Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là khảo sát giải phẫu và các biến thể thường gặp của động mạch thận ở người Việt Nam trưởng thành.
Trang 1CỦA ĐỘNG MẠCH THẬN Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH
BẰNG X QUANG CẮT LỚP ĐIỆN TOÁN
Nguyễn Phan Ngọc Thảo*, Nguyễn Văn Ân**, Đặng Đình Hoan**, Hồ Thế Lâm Hải****,
Võ Tấn Đức ***, Trần Minh Hoàng***.
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Hiểu rõ các biến thể giải phẫu của mạch máu thận rất quan trọng, nhất là trước khi tiến hành
ghép thận, cắt thận bán phần, phẫu thuật mở, tái tạo mạch máu cho động mạch thận bị hẹp hoặc phình động mạch chủ bụng. Trong những năm gần đây, chụp mạch bằng X quang cắt lớp điện toán nhiều dãy đầu dò đã trở thành phương tiện chẩn đoán hình ảnh chủ yếu để khảo sát mạch máu thận và đầy thách thức với kĩ thuật chụp mạch qui ước. Đây là phương tiện khảo sát không xâm lấn, nhanh chóng và cung cấp những hình ảnh chính xác, chi tiết về giải phẫu và các biến thể của động mạch thận. Khảo sát số lượng mạch máu, kích thước, nguyên ủy của động mạch thận rất thuận lợi khi chụp mạch bằng X quang cắt lớp điện toán.
Mục đích: Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là khảo sát giải phẫu và các biến thể thường gặp của động
mạch thận ở người Việt Nam trưởng thành.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến hành tại khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh bệnh viện Bình Dân,
thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 9/2012 đến tháng 12/ 2012, với 164 bệnh nhân được chụp X quang cắt lớp điện toán bụng có tiêm thuốc cản quang. Bệnh nhân có bất thường bẩm sinh thận, hẹp động mạch thận hoặc đã phẫu thuật thận sẽ bị loại khỏi nghiên cứu.
Kết quả: Nguyên ủy của động mạch thận chính đa số xuất phát từ ngang mức L1 trở lên, tỉ lệ bên phải
(57,9%), bên trái (49,4%). Đường kính động mạch thận chính bên phải (5,04 ± 0,52 mm), bên trái (5,22 ± 0,83 mm). Chiều dài của động mạch thận chính bên phải (38,26 ± 11 mm), bên trái (30,49 ± 9,75 mm). Động mạch thận đơn chiếm tỉ lệ 78% trong dân số. Các biến thể động mạch thận: tỉ lệ đa động mạch thận là 22%, chia nhánh sớm của động mạch thận chính là 9,8%. Tỉ lệ động mạch thận phụ bên phải (15,2%), bên trái (27,4%) và chia nhánh sớm của động mạch thận chính bên phải (3,8%), bên trái (15,8%). Nếu đường kính động mạch thận chính
là 4,15 mm thì khả năng xuất hiện động mạch thận phụ có độ nhạy (33,3%), độ đặc hiệu (98%), giá trị tiên đoán dương (82,8%), giá trị tiên đoán âm (84%). Nếu đường kính động mạch thận chính là 4,85 mm thì khả năng xuất hiện động mạch thận phụ có độ nhạy (83,3%), độ đặc hiệu (77,3%), giá trị tiên đoán dương (50,8%), giá trị tiên đoán âm (94,3%).
Kết luận: Nguyên ủy của động mạch thận ngang thân sống L1 chiếm đa số. Động mạch thận phụ xuất hiện
trong dân số chiếm tỉ lệ khá cao. Nghiên cứu này khảo sát những động mạch thận bình thường dựa trên chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn.
Từ khóa: động mạch thận, chụp mạch bằng X quang cắt lớp điện toán
*** Khoa Chẩn đoán hình ảnh BV ĐH Y Dược TPHCM
**** Khoa Chẩn đoán hình ảnh BV Chợ Rẫy TPHCM
Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Phan Ngọc Thảo ĐT: 0908497569; Email: ngocthao82cc@yahoo.com
Trang 2MDCT ANGIOGRAPHY OF RENAL ARTERIES: NORMAL ANATOMY AND VARIANTS.
