Mục đích nghiên cứuMục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động cũng như thực trạng nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu của công ty trong thờigian qua, đề tà
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 CPĐT: Cổ phần đầu tư
2 XD&TM: xây dựng và thương mại
3 NSLĐ & LN: năng suất lao động và lợi nhuận
4 LN: lợi nhuận
5 TSLN: tỷ suất lợi nhuận
6 HQKD: hiệu quả kinh doanh
7 VLĐ: vốn lưu động
8 VCĐ: vốn cố định
9 NSLĐ: năng suất lao động
10 CFNK: chi phí nhập khẩu
11 DTNK: doanh thu nhập khẩu
12 LNNK: lợi nhuận nhập khẩu
Trang 3DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU VÀ HÌNH
I Bảng số liệu
Bảng 1: Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng của công ty giai đoạn 2012 -2015Bảng 2: Các chỉ tiêu lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận công ty giai đoạn 2012 – 2015Bảng 3: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của công ty giai đoạn
2012 – 2015
Bảng 4: Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động
II Hình
Hình 1: Kim ngạch nhập khẩu giai đoạn 2012 – 2015
Hình 2: Tăng trưởng lợi nhuận qua các năm 2012 – 2015
Hình 3: Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu, theo chi phí qua các năm 2012 – 2015Hình 4: Hiệu quả sử dụng VLĐNK qua các năm 2012 - 2015
Hình 5: Số vòng quay VLĐNK giai đoạn 2012 – 2015
Hình 6: Thời gian quay 1 vòng vốn lưu động giai đoạn 2012 – 2015
Hình 7: Thời hạn thu hồi vốn của công ty giai đoạn 2012 – 2015
Hình 8: Hệ số đảm nhiệm vốn giai đoạn 2012 – 2015
Hình 9: NSLĐ và LN bình quân LĐ giai đoạn 2012 - 2015
Trang 4CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiệu quả kinh doanh nói chung luôn là một vấn đề được các doanh nghiệp hếtsức quan tâm Nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng là mục tiêu cuối cùng các doanhnghiệp hướng tới
Mặt hàng cửa cuốn là mặt hàng mới xuất hiện và phát triển phổ biến tại ViệtNam vài năm gần đây Nắm bắt xu thế đó nhiều doanh nghiệp đã tận dụng cơ hội đểnhập khẩu và kinh doanh mặt hàng này Công ty CPĐT XD & TM Gia Khánh đượcthành lập từ tháng 2/2011 là một trong các doanh nghiệp nhập khẩu cửa cuốn vàphụ kiện và tiến hành phân phối hàng nhập khẩu này trên thị trường Hà Nội cũngnhư thị trường các tỉnh khác Trong thời gian qua, dù đã có những thành tựu nhấtđịnh trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu nhưng hiệu quả kinh doanh của công tychưa thực sự đạt được kết quả cao đúng với chi phí công ty bỏ ra
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Được thành lập từ tháng 2/2011, công ty Gia Khánh cho đến nay đã hoạt độngđược hơn 5 năm trên thị trường Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất địnhnhưng vi9f còn là một công ty non trẻ nên vẫn còn gặp phải một số vấn đề làm ảnhhưởng đến doanh thu và lợi nhuận của công ty khiến hiệu quả kinh doanh nhậpkhẩu nói riêng và hiệu quả kinh doanh của công ty nói chung bị ảnh hưởng nhấtđịnh và có xu hướng giảm Chính vì thế, nâng cao hiệu quả kinh doanh hoạt độngnhập khẩu là yêu cầu đặt ra cho công ty trong thời gian tới
Xuất phát từ lý do trên, em lựa chọn đề tài chuyên đề khóa luận tốt
nghiệp là: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu của công ty CPĐT XD & TM Gia Khánh” nhằm đưa ra các giải pháp giúp nâng cao hiệu
quả hoạt động nhập khẩu, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty.
Trang 51.3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động
cũng như thực trạng nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu của công ty trong thờigian qua, đề tài đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độngnhập khẩu, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của toàn công ty nóichung
1.4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ đề tài là:
- Hệ thống hóa lý luận về nhập khẩu, hiệu quả kinh doanh nhập khẩu cũng như
sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
- Phân tích thực trạng hoạt động nhập khẩu, hiệu quả kinh doanh nhập khẩu vàthực trạng việc nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của công ty trong thời gianqua
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu củacông ty trong thời gian tới
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là vấn đề hiệu quả kinh doanh nhập
khẩu mặt hàng cửa cuốn của công ty CPĐT XD & TM Gia Khánh giai đoạn 2012-2015
Về kết cấu đề tài, ngoài phần lời mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 4
chương:
- Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Chương II: Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của
doanh nghiệp
- Chương III: Thực trạng nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu cửa cuốn
và phụ kiện của công ty CPĐT XD & TM Gia Khánh
- Chương IV: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
kinh doanh hoạt động nhập khẩu cửa cuốn và phụ kiện của công ty
Cuối cùng em xin được gửi lời cảm ơn tới ban giám đốc, phòng kinh doanhcủa công ty CPĐT XD & TM Gia Khánh đã chỉ bảo, giúp đỡ em trong thơi gianthực tập Do điều kiện thời gian hạn hẹp, kiến thức còn nhiều hạn chế nên đề tài của
em còn nhiều thiếu sót Nhưng em hy vọng rằng nó có thể góp phần nâng cao hiệuquả hoạt động nhập khẩu nói riêng cũng như hiệu quả kinh doanh nói chung củacông ty, để công ty có thể đạt được các mục tiêu đã đề ra
Em cũng xin chân thành cảm ơn thạc sỹ Nguyễn Duy Đạt – người đã tận tìnhhướng dẫn để em hoàn thành được đề tài này
Trang 6CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
2.1 Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
2.1.1 Khái niệm HQKD, HQKD nhập khẩu của doanh nghiệp
2.1.1.1.Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Tham gia vào hoạt động kinh tế, nói chung bất cứ đơn vị nào cũng hướng tớimục tiêu lợi nhuận Tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng các doanh nghiệptheo đuổi Với một đồng vốn bỏ vào kinh doanh, ai cũng muốn nó mang lại nhiềuđồng lợi nhuận nhất Muốn đạt được điều đó, các doanh nghiệp không ngừng đầu tưcho nghiên cứu thị trường, thay đổi quy trình, công nghệ, cải tiến sản phẩm, cắtgiảm chi phí sản xuất cũng như các chi phí liên quan… Tất cả những điều đó, nóimột cách khác là sắp xếp, sự hợp lý hoá quá trình sản xuất kinh doanh “Hiệu quảkinh doanh” là một thuật ngữ để đánh giá, xem xét mức độ hợp lý hóa quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
