Giá trị tiên đoán của việc sinh thiết hạch gác lập bản đồ di căn hạch đối với bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến giáp týp nhú (PTC) vẫn chưa được xác định rõ. Bài viết đánh giá tính chính xác của việc phát hiện hạch gác bằng việc sử dụng phương pháp chất hiển thị màu.
Trang 11 Khoa Ung Bướu - Bệnh viện Trường
Đại học Y Dược Huế - Ngày nhận bài (Received): 25/6/2019; Ngày phản biện (Revised): 30/7/2019; - Ngày đăng bài (Accepted): 26/8/2019
- Người phản hồi (Corresponding author):
- Email: ; SĐT:
ÁP DỤNG CHẤT HIỂN THỊ MÀU PHÁT HIỆN HẠCH GÁC TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN GIÁP THỂ NHÚ
Nguyễn Trần Thúc Huân, Phùng Phướng, Hà Thanh Thanh
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Giá trị tiên đoán của việc sinh thiết hạch gác lập bản đồ di căn hạch đối với bệnh nhân ung
thư biểu mô tuyến giáp týp nhú (PTC) vẫn chưa được xác định rõ Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá tính chính xác của việc phát hiện hạch gác bằng việc sử dụng phương pháp chất hiển thị màu.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu này được thiết kế với 31 bệnh nhân được chẩn
đoán PTC Sau khi tiến hành gây mê bệnh nhân, 0,5-3 ml chất hiển thị màu xanh được tiêm vào xung quanh khối u Hạch gác được phát hiện trong quá trình phẫu thuật dựa vào hiển thị màu Cắt tuyến giáp toàn bộ được tiến hành cho tất cả bệnh nhân kèm nạo hạch cổ nhóm VI và/hoặc hạch cổ bên.
Kết quả: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu được 31 bệnh nhân dùng chất hiển thị màu Tỷ lệ phát hiện
hạch gác là 96,8% với độ nhạy 90%; độ đặc hiệu 100%; giá trị dự báo âm tính 95,5% và tỷ lệ âm tính giả 10% Biến chứng của phẫu thuật là: tụ dịch (6,4%), hạ canxi máu tạm thời (19,4%) Tỷ lệ di căn hạch cổ
âm thầm là 32,2% trong đó phát hiện di căn hạch gác bằng chất hiển thị màu là 29%
Kết luận: Phát hiện hạch gác trong PTC bằng chất hiển thị màu là kỹ thuật dễ thực hiện với khả năng
phát hiện hạch di căn với độ chính xác cao.
Từ khóa: Hạch gác, chất hiển thị màu xanh methylene, ung thư biểu mô tuyến giáp týp nhú,nạo hạch
cổ nhóm VI
ABSTRACT
APPLICATION BLUE DYE METHODS TO SENTINEL NODE BIOPSY IN TREATMENT
PAPILLARY THYROID CARCINOMA
Nguyen Tran Thuc Huan, Phung Phuong, Ha Thanh Thanh
Background: The prognostic value of sentinel lymph node biopsy mapping of tumor lymphatics for
determining metastases in patients with papillary thyroid carcinoma (PTC) remains unconfirmed In the current study, we evaluated the accuracy of sentinel node mapping in PTC using blue dye
Material and methods: 31 patients with a diagnosis of PTC were included in the study Immediately
after anaesthesia induction, 0,5-3ml patent blue was injected perinodular Sentinel lymph nodes were detected intraoperatively using blue dye Total thyroidectomy was performed for all patients with dissection
of group VI and/or lateral of neck lymph nodes.
Results: We have 31 patients PTC using blue dye SLNs were identified in 30 of 31 patients (96.8%),
Trang 2the sensitivity, specificity, negative predictive value and false negative rate were: 90%; 100%; 95.5% và 10% respectively The complication of those techniques were: wound fluid (6.4%), transient hypocalcemia: 19.4% Lymph node positive were found for 32.2%, using blue dye were 29%.
Conclutions: Sentinel node mapping in papillary thyroid carcinoma using bule dye is a feasible
technique with high accuracy for the detection of lymph node involvement.