Nguyen Phan Ngoc Thao, Nguyen Van An, Dang Dinh Hoan, Ho The Lam Hai, Vo Tan Đuc , Tran Minh Hoang* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 251 ‐ 257
Background: Knowledge of the variations in renal vascular anatomy is important before laparoscopic donor
or partial nephrectomy and vascular reconstruction for renal artery stenosis or abdominal aortic aneurysm. Recently, multidetector computed tomographic (MDCT) angiography has become a principal imaging investigation for assessment of the renal vasculature and has challenged the role of conventional angiography. It
is an excellent imaging technique because it is a fast and non‐invasive tool that provides highly accurate and detailed evaluation of normal renal arterial anatomy and variants. The number, size and course of the renal arteries are easily identified by MDCT angiography.
Purpose: The purpose of this pictorial essay is to illustrate MDCT angiography of normal anatomy and
common variants of the renal arteries of the Vietnamese adults.
Materials and Methods: This is a descriptive cross‐sectional study conducted at the Radiology
Department of Binh Dan hospital, Ho Chi Minh City. From September 2012 to December 2012, 164 patients who presented at Binh Dan hospital for abdominal CT examinations with various indications were included to this study. Patients with a congenital renal abnormality, stenosis in the renal artery, or a history of any renal surgery were excluded.
Results: The main renal arteries which originated from the aorta at L1 level were found 57.9 % on right side
and 49.4 % on the left side the patients. The mean diameters of main renal artery were 5.04 ± 0.52 mm on the right‐ hand and 5.22 ± 0.83 mm on the left‐ hand. The mean length of the right‐hand renal arteries was calculated
as 38.26 ± 11 mm and the left‐hand as 30.49 ± 9.75 mm.
A single renal arteries were presented in both kidneys in 78% of the patients. Renal artery variations included multiple arteries in 22%, and early division in 9.8% of the cases. Additional renal arteries on the right side were found in 15.2% and on the left side in 27.4% of the cases. Early branching arteries were presented in 3,6% of right kidneys and 15.8% of left kidneys. A cut‐off value of 4.15 mm for the diameter of (mRA) to predict the presence of the accessory renal artery (aRAs) led to the sensitivity, specificity, positive and negative predictive values of 33.3 %, 98 %, 82.8 % and 84 %, respectively. A cut‐off value of 4.85 mm for the diameter of mRA to predict the presence of the aRAs led to the sensitivity, specificity, positive and negative predictive values of 83.3
%, 77.3 %, 50.8 % and 94.3 %, respectively.
Conclusion: Renal arteries originated from the first lumbar vertebral levels in most patients. Additional
renal arteries were quite frequent. These results should be kept in mind when a non‐invasive diagnostic search is performed for normally renal artery.
Key words: renal artery, Multidetector Computed Tomography Angiography.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việc hiểu rõ các biến thể giải phẫu của động
mạch thận rất quan trọng, nhất là trước khi tiến
hành ghép thận, cắt thận bán phần, phẫu thuật
mở, điều trị can thiệp do hẹp hoặc phình động
mạch chủ bụng nhằm hạn chế các tai biến trong
phẫu thuật niệu khoa có thể xảy ra do biến thể
của động mạch thận. Bên cạnh đó, cùng với xu
hướng phát triển vượt bậc của phẫu thuật ghép
thận trên thế giới trong những năm gần đây nên
có nhiều nghiên cứu về những bất thường hay gặp nhất của động mạch thận ghép như nhiều động mạch thận, động mạch thận quá nhỏ hoặc quá ngắn… Vì vậy, việc khảo sát động mạch thận ở người cho và nhận thận trước khi tiến hành phẫu thuật là rất quan trọng. Những năm gần đây, sự phát triển vượt bậc về chẩn đoán hình ảnh đã hỗ trợ đắc lực cho lâm sàng; đặc
Trang 3nhiều dãy đầu dò đã phát triển vượt bậc nên
việc khảo sát tất cả các mạch máu trong cơ thể
rất dễ dàng, an toàn và máy đã được trang bị
rộng khắp mọi miền đất nước. Mặc khác, chụp
mạch bằng X quang cắt lớp điện toán có độ
chính xác gần giống như chụp mạch số hóa xóa
nền theo nhiều nghiên cứu(5,8,13).