Dưới nhiều góc độ khác nhau, có rất nhiều quan điểm, ý kiến về thuật ngữ
“hiệu quả kinh doanh” này Có thể kể đến một số quan điểm sau đây:
Quan điểm thứ nhất cho rằng “ Hiệu quả kinh doanh là kết quả đạt được trong
hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa” Quan điểm đã thể hiện đượcmối liên hệ giữa doanh thu và hiệu quả kinh doanh Theo quan điểm này, hiệu quảkinh doanh là như nhau nếu các hoạt động kinh doanh cùng mang lại một mứcdoanh thu Có thể thấy, trên thực tế để mang lại cùng một mức doanh thu nhưngdoanh nghiệp phải có sự đầu tư khác nhau cho các hoạt động khác nhau Mức đầu
tư đó chính là chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt được doanh thu Chưa phản ánhđược điều này chính là hạn chế của quan điểm trên về hiệu quả kinh doanh
Quan điểm thứ hai cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần
tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí” So với quan điểm thứ nhất,quan điểm này đã thể hiện được mối liên hệ giữa doanh thu và chi phí Nó phản ánhđược trình độ sử dụng đồng vốn tăng thêm của doanh nghiệp, trên cơ sở đó giúpdoanh nghiệp ra quyết định có nên đầu tư mở rộng hoạt động đó hay không Mặc
Trang 7dù vậy, quan điểm này vẫn còn hạn chế nhất định, đó là việc nó mới chỉ phản ánhmối liên hệ giữa chi phí và doanh thu bổ sung mà chưa phản ánh được mối liên hệgiữa doanh thu và chi phí ban đầu Mà trên thực tế, ban đầu doanh nghiệp phải bỏvốn đầu tư tới một ngưỡng nhất định mới có thể có doanh thu bước đầu Với nhữngđầu tư ban đầu, quan điểm về hiệu quả kinh doanh ở trên chưa phản ánh được trình
sử dụng chúng
Quan điểm thứ ba cho rằng “ Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh
giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có thể có được kết quả đó” Quan điểmnày đã phản ánh được mối liên hệ giữa doanh thu và chi phí bỏ ra để có kết quả đó.Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh chính là lợi nhuận thu được từ hoạt động
đó So với hai quan điểm trên, quan điểm này đã phản ánh được mối quan hệ bảnchất của hiệu quả kinh doanh Quan điểm này cho thấy, với những hoạt động khácnhau, với cùng một lượng vốn bỏ ra mà thu về cùng một lượng giá trị thì các hoạtđộng kinh doanh đó đã có hiệu quả như nhau Nhưng trên thực tế, điều này là khôngchính xác Quan điểm về hiệu quả kinh doanh này chưa thể hiện được vai trò củacác yếu tố khác như thời gian thu được kết quả, quy mô hoạt động… Đây cũngchính là hạn chế của quan điểm này
Quan điểm thứ tư cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù phản ánh
mối liên hệ giữa sự vân động của kết quả với sự vận động cửa chi phí bỏ ra để đạtkết quả đó, đồng thời phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất” Về cơbản, quan điểm này đã phản ánh được mối liên hệ bản chất về hiệu quả kinh doanhgiữa doanh thu và chi phí cũng như sự vận động của hai yếu tố này, đồng thời cònphản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp Tuy vậy, hạn chếcủa nó là chưa thể hiện được mối quan hệ chặt chẽ giữa hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp với hiệu quả kinh tế xã hội
Với bốn quan điểm trên về hiệu quả kinh doanh, chúng ta vẫn chưa tìm rađược đáp án chung và chính xác nhất để nói về hiệu quả kinh doanh Một cách tổng
quát, có thể nói rằng: “ Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình
độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp
để thực hiện ở mức độ cao nhất các mục tiêu kinh tế xã với chi phí thấp nhất” Nó
là thước đo phản ánh trình độ tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh của doanh
Trang 8nghiệp Quan điểm này đã quản ánh được mối liên hệ bản chất giữa việc sử dụngcác nguồn lực và kết quả do nó mang lại, đồng thời cũng thể hiện được trình độ sửdụng các nguồn lực cũng như phản ánh được mối liên hệ giữa hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp với hiệu quả kinh tế xã hội Trên góc độ nền kinh tế quốc gia,hiệu quả kinh doanh phải phản ánh mức độ thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao củangười dân và toàn bộ xã hội về cả chất lượng lẫn số lượng Hiệu quả được xem xéttrên cơ sở lợi ích toàn xã hội, làm sao để đạt được mức phát triển lớn nhất vớinguồn lực xã hội thấp nhất.
2.1.1.2 Khái niệm hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
Về cơ bản, dưới góc độ kinh tế đơn thuần hiệu quả kinh doanh nhập khẩu cũngnhư hiệu quả kinh doanh nói chung Có thể nói rằng hiệu quả kinh doanh nhập khẩucủa doanh nghiệp chính là trình độ sử dụng các nguồn lực để nhập khẩu và trình độ
tổ chức quản lý của doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội ở mức độcao nhất với chi phí nhất định trong quá trình nhập khẩu Như đã biết, hoạt độngnhập khẩu thường sử dụng ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, thiết bị hay hàng hóa, gópphần cân đối nền kinh tế Với đặc điểm này, hiệu quả hoạt động nhập khẩu đã phảnánh cả hiệu quả kinh tế xã hội Hoạt động nhập khẩu lúc này đã tạo động lực pháttriển kinh tế xã hội
Với doanh nghiệp, hoạt động nhập khẩu đạt hiệu quả khi kết quả thu về là lớnnhất với chi phí bỏ ra thấp nhất Đồng thời, hiệu quả kinh doanh nhập khẩu còn thểhiện trình độ cũng như khả năng sử dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho hoạtđộng kinh doanh nhập khẩu đó
Trên góc độ toàn xã hội, hoạt động nhập khẩu chỉ đạt được hiệu quả khi kếtquả thu về từ việc nhập khẩu hàng hóa của nhà cung cấp nước ngoài cao hơn kếtquả thu về nếu tiến hành sản xuất hàng hóa đó trong nước, nói cách khác, hoạt độngnhập khẩu dạt hiệu quả khi nó góp phần nâng cao hiệu quả xã hội, làm tăng chấtlượng hàng hóa và hạ giá thành sản phẩm
Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu là một phạm trù phức tạp, nó chịu tác dụngcủa nhiều yếu tố và bao hàm nhiều nội dung hơn Hoạt động nhập khẩu có hiệu quảphải đồng thời mang lại lợi ích cho doanh nghiệp tiến hành hoạt động và đảm bảo
Trang 9mang lại những lợi ích cho doanh nghiệp tiến hành hoạt động và đảm bảo mang lạinhững lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội.
