1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cập nhật chẩn đoán và vai trò của ung bướu nội khoa trong điều trị bướu biểu mô tuyến ức: Thực tế và triển vọng

6 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 260,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xử lý bướu tuyến ức thường kết hợp chẩn đoán và điều trị liên chuyên khoa với trị liệu đa mô thức. Phẫu thuật giữ vai trò nền tảng trong các liệu pháp đối với những trường hợp bướu đánh giá cắt được. Hóa trị tân hỗ trợ trước phẫu thuật hoặc trong những trường hợp đánh giá không thể cắt được ngay từ đầu.

Trang 1

CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ VAI TRÒ CỦA UNG BƯỚU NỘI KHOA TRONG ĐIỀU TRỊ BƯỚU BIỂU MÔ TUYẾN ỨC: THỰC TẾ VÀ TRIỂN VỌNG

Võ Thị Ngọc Điệp*, Nguyễn Hoàng Quý**

GIỚI THIỆU

Bướu tuyến ức là loại bướu tăng sinh ác tính

hiếm gặp với khoảng 0,13/100.000 dân Tuổi ghi

nhận là từ 40 - 50 tuổi Dân số có nguồn gốc

Châu Á, Thái Bình Dương có tỉ lệ bướu tuyến ức

cao hơn dân số Châu Mỹ Bướu tuyến ức chiếm

khoảng 20% trong số bướu ở trung thất và 50%

bướu ở trung thất trước(1) Đặc điểm trên giải

phẫu bệnh không đồng nhất và biểu hiện lâm

sàng thay đổi từ không triệu chứng (đối với

những trường hợp không xâm lấn) đến những

trường hợp thâm nhiễm mức độ nhiều hoặc là di

căn Yếu tố tiên lượng theo phân chia giai đoạn

của Masaoka-Koga, theo phân chia về mô bệnh

học của tổ chức y tế thế giới (WHO), tình trạng

diện cắt (R0: diện cắt âm tính, R1: diện cắt dương

tính), đường kính tổn thương và tình trạng xâm

lấn mạch máu, xâm lấn các cơ quan lân cận(3,5)

Xử lý bướu tuyến ức thường kết hợp chẩn

đoán và điều trị liên chuyên khoa với trị liệu đa

mô thức Phẫu thuật giữ vai trò nền tảng trong

các liệu pháp đối với những trường hợp bướu

đánh giá cắt được Hóa trị tân hỗ trợ trước phẫu

thuật hoặc trong những trường hợp đánh giá

không thể cắt được ngay từ đầu Xạ trị được chỉ

định trong những trường hợp điều trị hỗ trợ sau

phẫu thuật Tiếp cận điều trị đa mô thức phẫu

thuật, hóa trị, xạ trị sẽ mang lại lợi ích điều trị

cho bệnh nhân trong giai đoạn sớm hay trong

những trường hợp khi bướu đã xâm lấn hay di

căn xa

SINH BỆNH HỌC

Tuyến ức có nguồn gốc từ tế bào biểu mô

tuyến ức, vị trí được biết đến trong quá trình

trưởng thành của các tế bào miễn dịch lympho

bào T (Thymus), một trong những tế bào quan

trọng trong quá trình hình thành miễn dịch đáp ứng của cơ thể Bướu tân sinh tuyến ức, như bướu tuyến ức và carcinôm tuyến ức, vị trí phát sinh chủ yếu ở trung thất trên trước Bướu tuyến

ức thường có hình ảnh mô học đặc trưng khi đi kèm với sự thâm nhiễm của tế bào lympho T khi

tế bào T này di chuyển ra ngoại vi theo lưu thông của hệ tuần hoàn, những tế bào T bất thường này sẽ thâm nhiễm vào các cơ quan ngoại biên (thần kinh, da, cơ xương khớp, collagen, máu ngoại vi,…), gây nên tình trạng rối loạn miễn dịch của các cơ quan này, biểu hiện bằng triệu chứng khác nhau trên lâm sàng của bệnh lý liên quan đến bệnh tự miễn Gen MEN1 (multiple endocrine neoplasia 1 gene) được xem như là yếu tố nguy cơ trong bệnh lý bướu tuyến

ức Gen MEN1 được dùng để đánh giá yếu tố nguy cơ di truyền ung thư trong gia đình có bệnh nhân bị bướu tuyến ức(3)

CHẨN ĐOÁN Lâm sàng

Bệnh nhân bướu tuyến ức có thể đến khám trong nhiều bệnh cảnh khác nhau Bệnh nhân có thể đến khám vì các rối loạn miễn dịch đi kèm, điển hình là tình trạng nhược cơ Gravis, hoặc đau ngực kín đáo, hay tình trạng bướu trung thất lớn chèn ép gây khó thở Chẩn đoán bướu biểu mô tuyến ức cần phân biệt với những bướu