Do vậy mục đích chính của đề tài này là
nghiên cứu hình ảnh giải phẫu và các biến thể
của động mạch thận ở người Việt Nam trưởng
thành từ 18 đến 50 tuổi bằng X quang cắt lớp
điện toán, với các mục tiêu sau:
Khảo sát giải phẫu: nguyên ủy, kích thước
của động mạch thận chính trên người trưởng
thành bình thường trên X quang cắt lớp điện
toán.
Khảo sát tỉ lệ xuất hiện các biến thể của động
mạch thận.
Khảo sát mối tương quan giữa độ lớn của
đường kính động mạch thận chính với sự xuất
hiện của động mạch thận phụ.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang.
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân từ 18 tuổi đến 50 tuổi đến khám
tại bệnh viện Bình Dân có chụp CT bụng tiêm
thuốc cản quang từ tháng 09/2012 đến 12/2012.
Mẫu
Lấy mẫu theo cách thuận tiện và ngẫu nhiên,
phù hợp tiêu chuẩn chọn bệnh, n = 164.
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân từ 18 ‐ 50 tuổi có bệnh lý thận
mắc phải: u hệ niệu, u sau phúc mạc hoặc đã
phẫu thuật vùng sau phúc mạc, cao huyết áp
do hẹp động mạch thận, không đủ hai thận hai
bên vùng hố thận, dị tật bẩm sinh thận. Hình
ảnh CT bụng: xơ vữa đóng vôi gây hẹp lòng
mạch, túi phình, dị dạng động mạch thận. Bể
thận, niệu quản dãn to hoặc biến dạng do bất
kỳ nguyên nhân.
Phương tiện, kĩ thuật nghiên cứu
Máy CT 64 lát cắt hiệu Phillip tại bệnh viện
Bình Dân. Nhập dữ liệu gốc của đối tượng đã
lấy từ máy CT64 Philip vào máy chủ (Workstation) của máy CT64 GE, sau đó dùng phần mềm phân tích động mạch thận có sẵn của máy GE để đo chiều dài, đường kính của các động mạch thận. Đường kính động mạch thận được đo tại vị trí cách nơi xuất phát từ 10mm đến 15mm, nơi mà độ rộng của động mạch tương đối đồng nhất(8). Nếu mỗi thận chỉ có một động mạch thì đây là động mạch thận chính. Nếu mỗi thận có nhiều động mạch thận thì đường kính động mạch nào lớn nhất được xem động mạch thận chính(8). Động mạch thận chính chia nhánh sớm, là khoảng cách từ động mạch chủ bụng đến chỗ chia động mạch vào rốn thận dưới 20 mm(8,9).
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Nguyên ủy, kích thước của ĐM thận chính
Bảng 1. So sánh nguyên ủy ĐM thận chính
Nguyên ủy của
ĐM thận
Chúng tôi (%) Özkan (5) (%) Phải Trái Phải Trái
Như vậy, theo nghiên cứu của chúng tôi vị trí xuất phát của động mạch thận chính từ bờ dưới thân sống L1 trở lên chiếm đa số; tương tự với kết quả của Özkan và y văn.
Bảng 2. So sánh các kích thước ĐM thận chính với
các tác giả
Tác giả ĐM thận (P) (mm) ĐM thận (T) (mm)
ĐKTB CDTB ĐKTB CDTB
Trịnh Xuân
Lê Văn
4,34 55 4,2 48,36
* Tác giả không đề cập
Theo khảo sát của chúng tôi, đường kính động mạch thận phải nhỏ hơn đường kính động
Trang 4phải dài hơn đường kính động mạch thận trái,
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,05).