2.1.2 Phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
Dưới nhiều góc độ khác nhau, dựa vào các căn cứ khác nhau người ta có nhiềucách phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu Dưới đây là một số cách phân loạihiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
2.1.2.1 Căn cứ vào phương pháp tính hiệu quả
Theo căn cứ này, bao gồm hiệu quả tương đối và hiệu quả tuyệt đối
* Hiệu quả tuyệt đối
Hiệu quả tuyệt đối là đại lượng thể hiện sự chênh lệch giữa kết quả thu được
và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó đối với mỗi phương án kinh doanh, trongtừng thời kỳ với từng doanh nghiệp khác nhau Hiệu quả tuyệt đối được thể hiệnqua tương quan chênh lệch của kết quả và chi phí, nói cách khác đó là sự chênh lệchgiữa tổng doanh thu và tổng chi phí Có thể hiểu hiệu quả tuyệt đối qua công thứcsau:
E = KQ – CF (*)
Trong đó:
- E: hiệu quả tuyệt đối, là chỉ tiêu trực tiếp đo lường lợi nhuận doanh nghiệpthu được sau mỗi kỳ kinh doanh Hiệu quả tuyệt đối thường được đo bằng các đơn
vị tiền tệ như: triệu đồng, tỷ đồng, triệu USD,
- KQ: Tổng các kết quả thu được bao gồm: doanh thu từ hoạt động bán hàng,doanh thu từ hoạt động tài chính, các khoản thu khác,… Kết quả thường được đobằng các đơn vị tiền tệ như: triệu đồng, tỷ đồng, triệu USD,
- CF: Tổng các chi phí bỏ ra để thu được kết quả trên bao gồm: tiền nhập hàng
từ nước ngoài về, chi phí vận chuyển, chi phí mua bảo hiểm hàng hóa, chi phí lưukho, bảo quản hàng, chi phí vay lãi ngân hàng, chi phí mua ngoài, tiền lương côngnhân viên, Chi phí thường được đo bằng các đơn vị tiền tệ như: triệu đồng, tỷđồng, triệu USD,…
Cần lưu ý rằng, trong kinh doanh, doanh thu và chi phí có thể được đo lườngbằng các đơn vị tiền tệ khác nhau nhưng khi tính hiệu quả tuyệt đối cần đưa về cùng
Trang 10một đơn vị tiền tệ để tính Khi kết quả và chi phí được đo bằng đồng tiền nào đểtính thì hiệu quả cũng được tính bằng đồng tiền đó.
* Hiệu quả tương đối
Hiệu quả tương đối là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuấtcủa doanh nghiệp Với CF và KQ như trong công thức (*) ở trên, ta có cách tínhhiệu quả tương đối với các ý nghĩa khác nhau:
Chỉ tiêu 1:
H1 = Error!
Về mặt ý nghĩa chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng chi phí bỏ ra sẽ mang lại baonhiêu đồng kết quả Điều này cũng có nghĩa rằng chỉ tiêu này phản ánh hiệu quảkinh doanh, đồng thời thể hiện sức sản xuất của các yếu tố đầu vào, cũng như việc
sử dụng vốn của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp được coi là hoạt động có hiệu quả khi doanh nghiệp đó hoạtđộng có lãi Nói cách khác, ít nhất doanh nghiệp đó phải đảm bảo được doanh thu
đủ bù đắp chi phí Về mặt toán học, điều đó có nghĩa là kết quả doanh nghiệp đạtđược phải lớn hơn chi phí bỏ ra (hay KQ > CF) Vì vậy, một doanh nghiệp được coi
là hoạt động hiệu quả khi chỉ tiêu H1 nêu trên có giá trị lớn hơn 1 Chỉ tiêu này càng
cao thể hiện doanh nghiệp kinh doanh càng hiệu quả và ngược lại
Chỉ tiêu 2:
H2 = Error!
Về mặt ý nghĩ, chỉ tiêu này là chỉ tiêu phản ánh ngược của chỉ tiêu trên Chỉtiêu này cho biết để thu được về một đồng kết quả, doanh nghiệp phải bỏ ra baonhiêu đồng chi phí Với các doanh nghiệp có quy trình sản xuất kinh doanh hơp lý,thì một đồng vốn bỏ vào hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra nhiều đồng kết quả hơn sovới các doanh nghiệp khác Ngược lại với chỉ tiêu trên, chỉ tiêu này càng thấp thểhiện hiệu quả kinh doanh, sử dụng vốn của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.Dưới góc độ toán học, khi giá trị của H2 nhỏ hơn 1 cho thấy chi phí doanhnghiệp bỏ ra ít hơn kết quả thu về ( có nghĩa là CF < KQ), cũng có nghĩa doanhnghiệp hoạt động hiệu quả
Trang 112.1.2.2 Căn cứ vào phạm vi tính hiệu quả
Theo phạm vi, hiệu quả kinh doanh bao gốm hiệu quả kinh doanh tổng hợp vàhiệu quả kinh doanh bộ phận
* Hiệu quả kinh doanh tổng hợp
Là hiệu quả kinh doanh tính chung cho toàn doanh nghiệp, cho tất cả các bộphận trong doanh nghiệp.Nó cho biết kết quả thực hiện các mục tiêu doanh nghiệp
đề ra trong một giai đoạn nhất định
* Hiệu quả kinh doanh bộ phận
Là hiệu quả kinh doanh được tính cho từng bộ phận, từng hoạt động kinhdoanh trong doanh nghiệp, hoặc với từng yếu tố sản xuất của doanh nghiệp nhưvốn, lao động… Hiệu quả kinh doanh bộ phận chỉ phản ánh hiệu quả từng hoạtđộng, từng yếu tố riêng lẻ chứ không phản ánh được hết hiệu quả của toàn doanhnghiệp
Giữa hiệu quả kinh doanh bộ phận và hiệu quả kinh doanh tổng hợp có mốiliên hệ mật thiết Hiệu quả kinh doanh tổng hợp tăng có thể phản ánh sự tăng lêntương ứng của hiệu quả kinh doanh bộ phận, cũng có thể hiệu quả kinh doanh bộphận không đổi hoặc đang giảm sút Mặc dù phản ánh chi tiết và chính xác hiệu quả
sử dụng các yếu tố sản xuất riêng biệt như sự đóng góp của chúng, nhưng chỉ tiêuhiệu quả kinh doanh bộ phận không phản ánh được một cách tổng quát khả năng,trình độ sử dụng nguồn lực vào sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả kinh doanhtoàn doanh nghiệp
2.1.2.3 Căn cứ theo thời gian mang lại hiệu quả
Khi tính toán hiệu quả, ngoài phạm vi tính toán thì giới hạn là một yếu tố quantrọng phản ánh chính xác hiệu quả doanh nghiệp đạt được Theo căn cứ thời giannày, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gồm hiệu quả trước mặt và lâu dài
* Hiệu quả kinh doanh trước mắt