ở vùng trung thất trước khác

Các rối loạn tự miễn có thể đi kèm với bướu tuyến ức bao gồm (3)

Thần kinh cơ: bệnh thần kinh ngoại biên, rối loạn trương lực cơ,…

Rối loạn huyết học: thiếu máu tán huyết, đa

u tủy,…

Rối loạn collagen và các rối loạn tự miễn:

Trang 2

lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp, hội chứng

Sjogren, viêm phổi mô kẽ, xơ cứng bì

Rối loạn suy giảm miễn dịch: giảm gamma

globulin (Hội chứng Good, hội chứng suy giảm

tế bào T)

Rối loạn nội tiết: hội chứng Cushing, viêm

giáp

Rối loạn da liễu: pemphigus, rụng tóc, viêm

niêm mạc mạn tính do candida

Các rối loạn khác: viêm cơ tim dạng tế bào

khổng lồ, viêm loét đại tràng, viêm thận, phì đại

cơ xương khớp

Hình ảnh học

CT-scan

Có tiêm chất cản quang vùng ngực được

xem như là công cụ hình ảnh tiêu chuẩn để chẩn

đoán với đặc điểm tăng đậm độ ở vùng trung

thất và màng phổi MRI có vai trò hỗ trợ trong

những trường hợp CT-scan nghi ngờ hay những

tổn thương dạng nang(3)

FDG-PET scan

Không được khuyến cáo sử dụng trong chẩn

đoán hình ảnh bướu biểu mô tuyến ức, ngoại trừ

những trường hợp đặc biệt của tổn thương trên

mô học độ ác tính cao, giai đoạn tiến triển

nhanh(3)

Hóa sinh-miễn dịch

Các xét nghiệm đếm hồng cầu lưới, điện di

protein huyết thanh, xét nghiêm thụ thể kháng

acetylcholine, kháng thể kháng nhân cũng sẽ

được chỉ định khi nghi ngờ có bệnh lý tự miễn đi

kèm, định lượng TSH (viêm giáp)(3)

Trước một tình huống lâm sàng của bướu

vùng trung thất trước có kèm theo các bệnh tự

miễn đi kèm, cần nghĩ đến tổn thương của bướu

tuyến ức, ngoại trừ carcinôm tuyến ức sẽ thường

không có đặc điểm của tổn thương tại chỗ vùng

trung thất (carcinôm tuyến ức thường xuất hiện

ở ngoài tuyến ức hay còn gọi là carcinôm tuyến

ức lạc chỗ)

Chẩn đoán phân biệt

Bướu tuyến ức chiếm khoảng 20% các bướu vùng trung thất Cần chẩn đoán phân biệt với các bướu vùng trung thất khác như lymphôm không Hodgkin, lymphôm Hodgkin hay bướu tế bào mầm trung thất Một số dấu ấn sinh học ung thư có thể gợi ý hướng đến chẩn đoán phân biệt trong các trường hợp này như LDH, AFP (alpha foeto protein), hay beta HCG

PHÂN CHIA GIAI ĐOẠN Phân độ theo tổ chức y tế thế giới (WHO

2004 - 2014) dựa vào mô bệnh học

Bướu tuyến ức thường có hình ảnh mô học đặc trưng khi đi kèm với sự thâm nhiễm của

tế bào lympho T Theo phân độ của tổ chức y

tế thế giới Bướu tuyến ức được chia thành các nhóm A, AB, B1, B2, B3 và những loại bướu tuyến ức hiếm gặp khác, carcinôm tuyến ức (malpighien, bướu nội tiết thần kinh), bướu thần kinh nội tiết biệt hóa tốt (carcinoide) Sự phân chia dựa trên hình thái học của tế bào bướu biểu mô, tương quan tỉ lệ của giữa lympho bào trong tuyến ức và tập hợp các cấu trúc của tế bào tuyến ức bình thường

Hóa mô miễn dịch có vai trò giúp đỡ trong chẩn đoán bướu tuyến ức, đặc biệt những trường hợp tuyến ức nằm lạc chỗ, chẩn đoán xác định bằng hóa mô miễn dịch anti-CD117 (Kit) và anti-CD5 có thể hỗ trợ để xác định nguồn gốc bướu tuyến ức Tỉ lệ chẩn đoán cao khoảng 80% trong các tổn thượng dạng carcinôm vùng trung thất(3,7)