Key words: Sentinel lymph node, methylene blue dye, papillary thyroid carcinoma, lymph node
dissection group VI
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư biểu mô tuyến giáp là một bệnh ung thư
nội tiết thường gặp, chiếm 1,7% tổng số các bệnh
ung thư Ở Việt Nam, ung thư biểu mô tuyến giáp
đứng thứ 9 trong các loại ung thư với tỷ lệ mới mắc
là 5418, xuất độ chuẩn theo tuổi là 7,8/100.000
đối với nữ giới và 1,6/100.000 đối với nam giới
(Globocan 2018) Ung thư biểu mô tuyến giáp týp
nhú (PTC) chiếm 70-80% ung thư biểu mô tuyến
giáp, với thời gian sống còn 10 năm là 93%
Trong điều trị PTC, nạo hạch cổ nhóm VI dự
phòng trong điều trị PTC ngày càng được chú ý với
các ưu điểm sau: giảm tỷ lệ phẫu thuật lại, cung cấp
đầy đủ yếu tố tiên lượng sau phẫu thuật, giảm liều
I-131 điều trị hỗ trợ sau phẫu thuật Tuy nhiên, vẫn
còn nhiều tranh cãi trong chỉ định phẫu thuật nạo
hạch cổ thường quy và nạo hạch cổ nhóm VI dự
phòng trong điều trị PTC
Xuất phát từ những tranh cãi trong việc xác định
vai trò của phẫu thuật cắt giáp toàn phần kèm nạo
hạch cổ nhóm VI dự phòng trong điều trị PTC và
các biến chứng của phẫu thuật này Nhiều tác giả đề
xuất ứng dụng các phương pháp phát hiện hạch gác
ở vùng cổ nhằm đưa ra chỉ định đúng mức cho việc
phẫu thuật nạo hạch cổ trong điều trị ung thư biểu
mô tuyến giáp týp nhú
Hạch gác là một hoặc một số hạch đầu tiên nhận
dẫn lưu bạch huyết hoặc di căn đến Đó là hạch có
nguy cơ di căn cao nhất từ khi có di căn hạch vùng
cổ Điều này có nghĩa, khi hạch gác âm tính thì khả
năng các hạch còn lại của vùng cổ cũng chưa có di
căn Chính vì vậy, hạch gác phản ánh tình trạng của
toàn bộ hạch vùng cổ Hạch gác trong ung thư biểu
mô tuyến giáp thường là hạch cổ nhóm VI cùng bên,
nhưng cũng có thể là hạch cổ nhóm VI đối bên, hạch
cổ bên (II, III, IV và V) Năm 1998, tác giả Kelemen
PR bắt đầu đề cập đến phương pháp phát hiện hạch gác của ung thư biểu mô tuyến giáp týp nhú bằng chất hiển thị màu, tỷ lệ phát hiện là 42% Phương pháp này tuy có ưu điểm là dễ thực hiện nhưng tỷ
lệ phát hiện không cao và còn tùy thuộc nhiều ở kỹ năng của phẫu thuật viên Đến năm 2001 các tác giả như Sahin M, Catarci M, …đề xuất việc phát hiện hạch gác trong ung thư tuyến giáp týp nhú bằng chất đồng vị phóng xạ (Tc-99m) với tỷ lệ phát hiện hạch gác lên đến 68-100% Với phương pháp này có ưu điểm là tỷ lệ phát hiện cao, ít phụ thuộc kỹ năng của phẫu thuật viên, nhưng việc đầu tư phương tiện rất tốn kém
Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành
đề tài nghiên cứu: “Áp dụng chất hiển thị màu
phát hiện hạch gác trong điều trị ung thư biểu mô tuyến giáp týp nhú” với mục tiêu:
1 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân ung thư tuyến giáp dạng nhú được phát hiện hạch gác bằng chất hiển thị màu
2 Đánh giá kết quả phát hiện hạch gác bằng chất hiển thị màu trong phẫu thuật ung thư biểu mô tuyến giáp týp nhú
II PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên các bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến giáp týp nhú, có giai đoạn lâm sàng T1,2,3-N0-M0 được phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp kèm phát hiện hạch gác bằng chất hiển thị màu và nạo hạch cổ nhóm VI/cổ bên tại Khoa
Trang 3Ung U – Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ
01/01/2018 đến 30/6/2019 Loại trừ các bệnh nhân
đã phẫu thuật cắt u sinh thiết và bệnh nhân có tiền
căn xạ trị và hoặc/phẫu thuật lớn ở vùng cổ
2.2 Phương pháp nghiên cứu: mô tả tiến cứu,
không nhóm chứng
2.2.1 Các thông tin của nghiên cứu
-Tuổi, giới, vị trí u, kích thước u, số lượng u
- Đặc điểm mô bệnh học, tính chất xâm lấn
Vị trí, số lượng, kích thước, hạch gác
- Vị trí, kích thước, số lượng hạch cổ
2.2.2 Các bước thực hiện nghiên cứu
2.2.2.1 Sử dụng xanh methylene đơn thuần: áp
dụng cho toàn bộ bệnh nhân thuộc nhóm nghiên cứu
- Chuẩn bị bệnh nhân, gây mê, vô khuẩn, đặt
bệnh nhân nằm ngửa cổ trên bàn mổ, bộc lộ rõ vùng
cổ và tuyến giáp Rạch da vùng cổ theo nếp lằn cổ
thấp, bộc lộ tuyến giáp Tiêm 0,5-3ml dung dịch
xanh methylene 10% (Akorn, USA) 4 vị trí quanh
khối u Xoa bóp nhẹ vùng tiêm trong 5 phút Phẫu
thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp theo chỉ định
- Phẫu tích qua các lớp, lần theo đường bạch
huyết đã bắt màu xanh để tìm và lấy các hạch bắt
màu xanh (hạch gác) Ghi nhận các thông số của
kỹ thuật
2.2.2.2 Các bước xét nghiệm bệnh phẩm hạch gác
2.2.2.2.1 Đối với hạch gác
- Hạch gác sẽ được lấy ra nguyên vẹn, đánh dấu
riêng từng hạch và bỏ vào từng lọ chứa bệnh phẩm
riêng biệt, gửi ngay đến khoa giải phẫu bệnh
- Chuẩn bị bệnh phẩm: loại bỏ hết tổ chức mỡ
xung quanh hạch và cắt đôi hạch theo trục chính Với các hạch có kích thước ≤ 5mm sẽ giữ nguyên lát cắt đó để làm tiêu bản, còn với các hạch có kích thước > 5mm sẽ cắt tiếp các lát cắt với độ dày 2mm
để làm tiêu bản
- Sinh thiết tức thì: bệnh phẩm hạch gác sau khi đã được chuẩn bị được đưa vào máy làm lạnh với nhiệt độ - 54oC (Leica CM1860 UV, Leica BioSystems, Đức) Khi đã đạt độ lạnh tối ưu để cố định, bệnh phẩm được cắt và nhuộm H&E để đánh giá tình trạng di căn Phần bệnh phẩm đối xứng sẽ được chuyển nhuộm H&E thường quy và hóa mô miễn dịch
- Nhuộm H&E thường quy: bệnh phẩm được cố định bằng formalin trung tính trong 8-48 giờ, sau đó được chuyển đúc khối nến và nhuộm H&E thường quy theo quy trình chuẩn
2.2.2.2.2 Đối với hạch cổ nhóm VI và hạch cổ bên Hạch cổ nhóm VI và hạch cổ bên được chuyển nhuộm H&E thường quy để đánh giá tình trạng di căn 2.2.2.2.3 Đối với khối u tuyến giáp
Nhuộm H&E thường quy để đánh giá các đặc điểm mô bệnh học
Các tiêu chí về mô bệnh học + Loại mô học
+ Đặc điểm xâm lấn bạch mạch của khối u + Độ mô học
2.2.2.3 Các chỉ số đánh giá
Tình trạng hạch gác và hạch cổ (nhóm VI và hạch cổ bên) được trình bày trong bảng 1 như sau:
Các khái niệm được xác định cụ thể như sau:
- Dương tính thật (a): kết quả sinh thiết hạch gác
là di căn trên bệnh nhân có di căn hạch cổ
- Dương tính giả (b): kết quả sinh thiết hạch gác
là di căn trên bệnh nhân không có di căn hạch cổ
- Âm tính thật (d): kết quả sinh thiết hạch gác là không di căn trên bệnh nhân không di căn hạch cổ
- Âm tính giả (c): kết quả sinh thiết hạch gác là không di căn trên bệnh nhân có di căn hạch cổ
Trang 4Từ bảng 1 trên, các chỉ số được tính toán như
sau:
- Tỷ lệ phát hiện = Số BN phát hiện được hạch
gác/ Số BN được làm thủ thuật
- Độ nhạy = Số bệnh nhân có kết quả sinh thiết
hạch gác dương tính/ Số BN có di căn hạch cổ = a/
(a+ c)
- Độ đặc hiệu = Số BN có kết quả sinh thiết hạch
gác âm tính / Số bệnh nhân không có di căn hạch cổ
= d/ (b+ d)
- Giá trị dự báo dương tính = Số BN di căn hạch
cổ có xét nghiệm hạch gác dương tính / Tổng số BN
có xét nghiệm hạch gác dương tính = a/(a+b)
- Giá trị dự báo âm tính = Số BN không có di
căn hạch cổ có xét nghiệm hạch gác âm tính / Tổng
số BN có xét nghiệm hạch gác âm tính = d/(c+d)
- Độ chính xác toàn bộ = (Số lượng hạch gác
dương tính thật + âm tính thật)/ Số hạch gác được phát hiện = (a+d)/(a+b+c+d)
- Tỷ lệ âm tính giả = Số BN có kết quả sinh thiết
hạch gác âm tính trong số các bệnh nhân có di căn hạch cổ/ Số BN có di căn hạch cổ = c/(a+c)
2.2.2.4 Thống kê
- Cỡ mẫu: 31 bệnh nhân được dùng chất hiển thị màu để phát hiện hạch gác
- Số liệu được thu thập và xử lý thống kê y học với phần mềm SPSS 22.0
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nhóm nghiên cứu thực hiện trên 31 trường hợp bệnh nhân dùng chất hiển thị màu để phát hiện hạch gác
3.1 Đặc điểm lâm sàng nhóm nghiên cứu
Bảng 2 Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Vị trí u
Mức độ xâm lấm
- Độ tuổi trung bình 44,9 tuổi, kích thước u
dao động từ 1,0-5,5 cm Tỷ lệ nữ/nam là 6,75/1
Phân nhóm giai đoạn bệnh theo AJCC 8th (2017)
sau khi có kết quả giải phẫu bệnh của hạch gác
và hạch cổ bên: 18 bệnh nhân T3N0-1, 1 bệnh nhân T4aN1 và 1 bệnh nhân T4bN1 Nhóm bệnh nhân có phân nhóm PTC cổ điển chiếm đa số (83,9%)
Trang 5Bảng 3 Đặc điểm phẫu thuật của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Mức độ phẫu thuật
Nạo nhóm VI + cổ bên 5 16,1%
Nhóm cổ bên (cùng bên) 2 6,4% Không bắt màu hạch gác 1 3,2%
Thời gian phát hiện hạch gác (phút) 5,0 – 22,0 phút (10,1 ± 3,4 phút)
- Tỷ lệ phát hiện hạch gác bằng chất hiển thị màu là 96,8% Đa phần hạch gác được phát hiện tại vị trí nhóm VI cùng bên (90,3%), chỉ có 2 bệnh nhân phát hiện tại hạch cổ nhóm III-IV cùng bên (6,4%)
- Biến chứng sau phẫu thuật bao gồm tụ dịch vết mổ, được xử trí bằng hút và dẫn lưu ổ mổ Hạ canxi máu sau phẫu thuật, được xử trí bằng Canxiclorua tĩnh mạch và Vitamin D (tất cả các bệnh nhân này đều hồi phục sau 1 tháng)
- Thời gian tiến hành thủ thuật phát hiện hạch gác bằng chất hiển thị màu trung bình là 10,1 ± 3,4 phút.