Tuy nhiên, đường kính động mạch thận
chính của chúng tôi lớn hơn tác giả Võ Văn Hải,
có thể do vị trí đo và khác biệt lớn nhất là chúng
tôi khảo sát động mạch thận trên người sống
bằng X quang cắt lớp điện toán còn tác giả đo
trên xác ướp formol. Chúng tôi đo đường kính
động mạch thận chính cách vị trí xuất phát từ 10
‐ 15mm hoặc ngay trước chỗ chia nhánh nếu
động mạch thận chính chia nhánh sớm, theo
cách đo của tác giả Ramadan(8), riêng tác giả Võ
Văn Hải(14) đo đường kính động mạch thận tại
chỗ xuất phát và ngay trước chỗ chia nhánh.
Theo cách đo của tác giả Võ Văn Hải rất hay vì
có thể tìm sự khác biệt đường kính động mạch
thận giữa hai vị trí đo nhưng vì thời gian tiến
hành nghiên cứu của chúng tôi bị giới hạn về
thời gian nên chúng tôi không theo cách đo trên.
Theo các nghiên cứu của tác giả trong nước,
đặc biệt của tác giả Lê Văn Cường(4), chúng ta dễ
dàng nhận thấy rằng các chỉ số trong nghiên cứu
nhỏ hơn nhiều so với tất cả các nghiên cứu khác.
Điều này có thể do nghiên cứu được tiến hành
trên xác ướp formol, thời gian ngâm xác lâu nên
có sự thay đổi đáng kể về độ căng bề mặt, thành
mạch co lại khá rõ và đương nhiên có sự chênh
lệch với người bình thường.
Biến thể động mạch thận
Chúng tôi khảo sát biến thể động mạch thận
ở người trưởng thành không có dị tật bẩm sinh
về thận bao gồm: động mạch thận phụ và động
mạch thận chính chia nhánh sớm.
Nhằm thuận lợi cho việc lấy thận để cấy
ghép, các nhà lâm sàng cần quan tâm đến số
lượng động mạch thận cung cấp máu cho toàn
bộ thận bao gồm động mạch thận chính và động
mạch cực thận, vì nó quyết định cho phương
pháp tái tạo mạch máu trước ghép(12). Nhiều tác
giả cho rằng sự phân nhánh “sớm” của động
mạch thận chính, đặc biệt là dưới 10 mm thì
động mạch thận chính sẽ bị chít hẹp sau khi quả
thận này được ghép(6),(7),(9).
Bảng 3. Tóm tắt tỉ lệ biến thể ĐM thận của tác giả
trong và ngoài nước.
Tác giả Số quả
thận
Tỉ lệ biến thể ĐM thận (%)
1 ĐM ≥ 2 ĐM Chia sớm
*Tác giả không đề cập
Chúng tôi nhận thấy rằng, sự xuất hiện động mạch thận phụ có tỉ lệ dao động từ 19% đến 34% trong các nghiên cứu trong và ngoài nước, điều này phù hợp với y văn, Khamanarong(3) về tỉ lệ xuất hiện của động mạch thận phụ: Châu Phi (37,1%), Ấn Độ (17,4%), da trắng (35,3%) và da màu (18,5%).
Vào năm 2012, Piyaporn(7) đã khảo sát 130 quả thận của người Thái Lan bằng CTA và tỉ lệ động mạch thận phụ 23,1% và tác giả Özkan(5)
đã nghiên cứu trên 855 bệnh nhân được chụp mạch máu thận số hóa xóa nền (DSA) và đã báo cáo tỉ lệ này là 24%. Khảo sát trên dân tộc Việt Nam, kết quả của chúng tôi là 22%, tương tự với
Võ Văn Hải(14) nhưng thấp hơn Trịnh Xuân Đàn(11), điều này có thể lý giải do khác biệt về cỡ mẫu nghiên cứu; có thể số lượng chọn mẫu của chúng tôi là phù hợp về mặt thống kê.