Phân loại theo Masaoka-Koga và yếu tố tiên lượng

Theo hệ thống phân độ giai đoạn của Masaoka-Koga năm 1994 và của nhóm quốc tế

về bướu ác tính tuyến ức (International Thymic Malignacy Interest Group, năm 2011), bướu tuyến ức được chia thành 4 giai đoạn(4,7) Phân độ này được xem là yếu tố tiên lượng của bướu tuyến ức khi chẩn đoán

Trang 3

Giai đoạn I: tổn thương trong vỏ bao, sống

còn 10 năm 84%

Giai đoạn II (IIA, IIB):

IIA khi hình ảnh trên vi thể xâm lấn vỏ bao

IIB khi hình ảnh trên đại thể xâm lấn quanh

trung thất phần mô mỡ hoặc dính màng phổi,

sống còn 10 năm 83% ở giai đoạn IIB

Giai đoạn III: hình ảnh trên đại thể xâm lấn

cơ quan xung quanh (màng ngoài tim và phổi,

các mạch máu lớn) sống còn 10 năm 70%

Giai đoạn IV:

IVA: di căn màng ngoài tim, màng phổi

(sống còn 10 năm 42%),

IVB: di căn hạch và di căn vào máu (sống còn

10 năm 53%)

Phân độ theo TNM 2017

Phân độ hệ thống theo TNM tái bản lần thứ 8

năm 2017 theo UICC (3)

T: bướu nguyên phát

Tx: bướu nguyên phát không thể đánh giá

T0: không có bằng chứng bướu nguyên phát

T1: bướu trong vỏ bao hoặc lan vào trung

thất

T1a: không xâm lấn màng phổi trung thất

T2b: xâm lấn màng phổi trung thất

T2: xâm lấn màng ngoài tim (một phần hay

toàn bộ.)

T3: xâm lấn trực tiếp vào phổi, tĩnh mạch

cánh tay đầu, tĩnh mạch chủ trên, thần kinh

hoành, thành ngực hoặc động mạch và tĩnh

mạch phổi phần bên ngoài của màng ngoài tim

T4: xâm lấn trực tiếp vào một trong các cơ

quan sau: cung động mạch chủ, nội tâm mạc, cơ

tim, khí quản, thực quản

N: hạch vùng

Nx: hạch vùng không thể đánh giá

N0: không có di căn hạch vùng

N1: di căn hạch phía trước (chung quanh

tuyến ức)

N2: di căn hạch sâu trong lồng ngực hay hạch cổ di căn

M: di căn xa M0: không di căn màng phổi, màng tim, hay

di căn xa M1: di căn xa M1a: nốt di căn đơn độc màng phổi và màng ngoài tim

M1b: di căn xa ngoài màng phổi và màng tim

Bảng 1 Phân độ giai đoạn theo TNM tương ứng với

phân độ Masaoka-Koga

Giai đoạn theo TNM

TNM Tương ứng với phân

độ Masaoka-Koga

Bất kể T N0,1 M1a

IVA IVB

Bất kể T Bất kể N, M1b

IVB

ĐIỀU TRỊ

Điều trị bướu biểu mô tuyến ức được chia làm 3 nhóm chính:

Nhóm có thể phẫu thuật được ngay lúc đầu chẩn đoán

Nhóm không thể phẫu thuật được ngay lúc đầu chẩn đoán

Nhóm di căn xa ngay lúc chẩn đoán

Điều trị khi bệnh tái phát

Triển vọng điều trị nhắm trúng đích

Chiến lược điều trị bướu biểu mô tuyến ức thường được quyết định dựa trên hội chẩn liên chuyên khoa và điều trị đa mô thức theo kiểu lần lượt: phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, hay theo kiểu hóa

xạ đồng thời tùy theo từng tình huống cụ thể, giai đoạn bệnh lúc chẩn đoán và điều kiện của từng cơ sở y tế điều trị Trong bài tổng hợp này chúng tôi xin đi sâu vào vai trò điều trị của ung bướu nội khoa trong bướu tuyến ức khi kết hợp cùng với các phương pháp khác

Trang 4

Hóa trị bằng phác đồ có cisplatin được

khuyến cáo sử dụng, đồng thời kết hợp với

doxorubicin và cyclophosphamide hay cisplatin

và etoposide Một số phác đồ hóa trị bướu biểu

mô tuyến ức được khuyến cáo và đang nghiên

cứu thử nghiệm lâm sàng(2):