- Di căn hạch cổ trong nhóm nghiên cứu là 32,2%; trong đó có 29% được phát hiện dương tính qua hạch gác di căn
Bảng 4 Các yếu tố liên quan đến tình trạng phát hiện hạch gác
Tuổi
< 55 tuổi
Số lượng u
Đơn ổ
Vị trí
Một thùy
Kích thước u
≤ 2cm
Xâm lấn
Không xâm lấn
Loại mô bệnh học
PTC cổ điển
Trang 6Tỷ lệ phát hiện 30/31 96,8 %
Giá trị dự báo dương tính 9/9 100 %
Giá trị dự báo âm tính 21/22 95,5 %
Độ chính xác toàn bộ 30/31 96,8 %
Tỷ lệ âm tính giả 1/10 10 %
- Phát hiện hạch gác trong ung thư biểu mô tuyến giáp bằng chất hiển thị màu có tỷ lệ phát hiện, độ nhạy
và độ đặc hiệu lần lượt là: 96,8%, 90% và 100%
Bảng 6 Các yếu tố liên quan đến di căn hạch gác
Tuổi
< 55 tuổi
Số lượng u
Đơn ổ
Vị trí
Kích thước u
Xâm lấn
Loại mô bệnh học
- Tình trạng di căn hạch gác ở các nhóm có xâm lấn cao hơn nhóm không xâm lấn (40% so với 18,2%),
mô bệnh học PTC biến thể cao hơn nhóm PTC cổ điển (40% so với 30,8%), kích thước u > 2 cm cao hơn nhóm u ≤ 2cm (42,9% so với 17,6%); tuy nhiên những sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
- Không có sự khác biệt về thống kê của tình trạng phát hiện hạch gác với các nhóm yếu tố như: tuổi, số lượng u, vị trí u, tình trạng xâm lấn hay loại mô bệnh học
Bảng 5 Các chỉ số đánh giá kỹ thuật phát hiện hạch gác bằng chất hiển thị màu
Tình trạng di căn hạch
Di căn Không di căn Hạch cổ (Nhóm VI và cổ bên) Tổng số
Trang 7IV BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu
4.1.1 Tuổi
Trong 31 bệnh nhân của nhóm nghiên cứu, bệnh
nhân nhỏ tuổi nhất là 17 tuổi và lớn tuổi nhất là
71 tuổi Giữa các nhóm tuổi có tần suất khác nhau
và tập trung cao nhất là nhóm bệnh nhân < 55 tuổi
chiếm tỷ lệ 71%, tuổi mắc bệnh trung bình là 44,9
± 14,6 tuổi Đây cũng là độ tuổi thường được chẩn
đoán ung thư biểu mô tuyến giáp týp nhú Tương tự
các nghiên cứu của Lim L HY và cộng sự, có độ tuổi
trung bình là 43,9 ± 15,2, với độ tuổi nghiên cứu từ
12 đến 83 tuổi, nghiên cứu của Michael Tuttle R và
cộng sự với độ tuổi nghiên cứu từ 18 đến 83 tuổi, độ
tuổi trung bình là 46 ± 15 [6][11]
4.1.2 Giới tính
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nữ giới chiếm
tỷ lệ cao với 87,1% Tỷ lệ nữ/nam: 6,75/1 Điều này
phù hợp với các tác giả trong nước như Trần Ngọc
Lương với nữ/nam: 7/1; Nguyễn Hữu Hòa và cộng
sự (2007): 6,1/1 [11] Tỷ lệ nữ giới mắc ung thư biểu mô tuyến giáp cao hơn nam giới có thể do nữ giới có nồng độ TSH và Thyroxine binding globulin (TBG) cao hơn
4.1.3 Kích thước u
Kích thước u là một yếu tố tiên lượng độc lập đối với tình trạng tái phát và di căn xa của ung thư biểu
mô tuyến giáp týp nhú [11] Trong nghiên cứu của chúng tôi, u có kích thước ≤ 2 cm chiếm 54,8%, chỉ
có 16,1% trường hợp có u > 4 cm, tỷ lệ này cũng tương đương với các tác giả như Bilimoria Karl Y
và cộng sự là 12,1% [6] và Trương Thành Trí là 15,5% [11]
4.1.4 Số lượng u
Chúng tôi có 17 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 54,8% là
đa ổ, trong đó có 25,8% bệnh nhân là đa ổ hai thùy
Các tỷ lệ này tương đối phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả trong nước như Trương Thành Trí
là 47,4% [11] và các tác giả nước ngoài khác như Grissby PW, Kim ES, Pacini F [6]
Bảng 7 So sánh tỷ lệ u đa ổ hai thùy
Nghiên cứu Tỷ lệ % trường hợp đa hạt 2 thùy
Điều này phù hợp với nhận định của Mazzaferri và Kloos (2001) là “20%-80% ung thư biểu mô tuyến
giáp týp nhú có đa ổ hai thùy”.