Hiệu quả kinh doanh trước mắt là hiệu quả được đánh giá, xem xét trongkhoảng thời gian ngắn trước mắt Kết quả được xem xét là kết quả mang tính tạmthời để có thể phát triển ổn định, bền vững, để đạt được các mục tiêu trước mắtcũng như các mục tiêu trong chiến lược trước mắt còn phải cân nhắc để đảm bảohiệu quả kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp mình
Trang 12* Hiệu quả kinh doanh lâu dài
Hiệu quả kinh doanh lâu dài là hiệu quả được xem xét trong một phạm vi thờigian khá dài, thường gắn với các chiến lược, kế hoạch phát triển bền vững củadoanh nghiệp Không thể lấy hiệu quả ngắn hạn để phản ánh hiệu quả lâu dài, bời vìtrên thực tế, tình hình thị trường cũng như môi trường kinh doanh luôn biến động,thay đổi Không thể lấy hiệu quả ngắn hạn để phản ánh hiệu quả lâu dài, bởi vì trênthực tế, tình hình thị trường cũng như môi trường kinh doanh luôn biến động, thayđổi Không phải giai đoạn nào cũng như nhau Với lý do này, hiệu quả kinh doanhlâu dài sẽ phản ánh chính xác và đầy đủ hơn hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệptrong suốt quá trình hoạt động
2.1.2.4 Căn cứ theo góc độ dánh giá hiệu quả
Theo căn cứ này, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bao gồm hiệu quả tàichính và hiệu quả kinh tế xã hội
* Hiệu quả tài chính
Hiệu quả tài chính cũng chính là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, đây là hiệu quả được xem xét, phân tích dưới góc độ doanh nghiệp Vớihoạt động nhập khẩu, hiệu quả tài chính chính là mối liên hệ giữa các lợi ích màdoanh nghiệp nhận được từ hoạt động nhập khẩu đó và chi phí doanh nghiệp bỏ ra.Đối với các doanh nghiệp, tiêu chuẩn phản ánh hiệu quả tài chính chính là lợinhuận Đây cũng chính là mục tiêu cuối cùng mà các doanh nghiệp hướng tới cũng
là mối quan tâm lớn nhất của các doanh nghiệp nói chung
* Hiệu quả chính trị - xã hội
Hiệu quả chính trị - xã hội là hiệu quả được xem xét dưới góc độ xã hội Đóchính là lợi ích mà hoạt động kinh doanh mang lại cho xã hội, là sự đóng góp vàoviệc phát triển kinh tế, nâng cao mức sống cho người dân Các lợi ích mà hoạt độngnhập khẩu có thể mang lại cho xã hội như: góp phần phát triển sản xuất, đổi mới cơcấu kinh tế, tăng năng suất lao động, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu, cải thiện điềukiện sống cho nhân dân, tích lũy ngoại tệ,
Giữa hiệu quả tài chính và hiệu quả chính trị - xã hội là mối liên hệ gắn bó.Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp vì theo đuổi mục tiêu hiệu quả tài chính mà bỏquên hiệu quả chính trị - xã hội Họ sẵn sàng cắt giảm chi phí bằng cách bỏ qua việc
Trang 13xử lý các hậu quả do hoạt động sản xuất gây nên như ô nhiễm môi trường, ô nhiễmnguồn nước,…
2.1.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
LNNK: lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu
DTNK: doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu, thường là doanh thutiêu thụ sản phẩm trong mỗi kỳ kinh doanh
CFNK: chi phí cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu, được tính bằng tổng củacác khoản chi phí như: giá mua hàng hóa, các chi phí vận chuyển, bảo hiểm, lưukho, bảo quản, chi phí trả lương nhân viên, các khoản thuế phải nộp, các tổn thấtkhác trong kỳ liên quan hoạt động nhập khẩu
LNNK, DTNK, CFNK được tính bằng các đơn vị tiền tệ như: triệu đồng, tủđồng, triệu USD,… Dù DTNK, CFNK được đo lường bằng các đơn vị tiền tệ khácnhau, nhưng khi tính toán LNNK đạt được, cần chú ý đưa về cùng một đơn vị tính,một loại tiền Khi đó, lợi nhuận được tính bằng đồng tiền chung quy về đó
Trong kinh doanh, lợi nhuân các doanh nghiệp thu được sau mỗi kỳ kinhdoanh là rất khác nhau, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố Lợi nhuận có thể mang giádương nhưng cũng có thể mang giá âm Khi nó dương, điều đó có nghĩa là doanhnghiệp hoạt động có lãi, có hiệu quả Khi lợi nhuận mang trị số âm, điều đó thể hiệndoanh nghiệp đang thua lỗ, hoạt độngkhông đạt hiệu quả, nếu duy trì tình trạng nàytrong thời gian dài, có thể sẽ dẫn doanh nghiệp đến phá sản
Về mặt ý nghĩa, lợi nhuận là cơ sở để doanh nghiệp duy trì hoạt động, đồngthời tái sản xuất kinh doanh Lợi nhuận càng lớn, tiềm lực tài chính của doanhnghiệp càng tăng, nó cũng chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày
Trang 14càng đạt hiệu quả cả Đây là cơ sở để doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động, tạođiều kiện cải thiện đời sống người lao động Lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận cũng làmục tiêu cuối cùng các doanh nghiệp hướng tới.
Mặc dù là chỉ tiêu quan trọng nhưng lợi nhuận lại không phản ánh được hếthiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp Lợi nhuận chỉ phản ánh sự chênhlệch về lượng giữa doanh thu và chi phí hoạt động kinh doanh nhập khẩu mà khôngphản ánh được quá trình sinh ra nó Do đó, để đánh giá chính xác và hiệu quả,người ta thường so sánh lợi nhuận với doanh thu, chi phí và nguồn vốn phục vụhoạt động nhập khẩu
* Tỷ suất lợi nhuận nhập khẩu
(2)Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu nhập khẩu
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mối liên
hệ giữa lợi nhuận đạt được và doanh thu thu về
Tỷ suất lợi nhuận được tính theo công thức sau:
(3)Tỷ suất lợi nhuân theo chi phí nhập khẩu
Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mối liên hệgiữa lợi nhuận đạt được bỏ ra và chi phí bỏ ra
Tỷ suất lợi nhuận được tính theo công thưc sau:
Trong đó:
Trang 15Dcf: tỷ suất lợi nhuận theo chi phí bỏ ra cho hoạt động nhập khẩu, được tínhbằng tỷ lệ %.
