Bài viết trình bày đánh giá thay đổi áp lực bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Đối tượng và phương pháp: 126 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 đến khám và điều trị tại Bệnh viện Nội tiết TW (nhóm bệnh); 40 người bình thường (nhóm chứng).
Trang 1ĐÁNH GIÁ THAY ĐỔI ÁP LỰC BÀN CHÂN Ở BỆNH NHÂN
ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG
Phạm Tuấn Phương 1 ; Nguyễn Thị Phi Nga 2 ; Phan Việt Nga 2
TÓM TẮT
Mục tiêu: đánh giá thay đổi áp lực bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 Đối tượng
và phương pháp: 126 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 đến khám và điều trị tại Bệnh viện
Nội tiết TW (nhóm bệnh); 40 người bình thường (nhóm chứng) Kết quả: bàn chân phải: chỉ số
áp lực đỉnh ở nhóm chứng (334,06 ± 104,06 kpa) thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh
(386,39 ± 123,64 kpa) với p < 0,05; 21,4% đối tượng tăng áp lực đỉnh, tăng nhiều nhất ở nền
xương ngón 1 (79,45%) và thấp nhất ở ngón 2 (15,1%) Bàn chân trái: chỉ số áp lực đỉnh ở
nhóm chứng (316,43 ± 282,14 kpa) thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh (392,85 ± 369,85 kpa)
với p < 0,05; 33,3% tăng áp lực đỉnh, tăng nhiều nhất ở nền xương ngón 3 (44,4%), thấp nhất ở
ngón 2 (2,4%) Kết luận: áp lực đỉnh bàn chân 2 bên ở vị trí tổng lực của nhóm bệnh cao hơn
nhóm chứng Chỉ số áp lực đỉnh: vị trí tăng nhiều nhất vùng nền xương ngón 1 bên phải (79,4%)
và 44,4% ở vùng nền xương ngón 3 bên trái
* Từ khóa: Đái tháo đường týp 2; Áp lực bàn chân
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) gia tăng
cùng thời gian mắc bệnh kéo dài kèm theo
đó là biến chứng của bệnh tăng Biến
chứng loét chân là một trong những biến
chứng nặng, gây ảnh hưởng đến chất
lượng cuộc sống của người bệnh Tỷ lệ
loét chân do ĐTĐ trên toàn cầu là 6,3%
Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ
lệ bệnh nhân (BN) ĐTĐ có biến chứng
bàn chân vào viện đều ở giai đoạn muộn,
tỷ lệ cắt cụt chi cao, khoảng 40% trong số
người bệnh ĐTĐ có bệnh lý bàn chân
Tổn thương bàn chân do ĐTĐ là hậu quả
của nhiều nguyên nhân như: tổn thương
thần kinh, tổn thương mạch máu, chấn
thương và nhiễm trùng, chúng có thể kết
hợp chặt chẽ với nhau, đôi khi các tổn thương có thể diễn ra độc lập Một số nghiên cứu cho thấy những điểm chịu áp lực cao ở bàn chân có mối liên quan chặt chẽ với tổn thương loét bàn chân Áp lực bàn chân là yếu tố được đưa ra để dự đoán tổn thương bàn chân sớm ở người bệnh ĐTĐ Vì vậy, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu: Đánh giá thay đổi áp lực bàn chân ở BN ĐTĐ týp 2 đến khám tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
126 BN ĐTĐ týp 2 (nhóm bệnh) và
40 người khỏe mạnh (nhóm chứng); thời gian nghiên cứu từ 2015 đến 2018
1 Bệnh viện Nội tiết Trung ương
2 Bệnh viện Quân y 103
Người phản hồi (Corresponding): Phạm Tuấn Phương (bsphuong80@gmail.com)
Ngày nhận bài: 15/05/2019; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 24/07/2019
Trang 22 Phương pháp nghiên cứu.
