau như

Onlay flap, Onlay tube thì tỉ lệ biến chứng chung

là 31-42% với tỉ lệ rò từ 14-23%(7,24,9) So với kỹ

thuật khác, kỹ thuật Snodgrass luôn có mảnh mô

có cuống mạch lấy từ các nguồn khác nhau để

tăng cường niệu đạo tân tạo trước khi khâu phủ

da thân dương vật Chính động tác này đã làm

giảm tỉ lệ xì rò được chứng minh qua các nghiên

cứu (23) Tính đơn giản trong thực hiện, chỉ có duy

nhất một đường khâu trên niệu đạo tân tạo, luôn

có lớp che phủ tăng cường niệu đạo tân tạo;

những lí do này giúp giải thích tỉ lệ xì rò dường

như ít hơn so với các phương pháp khác

Chúng tôi có 95 trường hợp tia tiểu yếu,

miệng sáo co nhỏ sau rút thông tiểu được hướng

dẫn nong niệu đạo 1-2 lần/ngày liên tục trong

nhiều tháng; chỉ có 6 trường hợp (2,1%) trở nên

hẹp thực sự cần được phẫu thuật chỉnh hình

miệng sáo, trong đó có 2 trường hợp kèm vá rò

niệu đạo.Sau biến chứng rò niệu đạo, hẹp miệng

sáo có lẽ là biến chứng thường gặp trong kỹ

thuật Snodgrass; chính biến chứng này cũng làm

tăng thêm biến chứng rò niệu đạo Để làm giảm

biến chứng này về mặt kỹ thuật có một điểm rất

quan trọng được bản thân tác giả Snodgrass và

các phẫu thuật viên lưu ý là thủ thuật Snodgrass

lên sàn niệu đạo không được quá xa ở qui đầu(11)

vì điều này có thể gây hẹp miệng sáo về sau

Khoảng cách các tác giả thống nhất là khoảng

3mm so với đường ngang của điểm kết thúc hai

đường rạch sàn niệu đạo trước đó.Vai trò nong niệu đạo sau kỹ thuật Snodgrass được đề cập đến trong một số nghiên cứu Vấn đề nong niệu đạo sau mổ được một số tác giả đề cập với tác dụng phòng ngừa và làm giảm tỉ lệ hẹp miệng niệu đạo và làm giảm các biến chứng khác(10,11) Trong nghiên cứu của tác giả Elbakry năm

1999(10) tác giả nhấn mạnh có 4 trường hợp hẹp miệng niệu đạo kèm theo rò nhỏ niệu đạo đã được nong niệu đạo hàng ngày liên tục trong 3 tháng và hoàn toàn hết Trong nghiên cứu tiếp theo năm 2002 cũng của tác giả Elbakry(11), tác giả phân nhóm ngẫu nhiên giữa nong niệu đạo thường qui sau rút thông tiểu trong 3 tháng và nhóm không nong niệu đạo; tác giả nhận thấy biến chứng rò và hẹp miệng sáo ở nhóm không nong cao hơn hẳn ở nhóm có nong niệu đạo và

có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê Kết luận nghiên cứu là nong niệu đạo thường qui sẽ giúp làm giảm các biến chứng như rò và hẹp miệng sáo Các nghiên cứu trên thế giới ủng hộ việc nong niệu đạo thường qui(6); tuy nhiên cũng có những tác giả không ủng hộ ý kiến này, chỉ nong niệu đạo khi có triệu chứng như tia tiểu nhỏ, miệng sáo hẹp, bản thân tác giả Snodgrass trong nghiên cứu năm 1999(22) tác giả đã cho nong niệu đạo thường qui sau năm đầu tiên sau mổ nhưng đến năm 2002(18) tác giả chỉ cho nong những trường hợp chọn lọc như miệng sáo hẹp hay rò Tác giả cho rằng không cần thiết phải nong tất cả

và kết quả không có gì thay đổi

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ biến chứng ở lỗ tiểu thấp thể giữa 15,9% (27/169) thấp hơn biến chứng ở lỗ tiểu thấp thể sau 34,8% (38/109) (p<0,05) Điều này được giải thích tổn thương thể sau phức tạp hơn, bóc tách nhiều và thời gian phẫu thuật kéo dài hơn, niệu đạo khâu dài hơn