LNNK, CFNK: lợi nhuận nhập khẩu, chi phí nhập khẩu được tính như chi phí
ở chỉ tiêu (1) ở trên
Về mặt ý nghĩa, chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phí bỏ ra cho hoạt độngkinh doanh nhập khẩu mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Cũng như tỷ suất lợinhuận theo doanh thu, chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo chi phí càng cao thì thể hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao
2.1.3.2 Các chỉ tiêu bộ phận
* Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn nhập khẩu
(4)Hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhập khẩu
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhập khẩu là một chỉ tiêu bộ phận, phản ánhkhả năng sinh lời của một đồng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhập khẩu được tính theo công thức:
Trong đó:
Hvld: hiệu quả vốn lưu động nhập khẩu
LNNK: như chỉ tiêu (1) ở trên
VLĐNK: vốn lưu động nhập khẩu, được tính bằng các đơn vị tiền tệ như: triệuđồng, tỷ đồng, triệu USD, Vốn lưu động nhập khẩu là các khoản vốn lưu độngđược sử dụng cho hoạt động nhập khẩu như: Các khoản tiền mặt dung cho nhậphàng, các khoản vay, các khoản tạm ứng, các chi phí trả trước, cho hoạt động nhậpkhẩu
Về mặt ý nghĩa, chỉ tiêu này phản ánh, một đồng vốn lưu động đầu tư cho hoạtđộng nhập khẩu mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn chững tỏkhả năng sử dụng vốn lưu động cho hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp cànghiệu quả
Trang 16(5)Số vòng quay vủa vốn lưu động nhập khẩu
Số vòng quay của vốn lưu động nhập khẩu là một chỉ tiêu bộ phận, phản ánhkhả năng quay vòng vốn luu động nhập khẩu
Số vòng quay của vốn lưu động nhập khẩu được tính theo công thức:
Trong đó:
Svq: số vòng quay vốn lưu động nhập khẩu trong một kỳ kinh doanh, đượctính bằng đơn vị vòng quay
DTNK: như chỉ tiêu (1) ở trên
VLĐNK: như chỉ tiêu (4) ở trên
Về mặt ý nghĩa, chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động nhập khẩu quay được baonhiêu vòng trong một kỳ kinh doanh Số vòng quay vốn lưu động càng lớn thì càngthể hiện doanh nghiệp sử dụng càng hiệu quả vốn lưu động và ngược lại
Bên cạnh đó, có thể sử dụng một chỉ tiêu phụ để đánh giá hiệu quả sử dụngvốn lưu động, đó là chỉ tiêu thời gian một vòng quay vốn đây là chỉ tiêu ngược vớichỉ tiêu (5) ở trên
(6)Chỉ tiêu thời gian một vòng quay vốn
Trong đó:
T1vq: thời gian vốn lưu động quay được một vòng, thường được tính bằng số ngày.DTNK, VLĐNK: doanh thu, vốn lưu động nhập khẩu được tính như trong chỉtiêu (1) và (4) ở trên
Về mặt ý nghĩa, chỉ tiêu này phản ánh lượng thời gian cần thiết để vốn lưuđộng quay được một vòng Chỉ tiêu này càng nhỏ thì số vòng quay của vốn lưuđộng trong một kỳ kinh doanh càng nhiều, hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao
Trang 17Hdn: hệ số đảm nhiệm vốn lưu động nhập khẩu.
DTNK, VLĐNK: doanh thu thu được và vốn lưu động bỏ ra cho hoạt độngnhập khẩu được tính như trong các chỉ tiêu (1) và (4) ở trên
Về mặt ý nghĩa, chỉ tiêu này cho biết để thu được một đồng doanh thu cần baonhiêu đồng vốn lưu động Chỉ tiêu này càng thấp có nghĩa là để thu được một đồngdoanh thu càng phải sử dụng ít vốn lưu động nhập khẩu, điều đó càng phản ánh hiệuquả kinh doanh cao và ngược lại
* Thời hạn thu hồi vốn nhập khẩu
(8)Thời hạn thu hồi vốn nhập khẩu
Thời hạn thu hồi vốn nhập khẩu là một chỉ tiêu hiệu quả bộ phận, phản ánhkhoảng thời gian mà vốn đầu tư dần dần được thu hồi sau mỗi kỳ kinh doanh
Thời hạn thu hồi vốn nhập khẩu được tính như sau:
Trong đó:
Tvld: thời hạn thu hồi vốn nhập khẩu, được tính bằng số kỳ kinh doanh
VNK: vốn đầu tư cho hoạt động nhập khẩu bao gồm cả vốn cố định và vốn lưuđộng Vốn nhập khẩu cũng được tính bằng các đơn vị tiền tệ như: triệu đồng, tỷđồng, triệu USD,…
LNNK: như chỉ tiêu (1) ở trên
Về ý nghĩa, chỉ số này phản ánh để thu hồi vốn đầu tư cho hoạt động nhậpkhẩu cần bao nhiêu kỳ kinh doanh Chỉ tiêu này càng nhỏ có nghĩa là số vốn đầu tưcho hoạt động nhập khẩu sau ít kỳ kinh doanh có thể thu hồi lại Điều đó càng thểhiện việc sử dụng vốn nhập khẩu đạt hiệu quả khá tốt
* Hiệu quả sử dụng lao động nhập khẩu
(9)Năng suất lao động nhập khẩu hay doanh thu bình quân
Năng suất lao động nhập khẩu hay doanh thu bình quân là chỉ tiêu bộ phậnphản ánh kết quả làm việc của người lao động
Năng suất lao động nhập khẩu hay doanh thu bình quân được tính theo côngthức sau:
Trong đó:
Trang 18Wlđ: năng suất lao động nhập khẩu hay doanh thu bình quân, được tính bằngcác đơn vị như: triệu đồng/người, tỷ đồng/người, triệu USD/người,…
DTNK: như chỉ tiêu (1)ở trên
SLĐ: số lao động tham gia hoạt động nhập khẩu trong doanh nghiệp
Về mặt ý nghĩa, chỉ tiêu này cho biết năng suất lao động bình quân của mộtlao động trong công ty Nói cách khác, nó phản ánh một lao động mang lại baonhiêu đồng doanh thu cho hoạt động của doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng lớn càngthể hiện chất lượng nguồn nhân lực của công ty Điều đó cũng có nghĩa là doanhnghiệp đang sử dụng một nguồn nhân lực hiệu quả
(10)Lợi nhuận trung bình được tạo ra bởi một người lao động
Lợi nhuận trung bình được tạo ra bởi một người lao động là một chỉ tiêu bộphận phản ánh khả năng mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp của một người lao động.Lợi nhuận trung bình được tạo ra bời một người lao động được tính theo côngthức sau:
Trong đó:
Hlđ: lợi nhuận trung bình được tạo ra bởi một người lao động, được tính bằngcác đơn vị như: triệu đồng/người, tỷ đồng/ người,