Trên cùng mẫu nghiên cứu này, chúng tôi có
tỉ lệ chia nhánh sớm của động mạch thận chính
là 9,8%, tương đương nghiên cứu của tác giả Saldarriaga(10),nhưng kết quả của chúng tôi thấp hơn đa số các tác giả khác: Holden(2), Özkan(5), Piyaporn(7), Raman(9). Điều này có thể giải thích
là do sự khác biệt về chủng tộc.
Bảng 4. So sánh biến thể của ĐM thận (P)&(T) của
các tác giả.
Tác giả Dạng biến thể ĐM thận (%)
Trang 5Thận phải Thận trái
1 ĐM ≥ 2 ĐM Chia
sớm
1 ĐM ≥ 2 ĐM Chia
sớm
*Tác giả không đề cập.
Theo nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ đa
động mạch thận bên phải (15,2%), bên trái
(28,6%), hoàn toàn tương tự với tác giả
Raman(9), Piyaporn(7) về tỉ lệ đa động mạch
thận bên phải và trái. Tuy nhiên, tỉ lệ trên vẫn
có khác biệt so với một số nghiên cứu nhưng
điều này chỉ có thể giải thích do khác biệt cỡ
mẫu nghiên cứu và chủng tộc.
Chúng tôi khảo sát thấy tỉ lệ chia sớm của
động mạch thận chính bên phải (3,6%), thấp hơn
nhiều lần so với tác giả Raman(9), Piyaporn(7),
Özkan(5), Holden(2); và tỉ lệ chia sớm của động
mạch thận chính bên trái (15,8%) tương tự với
nghiên cứu của Özkan(5), Holden(2) và thấp hơn
Raman(9), Piyaporn(7). Những khác biệt ở trên có
thể do khác nhau về chủng tộc, số lượng mẫu
nghiên cứu, hoặc do phương tiện nghiên cứu
khác nhau như: xác ướp formol, chụp mạch
bằng X quang cắt lớp điện toán hay X quang số
hóa xóa nền
Khảo sát mối tương quan giữa độ lớn của
đường kính động mạch thận chính với sự
xuất hiện của động mạch thận phụ.
Khảo sát có hoặc không có một động mạch
thận phụ hỗ trợ rất nhiều trong thực hành lâm
sàng thường qui và hướng dẫn những thủ
thuật can thiệp, đặc biệt là trước phẫu thuật đối với phẫu trường nhỏ như nội soi hoặc cắt thận nội soi sau phúc mạc, quyết định kế hoạch phẫu thuật hệ niệu đơn giản hơn và tránh những bất ngờ có thể xảy ra quanh vùng phẫu thuật(6). Biến chứng chảy máu trong phẫu thuật do động mạch thận phụ và việc bỏ sót một động mạch thận phụ có thể gây ra nhồi máu ở thận ghép hoặc gây cao huyết áp ở người nhận. Bên cạnh đó, chụp mạch thận bằng X quang cắt lớp điện toán trước khi phẫu thuật, tình cờ phát hiện động mạch thận phụ
bị hẹp gây ra tình trạng cao huyết áp cho bệnh nhân nhưng huyết động học của động mạch thận chính trên siêu âm lại bình thường(13). Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ động mạch thận phụ là 22%, tương đương với các kết quả nghiên cứu trên nhiều phương pháp khảo sát như: trên xác ướp của tác giả Võ Văn Hải(14) (23,8%), chụp động mạch số hóa xóa nền của Özkan(5) (24%) và chụp động mạch thận bằng CTA trong các nghiên cứu của Ramadan(8) (22,8%), Piyaporn(7) (23,1%), Holden(2) (23%). Do đó, chúng tôi nhận thấy rằng kết quả chụp mạch bằng X quang cắt lớp điện toán gần giống với chụp mạch số hóa xóa nền phù hợp với nhiều nghiên cứu trên thế giới (9,13).