4.1.5 Tình trạng di căn hạch
Bảng 8 Liên quan giữa số lượng hạch gác bắt màu và tình trạng di căn hạch
Số lượng hạch gác bắt màu
Tổng số
- Không có mối liên quan giữa số lượng hạch gác bắt màu và tình trạng di căn hạch gác (p=0,51)
Bảng 9 Liên quan giữa số lượng hạch được nạo và tình trạng di căn hạch
Tình trạng di căn hạch cổ
Tổng số Không di căn Di căn hạch cổ
- Không có mối liên quan giữa số lượng hạch cổ được nạo và tình trạng di căn hạch (p=0,16)
Trang 8Bảng 10 Liên quan giữa giai đoạn T và tình trạng di căn hạch gác
Tình trạng di căn hạch gác
Tổng số Không di căn Di căn hạch gác
- Không có mối liên quan giữa giai đoạn T và tình trạng di căn hạch gác (p=0,34) Tuy nhiên, có 2/11
trường hợp T1-2 (18,2%) có di căn hạch gác
4.2 Kết quả phát hiện hạch gác bằng chất hiển thị màu
Bảng 11 So sánh các nghiên cứu phát hiện hạch gác bằng chất hiển thị màu
Tác giả Phương pháp n Số lượng chất hiển thị màu Tỷ lệ phát hiện hạch gác %
Haigh & Giuliano (2000) Chất hiển thị màu 38 0,5-1ml 87% Arch-Ferrer (2001) Chất hiển thị màu 22 0,5ml 91%
Tsugawa (2001) Chất hiển thị màu 38 0,2-0,5ml 71%
Pelizzo(2001) Chất hiển thị màu 29 0,25ml/cm u 76%
Fukui (2001) Chất hiển thị màu 22 0,1ml 4 góc u 95%
Hình minh họa quá trình sinh thiết hạch gác bằng chất hiển thị màu
A: Bộ lộ u, trước tiêm xanh methylene B: Bộ lộ u, sau tiêm xanh methylene
Trang 9Theo hướng dẫn của NCCN [6] và ATA [1] (Hiệp
hội tuyến giáp Hoa Kỳ), phẫu thuật nạo hạch cổ dự
phòng trong điều trị ung thư biểu mô tuyến giáp týp
nhú được khuyến cáo khi bệnh nhân có: T3,4 và N0
nhưng phẫu thuật cắt giáp toàn phần kèm nạo hạch cổ
nhóm VI dự phòng làm tăng biến chứng tổn thương
tuyến phó giáp và thần kinh quặt ngược thanh quản
Tuy nhiên, theo tác giả Bonnet S [3] tỷ lệ di căn hạch
âm thầm đối với nhóm bệnh nhân ung thư biểu mô
tuyến giáp týp nhú có u < 2 cm là 40% và tỷ lệ biến
chứng là 0% Chính nghiên cứu này đặt ra vấn đề
phát hiện hạch gác trong điều trị ung thư biểu mô
tuyến giáp týp nhú giúp chỉ định nạo hạch cổ chính
xác và kỹ thuật bộc lộ tuyến phó giáp và thần kinh
quặt ngược thanh quản giúp giảm thiểu tối đa các
biến chứng này [7] Trong nghiên cứu của chúng tôi,
tỷ lệ di căn hạch âm thầm của nhóm T1-2 là 18,2%,
nhóm T3-4 là 40% Sau phẫu thuật, chỉ có 19,4% suy
phó giáp tạm thời, không có biến chứng tổn thương
thần kinh quặt ngược thanh quản
Năm 1998, Klemen và cộng sự [5] tiến hành
nghiên cứu phát hiện hạch gác trong điều trị ung
thư biểu mô tuyến giáp týp nhú bằng chất hiển thị
màu với tỷ lệ phát hiện chỉ 42% Tuy nhiên, kỹ
thuật này càng ngày càng được hoàn thiện qua báo
cáo đa trung tâm của Balasubramanian và Harrison
với hơn 832 bệnh nhân, tỷ lệ phát hiện hạch gác
lên đến 83,7% [2] Trong nghiên cứu của chúng tôi,
tỷ lệ phát hiện hạch gác là 96,8% trong đó tỷ lệ di
căn là 29% cao hơn các nghiên cứu của các tác giả
C: Bộc lộ hạch gác bắt màu D: Bộc lộ hạch gác bắt màu
khác, điều này có thể do trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ T3, T4 chiếm tỷ lệ cao: 64,8%
V KẾT LUẬN