LNNK, SLĐ: lợi nhuận nhập khẩu, số lao động như các chỉ tiêu (1), (9) ở trên
Về mặt ý nghĩa, cũng như chỉ tiêu năng suất lao động, chỉ tiêu này phản ánhnăng lực, trình độ nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nó thể hiện một lao độngtrong doanh nghiệp có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cho công ty Chỉtiêu này càng lớn càng thể hiện hiệu quả hoạt động kinh doanh càng cao
Trang 192.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩucủa doanh nghiệp Trong đó, bao gồm các yếu tố từ môi trường cạnh tranh, từ nềnkinh tế nói chung Nhưng cũng có những yếu tố xuất phát từ bản thân doanh nghiệp
2.1.4.1 Các nhân tố từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp
Môi trường bên ngoài doanh nghiệp chính là môi trường khách quan, doanhnghiệp không thể can thiệp, điều chỉnh hay tác động tới nó theo ý muốn chủ quancủa bản thân Có thể nói, đó chính là môi trường nơi diễn ra hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp Với hoạt động nhập khẩu, môi trường kinh doanh không chỉ môitrường trong nước mà còn là môi trường quốc tế, môi trường kinh doanh nước xuấtkhẩu Môi trường này có tác động rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp dưới các góc độ về văn hóa, pháp lý, kinh tế
* Môi trường văn hóa
Đây là các yếu tố có tác động khá lớn đối với hiệu quả của hoạt động kinhdoanh nhập khẩu Các yếu tố của môi trường văn hóa có tác động lớn tới hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp có thể kể đến như: yếu tố về ngôn ngữ, thói quenphong cách tiêu dùng, các nét đặc trưng truyền thống, vấn đề tôn giáo,…
Ngôn ngữ bất đồng có thể gây sự hiểu lầm giữa các bên tham gia hoạt độngmua bán quốc tế Sự hiểu lầm đó dù nghiêm trọng hay không cũng có tác động tớihiệu quả hoạt động nhập khẩu Một mặt, nó có thể mất thêm chi phí để thuê phiêndịch viên Một mặt, nó có thể đòi hỏi phải có sự thay đổi về ngôn ngữ sử dụng trongcác tài liệu hướng dẫn sử dụng Điều này làm tăng chi phí hoạt động nhập khẩu, cóthể làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty
Phong cách tiêu dùng, tôn giáo, tín ngưỡng cũng như các nét đặc trưng truyềnthống cũng gây ra những tác động cả theo chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực tới hiệuquả kinh doanh
* Môi trường pháp lý
Trong hoạt động nhập khẩu, môi trường pháp lý bao gồm các quy định luậtpháp bên nhập khẩu, bên xuất khẩu, các quy định quốc tế hay các tập quán thương
Trang 20mại quốc tế Với những quy định này, doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện một cáchnghiêm túc mà không thể tác động hay thay đổi nó.
Nếu các chính sách quy định một cách rõ rang, minh bạch, nhất quán sẽ tạođiều kiện để doanh nghiệp thực hiện một cách dễ dàng các nghiệp vụ ngoại thương.Điều đó cũng tạo tâm lý an tâm cho phép các doanh nghiệp đầu tư mở rộng hoạt
động Doanh nghiệp cũng chỉ có thể áp dụng một cách nghiêm túc các quy định
pháp luật nếu chúng hợp lý Một vấn đề thường gặp phải về vấn đề pháp lý tronghoạt động nhập khẩu, đó là sự mâu thuẫn giữa các nguồn luật điều chỉnh quan hệmua bán hàng hóa Trong trường hợp đó, sự mâu thuẫn đối kháng có thể gây nêncác tranh luận không đáng có, tác động làm giảm hiệu quả của hoạt động nhập khẩu.Ngoài ra, các chính sách đối ngoại giữa các nước xuất và nhập khẩu cũng tạonên các tác động khác nhau tới hiệu quả hoạt động nhập khẩu Các biện pháp được
áp dụng như cấm hay hạn chế nhập khẩu, các ưu đãi thuế quan, hạn ngạch,… đều cóảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp Bên cạnh
đó, sự ổn định về môi trường chính trị cũng có những tác động tích cực tới hoạtđộng này
* Môi trường kinh tế
Cùng với môi trường văn hóa, pháp lý, môi trường kinh tế có tác động trựctiếp và mạnh mẽ nhất tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Các nhân tố thuộcmôi trường kinh tế có tác động tới hiệu quả kinh doanh một cách rõ rang có thể kểđến như: các quan hệ kinh tế quốc tế, sự phát triển nền sản xuất trong và ngoàinước, sự biến động của thịu trường trong và ngoài nước,…
Về các quan hệ kinh tế quốc tế, chúng có tác dụng ngày càng to lớn và rõ ràngtới hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp Với sự phát triển của xuhướng toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay, các quan hệ kinh tế quốc tế ngày cànggia tăng cả về số lượng và chất lượng Các tổ chức kinh tế quốc tế ngày càng nhiềunhư: WTO, ASEAN, AFTA, APEC,… đang ngày càng khẳng định được vai trò củamình trong hoạt động kinh tế Với các chính sách đặc biệt về thuế quan, về thịtrường, các quốc gia thành viên tổ chức ngày càng có nhiều cơ hội phát triển vớinhiều lợi ích thiết thực
Trang 21Về sự phát triển nền sản xuất trong nước cũng như quốc tế có ảnh hưởng trựctiếp tới hoạt động nhập khẩu hàng hóa Khi nền sản xuất trong nước phát triển, cóthể sản xuát những hàng hóa mà trước nay vẫn nhập khẩu thì sự cạnh tranh trên thịtrường nội địa trở nên gay gawsy, áp lực cạnh tranh lớn có thể làm giảm nhu cầunhập khẩu Trong trường hợp nền sản xuất trong nước vẫn không thể sản xuất ranhững hàng hóa với công nghệ cao, thiết bị hiện đại, thì điều đó lại có thể thức đẩyhoạt động nhập khẩu Trong cả hai trường hợp trên, rõ rang trình độ sản xuất củaquốc gia có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động nhập khẩu, từ đó tác động tới hiệuquả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp.