Chúng tôi nhận thấy rằng, đường kính động mạch thận chính nhỏ hơn khi có động mạch thận phụ, tương đồng với báo cáo của Ramadan(8) và Aytac(1), đã đặt ra câu hỏi là tại các điểm cắt của đường kính động mạch thận chính có thể quyết định sự xuất hiện của động mạch thận phụ hay không?
Bảng 5. So sánh độ nhạy và độ đặc hiệu của chúng tôi với tác giả Ramadan (8) và Aytac (1)
Điểm cắt
(mm)
Chúng tôi Ramadan Aytac Chúng tôi Ramadan Aytac
Nếu tại điểm cắt đường kính của động
mạch thận chính là d= 4,15 mm thì độ nhạy
thấp nhất (33,3%), độ đặc hiệu cao nhất (98%), giá trị tiên đoán dương (82,8%), tiên đoán âm
Trang 6(84%), điều này cho thấy rằng khả năng xuất
hiện của động mạch thận phụ với độ chính xác
là 82,8% khi đường kính động mạch thận
chính ≤ 4,15 mm và không có động mạch thận
phụ với độ chính xác là 84 % khi đường kính
động mạch thận chính ≥ 4,15 mm.
Bảng 7. So sánh giá trị tiên đoán dương, tiên đoán
âm của chúng tôi với tác giả Ramadan (8)
Điểm cắt
(mm)
Giá trị tiên đoán
dương
Giá trị tiên đoán âm Chúng tôi Ramadan Chúng tôi Ramadan
4,85 50,8 58 94,3 85
4,65 70,2 64 86,1 84
4,15 82,8 90 84 80
Điểm cắt tốt nhất giữa các nhóm bệnh nhân
sử dụng DSA& MDCT(1), những nghiên cứu đã
cho thấy rằng khả năng có một động mạch thận
phụ cao khi đường kính động mạch thận chính
≤ 4,15 mm, thông tin này rất quan trọng trong
nghiên cứu của chúng tôi và các tác giả
Ramadan(8) và Aytac(1) nhằm hỗ trợ cho thực
hành lâm sàng.
Nghiên cứu của chúng tôi không phối hợp
nhiều phương tiện khảo sát hình ảnh khác như
nhiên X quang cắt lớp điện toán nhiều dãy đầu
thu thu nhận dữ liệu đẳng trường nên cho hình
ảnh gần giống với tình trạng thực. Theo y văn,
độ chính xác của MDCT gần bằng với DSA và tỉ
lệ xuất hiện động mạch thận phụ tương tự nhiều
nghiên cứu(1,8). Những thông tin thu được về có
hoặc không có động mạch thận phụ sử dụng
gián tiếp mô tả ở trên không thể loại trừ yêu cầu
quy tắc chụp mạch bằng X quang cắt lớp điện
toán hoặc cộng hưởng từ để đánh giá động
mạch trước khi phẫu thuật.
KẾT LUẬN
Qua khảo sát 164 cặp thận ở người trưởng
thành Việt Nam, tương ứng với 328 quả thận
của 79 nam (48,1%), 85 nữ (51,9%), có độ tuổi từ
18 đến 50, chúng tôi đưa ra kết luận sau:
Nguyên ủy của động mạch thận chính đa số
xuất phát từ ngang mức thân sống L1 trở lên
chiếm tỉ lệ cao nhất, bên phải là 57,9 %, bên trái
là 49,4%. Chiều dài của động mạch thận chính bên phải (38,26 ± 11 mm) luôn luôn dài hơn so với bên trái (30,49 ± 9,75 mm). Đường kính của động mạch thận chính bên phải (5,04 ± 0,52 mm) nhỏ hơn so với bên trái (5,22 ± 0,83 mm).