Quan nghiên cứu 31 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến giáp týp nhú được phẫu thuật phát hiện hạch gác bằng chất hiển thị màu tại Khoa Ung Bướu – Bệnh viện Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế từ 01/01/2018 đến 30/6/2019, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
Về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng: độ tuổi
thường gặp là < 55 tuổi chiếm tỷ lệ 71%, phần lớn bệnh nhân là nữ giới với tỷ lệ nữ/nam: 6,75/1; kích thước u ≤ 2cm chiếm 54,8%, đa phần có tình trạng u xâm lấn xung quanh: cơ dưới móng 58,1%; khí quản, mạch máu 6,4% Về phân độ TMN, tỷ lệ bệnh nhân
có T3-4 là 64,8% Kết quả mô bệnh học: ung thư biểu
mô tuyến giáp týp nhú cổ điển chiếm 83,9%
Về kết quả phát hiện hạch gác bằng chất hiển thị màu: thời gian phát hiện hạch trung bình là 10,1
± 3,4 phút, biến chứng suy phó giáp tạm thời 19,4%, không có biến chứng suy phó giáp vĩnh viễn và tổn thương thần kinh quặt ngược thanh quản Kết quả phẫu thuật: tỷ lệ phát hiện hạch gác là 96,8%; trong
đó độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự báo âm tính và độ chính xác toàn bộ lần lượt là: 90%; 100%; 100%; 95,5% và 96,8% Tỷ lệ
di căn hạch cổ âm thầm là 32,2% trong đó phát hiện
di căn hạch gác bằng chất hiển thị màu là 29%
Trang 101 American Thyroid Association Management
Guidelines for Adult Patients with Thyroid
Nodules and Differentiated Thyroid Cancer,
Haugen, Alexander et al (2016), “ The American
Thyroid Association Guidelines Task Force on
Thyroid Nodules and Differentiated Thyroid
Cancer ”, Thyroid 26(1), pp 1-133.
2 Balasubramanian SP, Harrison BJ (2011),
“Systematic review and meta-analysis of sentinel
node biopsy in thyroid cancer”, Br J Surg 98, pp
334 – 344
3 Bonnet S (2009) “Prophylactic lymph node
dissection for PTC less than 2 cm: Implicacion
for radioiodine treatment”, J Clin Endocrinol
Metab (94), pp:1162-1167.
4 Catarci M, Zaraca F, Angeloni R et al (2001),
“Preoperative lymphoscintigraphy and sentinel
lymph node biopsy in papillary thyroid cancer A
pilot study ”, J Surg Oncol 77, pp 21-24.
5 Klemen PR, Van Herle AJ, Giuliano AE (1998), “
Sentinel lymphadenectomy in thyroid malignant
neoplasms ”, Arch Surg 133, pp 288 – 292.
6 NCCN Clinical practice guidelines in oncology
(2018), “Thyroid carcinoma”, nccn.org
7 Roh JL et al (2007), “ Total thyroidectomy plus neck dissection in differentiated papillary thyroid carcinoma patients: pattern of nodal metastasis, morbility, recurrence and postoperative levels of
serum parathyroid hormone ”, Ann Surg (245),
pp: 604-610
8 Sahin M, Yapici O, Dervisogu A et al (2001),
“Evaluation of lymphatic drainage of cold thyroid nodules with intratumoral injection of Tc-99m
nanocolloid ”, Clin Nucl Med 26, pp 602 - 605.
9 P G H M Raijmakers, M A Paul, P Lips (2008),
“Sentinel node detection in patients with thyroid
carcinoma: a meta-analysis ”, World J Surg 32,
pp 1961 – 1967
10 Yoav Yanir, Ilana Doweck (2008), “Regional metastases in Well-differentiated thyroid
carci-noma : Pattern of spread”, The Laryngoscope,
Volume 118 (3), pp 434
11 Nguyễn Trần Thúc Huân, Phùng Phướng và cs (2016), “Nghiên cứu biến chứng nạo hạch nhóm
VI trong điều trị carcinoma tuyến giáp dạng
nhú”, Tạp chí Y dược Huế, số 4, tr 54-61.
TÀI LIỆU THAM KHẢO