KẾT LUẬN

Biến chứng chung của kỹ thuật Snodgrass cho lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau là 23,3% Tỉ lệ biến chứng này là chấp nhận được so với các kỹ thuật khác, tỉ lệ biến chứng chung ở thể giữa

Trang 6

thấp hơn thể sau có ý nghĩa thống kê Uu điểm

nổi bật của kỹ thuật thể hiện ở tính đơn giản và

tính thẩm mỹ cao

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alan JW (2012), Campbell-Walsh Urology, Hypospadias,

Chapter 130, pp 3503-3527

2 Arco C, Alaa El (2010), Surgical management of primary

severe hypospadias in children: Systematic 20-year review J

Urol, 184, 1460-1475

3 Arnold GC (2012), Pediatric Surgery, Hypospadias, Chapter

121, pp 1531-1553

4 Baskin LS, Erol A, Li YW (1998), Anatomical studies of

hypospadias J Urol., 160:1108

5 Cook A, Khoury AE (2005), A multicenter evaluation of

technical preferences for primary hypospadias repair J Urol

174 :2354-7

6 Decter RM, Franzoni DF(1999) Distal hypospadias repair by

the modified Thiersch-Duplay technique with or without

hinging the urethral plate: a near ideal way to correct

hypospadias J Urol; 162:1156-3

7 Duckett JW(1980) Transverse preputial island flap Technique

for repair of severe hypospadias Urol Clin North Am;7:423-31

8 Duckett JW(1995),The current hype in hypospadiology.Br J

Urol.76:1-7

9 Elbakry A(1999) Complications of the preputial island

flap-tube urethroplasty BJU Int 84:89-94

10 Elbakry A (1999), Tubularized incised urethral plate

urethroplasty : is regular dilatation necessary for success ? BJU

International , 84,683-688

11 Elbakry A (2002), Further experience with the tubularized

incised urethral plate technique for hypospadias repair BJU

Inter 89, 291-294

12 Erol A, Baskin LS(2000), Anatomical studies of the urethral

plate : why preservation of the urethral plate is important in

hypospadias repair BJU Int ; 85 :728-34

13 Holland AJ, Smith GH (2000), Effect of the depth and width

of the urethral plate on tubularized incised plate

urethroplasty J Urol; 164:489

14 Hollowell JG, Keating MA, Snyder HM, Duckett JW (1990),

Preservation of the urethral plate in hypospadias repair J

Urol.,143:98

15 Mazen A, Rien J.M (2010) Outcome analysis of tubularized incised urethral plate using dorsal dartos flap for proximal penile hypospadias repair J P Urol 6:477-480

16 Snodgrass W and Yucel S (2007), Tubularized incised plate

for mid shaft and proximal hypospadias repair J Urol, 177, pp

698 – 702

17 Snodgrass W, Koyle M, Manzoni G, Hurwitz R, Caldamone

A, Ehrlich R(1998) Tubularized incised plate hypospadias repair for proximal hypospadias J Urol 1998: 159:2129-2131

18 Snodgrass W, Lorenzo A(2002) Tubularized incised plate urethroplasty for proximal hypospadias BJU International 89:90-93

19 Snodgrass W, Nicol B (2011), Tubularized incised plate proximal hypospadias repair: continued evolution and extended applications J P Urol 7:2-9

20 Snodgrass W, Patterson K, Plaire JC et al (2000), Histology of

the urethral plate: implications for hypospadias repair J Urol;

164:988

21 Snodgrass W (1994), Tubularized incised plate urethroplasty

for distal hypospadias J Urol 151:464-465

22 Snodgrass W (1999), Does tubularized incised plate hypospadias repair create neourethral strictures ? J Urol,

162 :1159

23 Tekgul S, Riedmiller H, Dogan HS, Hoebeke P, Kocvara R, Nijman R, Radmayr C, Stein R (2013), Guidelines on Pediatric Urology ESPU and EAU

24 Weiner JS, Sutherland RW, Roth DR et al(1997) Comparison

of onlay and tubularized island flaps of inner preputial skin for the repair of proximal hypospadias J Urol; 158:1172-4

Ngày nhận bài báo: 31/3/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/6/2016 Ngày bài báo được đăng: 25/7/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 08:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w