Bảng 2 Một số phác đồ hóa trị bướu biểu mô tuyến

ức

Cisplatin Vincristine Cyclophosphamide

40 mg/m2/3 tuần

50 mg/m2/3 tuần 0,6 mg/m2/3 tuần

700 mg/m2/3 tuần

Doxorubicin

Cyclophosphamide

50 mg/m2/3 tuần

50 mg/m2/3 tuần

500 mg/m2/3 tuần

Etoposide

60 mg/m2/3 tuần 120mg/m2 x 3 ngày /3 tuần

Ifosfamide Cisplatine

75mg/m2 x 4 ngày /3 tuần 1,2 g/m2 x 4 ngày /3 tuần 20mg/m2 x 4 ngày /3 tuần

Vincristine Doxorubicine

Etoposide

25mg/m2/1 tuần

1 mg/m2/ 2 tuần

40 mg/m2/2 tuần

80 mg/m2 x3 ngày/2tuần

Paclitaxel

AUC 5-6/3 tuần 200-225 mg/m2 / 3 tuần Cap-GEM Capecitabine 650 mg/m2 (2lần/ngày)

ngày 1-14 mỗi 3 tuần

1000 mg/m2 ngày1,ngày 8 mỗi 3 tuần

Nhóm có thể phẫu thuật được ngay lúc đầu

chẩn đoán

Hóa trị hỗ trợ sau phẫu thuật bướu tuyến ức

dựa vào mô học, diện cắt sau phẫu thuật và

đánh giá giai đoạn theo Masaoka-Koga Chỉ định

hóa trị hỗ trợ nên được cân nhắc xem xét trong

các trường hợp sau(2,3):

Carcinôm tuyến ức, diện cắt dương tính,

phân độ IIA, IIB và III (Masaoka-Koga)

Carcinôm tuyến ức, diện cắt âm tính, phân

độ III (Masaoka-Koga)

Nhóm không thể phẫu thuật được ngay lúc

đầu chẩn đoán

Hóa trị tân hỗ trợ trên nhóm bệnh nhân

không thể phẫu thuật được bướu ngay sau khi

chẩn đoán Vai trò của hóa trị bằng phác đồ có

cisplatin, đồng thời kết hợp với doxorubicin và cyclophosphamide hay cisplatin và etoposide được khuyến cáo sử dụng, đánh giá lại bằng hình ảnh theo tiêu chuẩn (RECIST v1.1) sau 2 – 4 chu kỳ để xem xét khả năng phẫu thuật(2,3) Hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ CAP được khuyến cáo sử dụng đối với trường hợp carcinôm tuyến ức

Hóa trị bằng phác đồ PE được chỉ định trong những trường hợp hóa xạ tuần tự

Nhóm di căn xa ngay lúc chẩn đoán

Hóa trị triệu chứng với phác đồ có cisplatin trong những trường hợp di căn xa, có các triệu chứng chèn ép của bướu không có chỉ định phẫu thuật, và không có chỉ định của xạ trị(3)

Điều trị khi bệnh tái phát

Tái phát sau điều trị gặp khoảng 10 - 15% sau phẫu thuật cắt trọn u Trong những trường hợp tái phát nhưng đã quá chỉ định phẫu thuật, hóa trị sử dụng lại với phác đồ trước đó cần được cân nhắc xem xét Đặc biệt cần lưu ý độc tính tim mạch do hóa trị và xạ trị trước đó(3)

Hóa trị khi bệnh tái phát thường sử dụng bao gồm carboplatine kết hợp với paclitaxel, hoặc capecitabine kết hợp với gemcitabine Sử dụng pemetrexed và etoposide uống cũng được cân nhắc lựa chọn tùy từng tình huống tái phát

cụ thể

Đối với bệnh nhân bướu tuyến ức có octreoscan dương tính, không thích hợp với điều trị hóa trị, thì nên cân nhắc sử dụng octreotide có hoặc không kết hợp với prednisone

Triển vọng điều trị nhắm trúng đích(2,3,6)

Ức chế tyrosine kinase (imatinib, erlotinib, gefitinib)

Điều trị cá thể hóa bệnh nhân dựa trên đặc điểm sinh học phân tử của từng bệnh nhân cũng đang được đặt ra Giải trình tự gen KIT (exon 9 - 17) là một chọn lựa trong tình huống của carcinôm tuyến ức tái phát và kháng với hóa trị trước đó, nhằm mục đích sử dụng các

Trang 5

đích nhắm phân tử khác như ức chế tyrosine

kinase cũng đang được nghiên cứu trong các

thử nghiệm lâm sàng

Ức chế tăng sinh mạch (sunitinib)

Đang nghiên cứu trong điều trị bước hai

carcinôm tuyến ức, bất kể tình trạng đột biến

của KIT

Ức chế mTOR (everolimus)