- Phỏng vấn, hỏi tiền sử, khám lâm sàng; đo huyết áp; đo chiều cao cân nặng; tính BMI,
đo vòng bụng, vòng mông
* Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu:
- Xét nghiệm sinh hóa thường quy để loại trừ: glucose máu; HbA1c; chức năng gan; chức năng thận; lipid máu
- Sử dụng máy đo áp lực bàn chân của Emed A50, đo 10 vùng tại bàn chân (các chỉ
số đo: áp lực đỉnh, lực tối đa)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nhóm tuổi
< 0,05
- Nhóm bệnh: cao nhất ở nhóm 50 - 59 tuổi và không có trường hợp nào < 30 tuổi
- Nhóm chứng: đối tượng nghiên cứu ở nhóm 30 - 39 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất và không có trường hợp nào > 60 tuổi
Tỷ lệ nam cao hơn nữ ở cả nhóm chứng và nhóm bệnh, cả hai giới có tỷ lệ mắc bệnh tương đương nhau
Trang 3Bảng 2: Đặc điểm áp lực đỉnh bàn chân phải theo nhóm nghiên cứu
- Áp lực đỉnh của toàn bộ bàn chân, áp lực đỉnh khu vực MH2, MH3, MH4 ở nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
- Áp lực đỉnh ở các khu vực khác của bàn chân khác biệt không có ý nghĩa giữa nhóm bệnh và nhóm chứng
Nhóm bệnh (n = 126)
Áp lực đỉnh
bàn chân phải (kpa)
Trong nhóm tăng áp lực đỉnh bàn chân, vị trí nền xương ngón 1 chiếm tỷ lệ cao nhất, thấp nhất ở vị trí ngón 2
Trang 4Bảng 4: Đặc điểm áp lực đỉnh bàn chân trái của nhóm nghiên cứu
Áp lực đỉnh bàn chân trái
- Áp lực đỉnh của toàn bộ bàn chân, áp lực đỉnh ở khu vực gót chân, MH1, MH2 và MH3 ở nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng, khác biệt có ý nghĩa
- Áp lực đỉnh ở các khu vực khác của bàn chân ở nhóm bệnh cao hơn không có
ý nghĩa so với nhóm chứng
Nhóm bệnh (n = 126)
Áp lực đỉnh bàn
chân trái (kpa)
Trong nhóm nghiên cứu, tăng áp lực đỉnh bàn chân vị trí nền xương ngón 3 chiếm
tỷ lệ cao nhất và thấp nhất ở vị trí ngón 2
Trang 5BÀN LUẬN
Áp lực được đo bằng tổng số lực cung
cấp cho một đơn vị diện tích và tính bằng
cách chia tổng số lực cho số diện tích mà
nó tác động lên Áp lực bàn chân là lực
tác động giữa bàn chân và bề mặt tiếp
xúc trong các hoạt động vận động hàng
ngày Trong nghiên cứu này, chúng tôi
đánh giá bàn chân phải đối với chỉ số áp
lực đỉnh, ghi nhận tổng chung ở nhóm
chứng (334,06 ± 104,06 kpa) thấp hơn có
ý nghĩa so với nhóm bệnh (386,39 ±
123,64 kpa) với p < 0,05 Áp lực đỉnh cao
nhất ở vị trí ngón cái của nhóm chứng
(270,33 ± 133,57 kpa) thấp hơn nhóm bệnh
(287,53 ± 148,65 kpa) và thấp nhất là vị
trí ngón 3, 4, 5 ở nhóm chứng (85,19 ±
49,09 kpa) cũng thấp hơn nhóm bệnh
(94,97 ± 50,37 kpa), nhưng khác biệt
không có ý nghĩa với p > 0,05; 21,4% đối
tượng ở nhóm bệnh có tăng áp lực đỉnh
chung bàn chân, tăng nhiều nhất ở vị trí
nền xương ngón 1 (79,45%) và thấp nhất
ở vị trí ngón 2 (15,1%) Đánh giá bàn
chân trái đối với chỉ số áp lực đỉnh, chúng
tôi ghi nhận tổng chung ở nhóm chứng
(316,43 ± 282,14 kpa) thấp hơn có ý nghĩa
so với nhóm bệnh (392,85 ± 369,85 kpa)
với p < 0,05 Áp lực đỉnh cao nhất ở vị trí
ngón cái của nhóm chứng (237,29 ±
139,22 kpa) thấp hơn nhóm bệnh (284,64 ±
133,54 kpa), khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05);
thấp nhất là vị trí ngón 3, 4, 5 ở nhóm chứng
(96,73 ± 50,14 kpa) và cao hơn nhóm bệnh
(89,0 ± 51,4 kpa), nhưng khác biệt không
có ý nghĩa với p > 0,05; 33,3% đối tượng
ở nhóm bệnh có tăng áp lực đỉnh chung
bàn chân, tăng nhiều nhất ở vị trí nền
xương ngón 3 (44,4%), thấp nhất ở vị trí
ngón 2 (2,4%)
Qua đó cho thấy đối với nhóm BN ĐTĐ, các chỉ số áp lực bàn chân đều cao hơn nhóm chứng, tương đương với một
số nghiên cứu trên thế giới