Về hệ thống giao thông vận tải – thông tin liên lạc, đây là yếu tố có vai trò rấtlớn trong hoạt động ngoại thương nói chung và trong hoạt động nhập khẩu nóiriêng Trong nhập khẩu, sự xa cách về địa lý và không gian là đặc điểm nổi bật rất
dễ nhận thấy Khi mức cạnh tranh ngày càng lớn, nhu cầu người tiêu dung ngàycàng biến đổi phong phú và đa dạng thì việc áp dụng một cách chính xác, kịp thờicác nhu cầu đó trở thành yếu tố sống còn với các doanh nghiệp nhập khẩu Để làmđược điều đó, sự phát triển của hệ thống giao thong vận tải và thong tin liên lạc làtất yếu
Hệ thống tài chính ngân hàng cũng có tác động rất lớn tới hiệu quả kinh doanhnhập khẩu Một mặt, hệ thống ngân hàng giúp nhà nhập khẩu cũng như các doanhnghiệp tham gia hoạt động ngoại thương rtong nghiệp vụ thanh toán quốc tế Trongkinh doannh quốc tế, giá trị đơn hàng thường rất lớn, các chủ thể hoạt động ngoạithương cũng không thể gặp nhau trực tiếp để trả tiền cho nhau Điều này gây mất rấtnhiều thời gian và chi phí Hệ thống ngân hàng giúp các bên đảm nhận nhiệm vụnày một cách chính xác, hiệu quả Điều này góp phần làm tăng hiệu quả của hoạtđộng nhập khẩu cho các doanh nghiệp Mặt khác, vai trò của ngân hàng còn thểhiện ở việc hỗ trợ nguồn vốn để các doanh nghiệp có thể thực hiện kinh doanh hoặc
mở rộng hoạt động của mình Hệ thống ngân hàng tài chính phát triển góp phần làmđơn giản hóa quy trình thanh toán trong ngoại thương, từ đó góp phần làm tăng hiệuquả kinh doanh của hoạt động này
Trang 222.1.4.2 Các nhân tố từ bên trong doanh nghiệp
Môi trường bên trong doanh nghiệp là môi trường do bản than doanh nghiệptạo nên, đây cũng là nơi doanh nghiệp có thể có những tác động làm thay đổi nótheo ý muốn chủ quan, theo hướng có lợi cho hoạt động của mình Môi trường bêntrong doanh nghiệp ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
có thể kể đến như: nguồn nhân lực, trình độ quản lý, nguồn vốn và khả năng huyđộng vốn, cơ sở vật chất, hệ thống thông tin Mõi yếu tố có sự tác động khác nhautới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng những tác động đó là khá rõ ràng
và ý nghĩa
* Nguồn nhân lực
Nhân lực được coi là yếu tố quan trọng nhất thuộc về bản than doanh nghiệp.Người lao động chính là chủ thể thực hiện tất cả các hoạt động của doanh nghiệp,duy trì các hoạt động đó Trong kinh doanh nhập khẩu, khi hoạt động vượt ra khỏibiên giới quốc gia thì vai trò nguồn nhân lực lại càng quan trọng Người lao độngnắm chắc các nghiệp vụ nhập khẩu, am hiểu và thong thạo các quy định pháp luật
về thủ tục thong quan hàng hóa, thủ tục thanh toán quốc tế, quy định về hạn ngạch,giấy phép,… sẽ giúp cho các giao dịch của doanh nghiệp diễn ra liên tục, thông suốt
và nhanh chóng Mặt khác, khi nhân lực công ty có trình độ và chuyên môn sẽ làmcho các giao dịch thương mại, công tác đàm phán ký kết đơn hàng cho công ty diễn
ra nhanh chóng, chính xác và đạt hiệu quả cao Tất cả những điều đó giúp tiết kiệmthời gian, chi phí và công sức cho doanh nghiệp, góp phần làm tăng hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp
Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, khi chất lượng sảnphẩm không còn là yếu tố duy nhất tạo nên sức mạnh cạnh tranh cho doanh nghiệp,thì yếu tố chất lượng dịch vụ cung ứng cũng như thế mạnh về nguồn nhân lực lại là
cơ sở để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Điều đó càng chothấy vai trò quan trọng của yếu tố nguồn nhân lực Nó không chỉ ảnh hưởng trựctiếp tới hiệu quả kinh doanh mà còn tạo nên sức mạnh cạnh tranh cho doanh nghiệptrên thị trường
Trang 23*Trình độ tổ chức quản lý
Trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp chính là khả năng sắp xếp thành hệthống các nguồn lực của doanh nghiệp tiến hành các hoạt đông sản xuất kinh doanh.Trình độ tổ chức của doanh nghiệp càng cao thì hiệu quả sử dụng nguồn lực đó cànglớn, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng từ đó được nâng cao
Trong kinh doanh nhập khẩu, trình độ quản lý của doanh nghiệp không chỉ thểhiện ở việc doanh nghiệp tổ chức các nguồn lực của mình như thế nào mà còn thểhiện khá rõ qua công tác lập kế hoạch, xây dựng chiến lược nhập khẩu một cáchkhoa học và hợp lý Trình độ quản lý của doanh nghiệp càng cao thì khả năng tổchức lập kế hoạch nhập khẩu hàng hóa càng chính xác, kịp thời Điều này thể hiện
ở việc doanh nghiệp có nắm bắt cơ hội kinh doanh, có đáp ứng kíp thời các như cầucủa thị trường hay không Trình độ quản lý cao sẽ cho phép doanh nghiệp có kếhoạch nhập khẩu đúng đắn, vừa tận dụng được cơ hội kinh doanh, vừa sử dụng mộtcách hiệu quả và hợp lý nguồn vốn Đồng thời, trình độ quản lý cao còn cho phépdoanh nghiệp thực hiện các hoạt động tiêu thụ hàng hóa một cách nhanh chóng, tiếtkiệm chi phí Những điều này góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực cũngnhư hiệu quả hoạt động tiêu thụ hàng nhập khẩu, qua đó làm tăng hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp
* Nguồn vốn và khả năng huy động vốn
Nguồn vốn là điều kiện đảm bảo hoạt động trong doanh nghiệp có thể diễn raliên tục và ổn định Nguồn vốn là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện các giao dịchnhập khẩu hàng hóa, là yếu tố đảm bảo cho doanh nghiệp có khả năng thực hiệnnghĩa vụ thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu Nguồn vốn cho phép doanh nghiệpchi trả các chi phí để duy trì hoạt động, trả lương cho người lao động Sau các kỳkinh doanh, khi hiệu quả ngày càng cao, lợi nhuận doanh nghiệp thu được ngàycàng nhiều là điều kiện để doanh nghiệp gia tăng lượng vốn cho hoạt động củamình Doanh nghiệp có thể sử dụng lợi nhuận thu được để tái đầu tư và hoạt độngkinh doanh
Trong thực tế, khi nắm bắt cơ hội kinh doanh, doanh nghiệp có thể tiến hàngcác giao dịch, các đơn đặt hàng có giá trị lớn Khi đó, nguồn vốn doanh nghiệpkhông đủ để đáp ứng nhu cầu đó Doanh nghiệp có thể huy động vốn từ bên ngoài,
Trang 24từ các tổ chức ngân hàng tài chính Khả năng huy động vốn có tác động rất lớn tớihoạt động doanh nghiệp nó cho phép doanh nghiệp tận dụng các cơ hội kinh doanhkiếm lời.