Các biến thể động mạch thận: tỉ lệ chia nhánh sớm của động mạch thận chính là 9,8%, bên trái (15,8%) và bên phải (3,8%); tỉ lệ xuất hiện động mạch thận phụ là 22%, bên trái (27,4%) và bên phải (15,2%).
Nếu đường kính động mạch thận chính là 4,15 mm thì khả năng xuất hiện động mạch thận phụ có độ đặc hiệu cao nhất (98%) và giá trị tiên đoán dương cao nhất (82,8%), giá trị tiên đoán âm cũng khá cao (84%). Nếu đường kính động mạch thận chính là 4,85 mm thì khả năng xuất hiện động mạch thận phụ có độ nhạy cao nhất (83,3%), độ đặc hiệu (77,3%) và giá trị tiên đoán dương (50,8%), giá trị tiên đoán âm cao nhất (94,3 %).
KIẾN NGHỊ
Với kết quả nghiên cứu này, bước đầu đã cho ra được những chỉ số về kích thước động mạch thận. Theo số lượng chọn mẫu của chúng tôi có lẽ đã đạt về mặt ý nghĩa thống kê so với nhiều tác giả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, số lượng mẫu vẫn còn hạn chế so với dân số Việt Nam. Vì thế, để có thể áp dụng cho toàn thể người Việt Nam ta cần có những bước nghiên cứu tiếp theo: mở rộng mẫu nghiên cứu, chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm để mang tính đại diện hơn và cần kết hợp với các chỉ số chiều cao, cân nặng của đối tượng nghiên cứu để tìm sự tương quan giữa các yếu tố này với kích thước động mạch thận.
Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ khảo sát biến thể động mạch thận, chúng tôi đề nghị nghiên cứu mới khảo sát biến thể tĩnh mạch thận và nghiên cứu về động mạch thận trên người có các dị tật bẩm sinh thận: như thận móng ngựa, thận đơn độc, thận lạc chỗ…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 71 Aytac SK, and et al (2003), ʺCorrelation Between the Diameter
of the Main Renal Artery and the Presence of an Accessory
Renal Arteryʺ, J. Ultrasound Med., (17), p. 433‐439.
potential renal donors for laparoscopic nephrectomy with
multi‐detector row helical CTʺ, Radiographics, p. 973‐ 980.
of renal arterial supplyʺ, Clin. Anat., (17), p. 34‐336.
người Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ Y học, , tr. 123‐ 127.
variations: angiographic evaluation of 855 consecutive
patientsʺ, Diagn Interv Radiol, (12), p. 183‐186.
transplantation donorsʺ, Radiology, (16), p. 1‐ 7.
living related renal donors: evaluation with CT
angiographyʺ, J Med Assoc Thai, (7), p. 941‐948.
dimensions and the main renal artery diameter indicate the
presence of an accessory renal artery? A 64 slice CT studyʺ,
Diagnostic and Interventional Radiology, (17), p. 266‐ 271.
normal and variant renal parenchymal and vascular anatomy
laparoscopic renal donorsʺ, AJR, (188), p. 105‐114.
the renal artery. A direct anatomical study in a Colombian
half‐caste populationʺ, Int. J. Morphol, (26), p. 31‐38.
11 Trịnh Xuân Đàn (1999), Nghiên cứu giải phẫu hệ thống bể đài
thận và mạch máu, thần kinh thận của người Việt Nam trưởng thành, Luận án tiến sĩ Y học, tr. 39‐ 76.
(2012), ʺNhận xét một số bất thường về mạch máu thận ghép
qua 98 trường hợp tại Bệnh viện 103 QĐNDʺ, Y học thực hành
TP. Hồ Chí Minh, 16, tr. 17‐ 19.
volume‐ rendered CT angiography of the renal arteries and
veins: normal anatomy, variants, and clinical applicationsʺ,
Radiographics, (21), p. 373‐386.
bình thường và người có bệnh lý khúc nối bể thận niệu quản, Luận
án Tiến Sĩ y học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
Ngày nhận bài báo: 22/11/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/11/2013 Ngày bài báo được đăng : 05/01/2014