Pataky Z và CS (2003) ghi nhận áp lực đỉnh cao nhất ở vị trí ngón cái (220 ± 89 kpa) và thấp nhất là nền xương ngón 5 (112 ± 22 kpa) [1] Kết quả này thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi, có thể do nhóm đối tượng nghiên cứu của Pataky Z
ít hơn (11 BN) và tuổi trung bình cao hơn Lavery L.A, Armstrong D.G và CS (2003) nghiên cứu 1.666 BN ĐTĐ cho kết quả áp lực đỉnh bàn chân 86,6 ± 27,4 N/cm2 [5] Kết quả này cao hơn nghiên cứu của chúng tôi, do đối tượng nghiên cứu có tuổi trung bình, cân nặng cao hơn, thời gian phát hiện bệnh kéo dài hơn Pataky Z, Assal J.P và CS (2005) thực hiện trên
30 BN ĐTĐ và 15 BN không mắc ĐTĐ cho kết quả: ở nhóm BN ĐTĐ tăng áp lực đỉnh ở ngón cái (chân phải: 205 ± 94 kpa
so với 101 ± 39 kpa; chân trái: 165 ± 61 kpa
so với 104 ± 43 kpa); ở nền xương ngón 5 (bàn chân phải: 160 ± 68 kpa so với 97 ±
32 kpa; bàn chân trái: 174 ± 65 kpa so với
91 ± 42 kpa) Tại gót chân, áp lực đỉnh ở nhóm BN ĐTĐ thấp hơn nhóm chứng (bàn chân phải: 187 ± 54 kpa so với 321 ±
91 kpa; bàn chân trái: 184 ± 63 kpa so với
298 ± 110 kpa) [4], kết quả này tương đương nghiên cứu của chúng tôi Qui X, Tian D.H và CS (2015) nghiên cứu tiến cứu trên 65 BN ĐTĐ týp 2, theo dõi trong
2 năm, tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, lực tối đa cao nhất 179 (N) và thấp nhất ở
vị trí ngón 2 - ngón 5 là 4,5 (N); áp lực cao nhất ở vị trí nền xương ngón 1 (160,7 kpa)
và thấp nhất ở vị trí ngón 2 - 5 (5,0 kpa) [3],
Trang 6kết quả này thấp hơn nghiên cứu của
chúng tôi Trần Thị Ngọc Băng (2017) nghiên
cứu 102 BN ĐTĐ týp 2 cho kết quả áp lực
đỉnh bàn chân 427,9 ± 120,9 kpa [6], thấp
hơn nghiên cứu của chúng tôi, điều này
do đối tượng nghiên cứu của Trần Thị
Ngọc Băng có BMI cao hơn Halawa M.R
và CS (2017) nghiên cứu trên 50 BN ĐTĐ
týp 2 và 30 người tình nguyện tham gia,
kết quả cho thấy áp lực tĩnh và áp lực
động ở cả chân trái và chân phải của
nhóm BN ĐTĐ có biến chứng thần kinh
cao hơn nhóm chứng với p < 0,05 Áp lực
động và áp lực tĩnh chân phải và chân trái
ở nhóm BN ĐTĐ có biến chứng thần kinh
cao hơn BN ĐTĐ không có biến chứng
thần kinh với p < 0,05 [2], tương đương
nghiên cứu của chúng tôi
KẾT LUẬN
- Chỉ số áp lực đỉnh bàn chân 2 bên ở
vị trí tổng lực của nhóm bệnh cao hơn
nhóm chứng với p < 0,05
- Chỉ số áp lực đỉnh: vị trí tăng nhiều
nhất ở vùng nền xương ngón 1 bên phải
(79,4%) và 44,4% ở vùng nền xương
ngón 3 bên trái
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Pataky Z, Golay A et al. Relationship between peripheral vascular disease and hight plantar pressures in diabetic neuro - ischaemic patients Diabetes Metab 2002, 29, pp.489-495
2 Halawa M.R, Eid Y.M et al Relationship
of planter pressure and glycemic control in type 2 diabetic patients with and without neuropathy Diabetes and Metabolic Syndrome: Clinical Research and Review 2017, pp.1-6
3 Qui X, Tian D.H et al. Plantar pressure changes and correlating risk factors in Chinese patients with type 2 diabetes:
Preliminary 2 year results of prospective study
Chinese Medical Journal 2015, 128 (24), pp.3283-3392
4 Pataky Z, Assal J.P et al.Plantar pressure distribution in type 2 diabetes patients without peripheral and peripheral vascular disease Diabetes Medicine 2005, 22, pp.762-767
5 Lavery L.A, Armstrong D.G, Wunderlich R.P. Predictive value of foot pressure assessment as part of a population based diabetes disease management program Diabetes Care 2003, 26 (4), pp.1069- 1073
6 Muthuselvi, Shanthi M, Ethiya N.
Comparision of nerve conduction studies in geriatric normal and diabetic subjects IJSR
2015, 4 (4), pp.1084-1086