Nguồn vốn cũng như khả năng huy động vốn có ảnh hưởng trực tiếp tới khảnăng duy trì và thực hiện các đơn hàng, giúp doanh nghiệp có thể hoạt động ổnđịnh, tìm kiếm lơi nhuận, nâng cao hiệu quả kinh doanh cho mình
* Hệ thống thông tin của doanh nghiệp
Thông tin có vai trò quan trọng trong tất cả các hoạt động kinh tế cũng nhưcác hoạt động xã hội Đặc biệt trong hoạt động ngoại thương, yếu tố thông tin lạicàng có vai trò quan trọng Với doanh nghiệp nhập khẩu, thông tin cho phép doanhnghiệp nắm bắt được chính xác các cơ hội kinh doanh, theo dõi sự biến động củanhu cầu thị trường tiêu dung trong nước cũng như thị trường nhập khẩu để có thể cónhững thay đổi, những hành động kịp thời và hiệu quả Có đầy đủ thông tin giúpcho các doanh nghiệp có thể tìm kiếm các nguồn hàng đảm bảo chất lượng, chi phíhợp lý, đồng thời cho phép doanh nghiệp có được các kế hoạch đưa hàng tới thịtrường tiêu thụ một cách hiệu quả nhất Thông tin kịp thời, nhanh nhạy và chính xác
là điều kiện để doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình.Mặt khác, hệ thống thông tin trong chính doanh nghiệp sẽ giúp quá trình phốihợp giữa các phòng ban chức năng được chính xác là điều kiện để doanh nghiệpnâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình
* Cơ sở vật chất kỹ thuật
Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố đảm bảo cho hoạt động nhập khẩudiễn ra một cách hiệu quả Cơ sở vật chất đảm bảo cho phép doanh nghiệp tiết kiệmchi phí, thời gian giao dịch với đối tác cũng cấp hàng Hệ thống kho bãi, nhà xưởngđảm bảo cho phép doanh nghiệp tiết kiệm chi phí cho công tác lưu kho, đảm bảocho phép doanh nghiệp tiết kiệm chi phí công tác lưu kho, bảo quản hàng hóa Mức
độ trang bị các thiết bị hiện đạt cho phép nhân viên doanh nghiệp thực hiện cácnghiệp vụ một cách hiệu quả, góp phần làm tăng năng suất lao động Mặt khác, hệthống thông tin liên lạc hiện đại cho phép doanh nghiệp nắm bắt và dễ dàng xử lýcác tình huống đột xuất Cơ sở vật chất có vai trò thúc đẩy tiến trình thực hiện hoạtđộng nhập khẩu Điều kiện vật chất đảm bảo cho phép doanh nghiệp tự thực hiện tất
Trang 25cả các nghiệp vụ mà không cần qua trung gian, vừa tiết kiệm chi phí vừa đảm bảotính chủ động cho chính doanh nghiệp mình.
Các nhân tố trên, dù doanh nghiệp có thể kiểm soát, tác động tới nó hay khôngthì nó vẫn có ảnh hưởng một cách trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh của mọi doanhnghiệp Để tăng hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp mình, yêu cầu được đặt ra làcác doanh nghiệp phải luôn chú tâm, nắm bắt sự biến đổi các nhân tố này để có sựđiều chỉnh hợp lý, đảm bảo hoạt động kinh doanh luôn đạt hiệu quả cao
Như vậy, ở chương này đã trình bày một cách tổng quát các vấn đề liên quanhiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp cũng như hệ thống các chỉ tiêu đolường, đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu Đây là cơ sở để phân tích, đánh giáthực trạng hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và của công ty CP
ĐT & TM Gia Khánh dưới đây
Trang 26CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỬA CUỐN VÀ PHỤ KIỆN CỦA
CÔNG TY CPĐT XD & TM GIA KHÁNH
3.1 Khái quát về công ty
Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Thương mại Gia Khánh được thành lậpngày 10/2 /2011 tại Hà Nội theo giấy chứng nhận kinh doanh số 0106454980 do Sở
Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp
Trụ sở: Lô số 6, khu tập thể 810, thôn Yên Phú, xã Liên Ninh, huyện ThanhTrì, Hà Nội
Điện thoại: 84-43.689.2828
Fax: 84-43.689.3888
Theo giấy phép đăng ký kinh doanh, Công ty CPĐT XD & TM Gia Khánhđược phép thực hiện kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: kinh doanhnhập khẩu và lắp đặt các loại cửa cuốn và phụ kiện; thiết kế nội ngoại thất côngtrình, buôn bán các mặt hàng thiết bị điện từ, viễn thông; buôn bán các loại máymóc nông nghiệp,…
Trên thực tế, công ty đang hoạt động trên các lĩnh vực chủ yếu là: kinh doanhnhập khẩu và lắp đặt các loại cửa cuốn và phụ kiện; bán buôn các thiết bị vật liệulắp đặt khác trong xây dụng; thiết kế, xây dựng và sửa chữa các công trình dâncụng, công trình công nghiệp
Đi vào hoạt động từ đầu năm 2011, công ty Gia Khánh chủ yếu mua lại cácthiết bị cửa cuốn và phụ kiện của các công ty khác trong nước và phân phối lại.Hiện nay công ty đã chủ động tìm nguồn hàng từ nước ngoài, thỏa thuận nhập khẩuhàng hóa của đối tác nước ngoài và kinh doanh trong nước Hiện nay công ty cóquan hệ nhập khẩu từ các nhà sản xuất, cung cấp sản phẩm như: Công ty YuanYuan, Công ty M.V.F Four Stars Co., LTD
Từ khi mới thành lập công ty có rất ít khách hàng Cho tới nay, số lượng kháchhàng của công ty đã tăng lên rất nhiều Đến cuối năm 2015, lượng khách hàng cóquan hệ với công ty đã lên tới 257 đơn vị Lượng khách hàng trung thành cũng lên
Trang 27tới 112 đơn vị, và số khách hàng này ngày càng lớn Trong các năm gần đây, công
ty cũng đã thu hút được thêm nhiều khách hàng mới, trong đó có nhiều khách hàng
đã duy trì quan hệ cộng tác, thường xuyên nhập hàng của công ty
* Kinh doanh thương mại nội địa
Công ty thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại nội địa đối với hầu hếtcác mặt hàng mà công ty kinh doanh Hiện nay công ty đang chủ yếu kinh doanhhàng hóa của các hãng như công ty Viglacera, công ty kim khí Thăng Long Cácmặt hàng này được công ty kinh doanh với tư cách là một đại lý phân phối của cácnhà sản xuất Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp luôn tìm kiếm các nguồnhàng mới để đa dạng hóa chủng loại, đảm bảo tốt hơn nguồn cung ứng hàng hóa đểhoạt động kinh doanh có thể tiến hành liên tục, thông suốt
* Kinh doanh nhập khẩu hàng hóa
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa chỉ được thực hiện đối với một sốmặt hàng nhất định và chủ yếu nhập hàng hóa từ các nước Đài Loan (Trung Quốc),
từ thép hợp kim Apex độ dày 0,52mm và có rất nhiều màu sắc cho khách hàng lựachọn Ngoài ra, còn có loại cửa cuốn khe thoáng có độ dày 1,3mm; 1,1mm; 0,9-1,1mm được làm từ nhôm hợp kim tiêu chuẩn 6063 cho khách hàng có nhiều sự lựachọn hơn Các phụ kiện cửa cuốn thì bao gồm động cơ motor cửa cuốn có động cơdành cho tấm liền và động cơ cửa cuốn tấm thoáng có tính năng đảo chiều và sứcnâng từ 300-800kg; bộ lưu điện dung trong trường hợp mất điện để cửa vẫn hoạtđộng bình thường