Là một trong những chọn lựa trong trường

hợp kháng với tất cả các điều trị trước đó và

cũng đang được nghiên cứu trên các thử nghiệm

lâm sàng dựa trên bất hoạt con đường dẫn

truyền tín hiệu PI3K/AKT/mTOR

Ức chế PD-1/PDL-1

Cũng là đích nhắm mới trong điều trị bằng

liệu pháp miễn dịch, nhằm kích hoạt tế bào

lympho T hoạt động để tiêu diệt tế bào bướu

thông qua ức chế các điểm kiểm soát miễn dịch

PD-1/PD-L1 Đích nhắm phân tử này đã nghiên

cứu và đưa vào sử dụng trên bệnh nhân ung thư

phổi không tế bào nhỏ tiến xa và melanôm Các

nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng trên bướu biểu

mô tuyến ức đang được tiến hành

BÀN LUẬN

Bướu biểu mô tuyến ức là ít gặp trên lâm

sàng nhưng là một trong những bướu trung thất

trước cần nghĩ đến khi bệnh nhân đến trong

bệnh cảnh lâm sàng với các triệu chứng rối loạn

của hệ miễn dịch đi kèm hoặc triệu chứng chèn

ép của một bướu vùng trung thất CT-scan có

cản quang vẫn là công cụ chẩn đoán hình ảnh

khuyến cáo sử dụng Chẩn đoán xác định dựa

trên mô bệnh học và phân độ theo

Masaoka-Koga nhằm tiên lượng cho bệnh nhân Chẩn

đoán theo TNM nhằm xác định chiến lược điều

trị cụ thể cho bệnh nhân

Điều trị bướu tuyến ức cần phải có sự phối hợp đa mô thức giữa phẫu thuật đối với bướu

có thể mổ được, hóa trị và xạ trị hỗ trợ Vai trò của hóa trị hỗ trợ có thể được cân nhắc trong giai đoạn sớm có thể mổ được nhưng diện cắt dương tính Hóa trị tân hỗ trợ cho thấy rõ vai trò điều trị nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật sau đó nếu tình trạng bệnh nhân

có đáp ứng Hóa trị triệu chứng cũng có vai trò khi bệnh đã tiến triển di căn xa Cùng với hóa trị thì ngày nay với sự phát triển của sinh học phân tử trong chẩn đoán ung thư, các liệu pháp nhắm trúng đích thông qua việc sử dụng các con đường dẫn truyền tín hiệu ức chế tyrosinkinase hay ức chế tăng sinh mạch, ức chế mTOR, và ngày nay với liệu pháp ức chế điểm kiểm soát miễn dịch đã mang lại nhiều

cơ hội điều trị cho bệnh nhân bướu tuyến ức

KẾT LUẬN

Điều trị bướu tuyến ức trên cơ sở chẩn đoán kết hợp liên chuyên khoa ung bướu, phẫu thuật lồng ngực, chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh, và điều trị phối hợp đa mô thức trên từng cá thể bệnh nhân mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân bướu tuyến ức nói riêng và các ung thư khác nói chung

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Engels EA, Pfeiffer RM (2003) Malignant thymoma in the United States: demographic patterns in incidence and

associations with subsequent malignancies Int J Cancer, 105:

pp 546–551

2 Girard N, Merveilleux du Vignaux C (2017) Systemic

treatment for thymic malignancies Curr Opin Oncol, 29: pp

112–117

3 Girard N , Ruffini E , Marx A , Faivre-Finn C , Peters S

(2015) Thymic epithelial tumours: ESMO Clinical Practice

Guidelines for diagnosis, treatment and follow-up Ann Oncol,

5: 40-55

4 Koga K, Matsuno Y, Noguchi M, Mukai K, Asamura H, et al (1994) A review of 79 thymomas: modification of staging system and reappraisal of conventional division into invasive

and non-invasive thymoma Pathol Int, 44: 359–367

Trang 6

5 Marx A, Chan JK , Coindre JM , et al (2015) The 2015 World

Health Organization Classification of Tumors of the Thymus:

Continuity and Changes J Thorac Oncol, 10: 1383–1395

6 Merveilleux du Vignaux C, Maury JM, Girard N (2017) Novel

Agents in the Treatment of Thymic Malignancies Curr Treat

Options Oncol, 18: 52

7 Meurgey A, Girard N , Merveilleux du Vignaux

C , Maury JM , et al (2017) Assessment of the ITMIG

Statement on the WHO Histological Classification and of the

Eighth TNM Staging of Thymic Epithelial Tumors of a Series

of 188 Thymic Epithelial Tumors J Thorac Oncol, 12: 1571–

1581

Ngày nhận bài báo: 20/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 26/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 07:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w