1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xác định nồng độ hs-CRP huyết thanh trên bệnh nhân vảy nến mảng tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh

8 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 316,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vảy nến là một bệnh viêm mạn tính qua trung gian miễn dịch, chiếm tỷ lệ 1- 3% dân số. Nhiều nghiên cứu đều kết luận những bệnh nhân vảy nến nặng có nguy cơ cao bị các bệnh tim mạch và rối loạn chuyển hóa.

Trang 1

XÁC ĐỊNH NỒNG ĐỘ hs-CRP HUYẾT THANH

TRÊN BỆNH NHÂN VẢY NẾN MẢNG TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thùy Dung*, Trần Ngọc Ánh**, Lê Thái Vân Thanh***

TÓM TẮT

Mở đầu: Vảy nến là một bệnh viêm mạn tính qua trung gian miễn dịch, chiếm tỷ lệ 1- 3% dân số Nhiều

nghiên cứu đều kết luận những bệnh nhân vảy nến nặng có nguy cơ cao bị các bệnh tim mạch và rối loạn chuyển hóa Cho đến nay, chỉ số PASI vẫn được dùng để đánh giá độ nặng của bệnh, tuy nhiên chỉ số này không mang tính khách quan, tùy thuộc vào nhận định của từng thầy thuốc nên có độ biến thiên cao và chỉ số này cũng không đánh giá được các nguy cơ tim mạch đi kèm trên bệnh nhân vảy nến hs-CRP là một yếu tố nguy cơ độc lập cho bệnh tim mạch, đột quỵ, bệnh động mạch ngoại biên và đái tháo đường type 2 Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã cho thấy nồng độ hs-CRP tăng cao ở bệnh nhân vảy nến đồng thời cũng đã đề nghị sử dụng chỉ số này để đánh giá độ nặng cũng như theo dõi quá trình diễn biến, điều trị bệnh Ở Việt Nam, chưa có công trình nghiên cứu nào

về nồng độ hs-CRP trên bệnh nhân vảy nến

Mục tiêu: Xác định nồng độ hs-CRP huyết thanh trên bệnh nhân vảy nến mảng

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, mô tả và phân tích trên 120 bệnh nhân

vảy nến mảng điều trị ngoại trú tại bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 08/2016 - 04/2017 và

60 người khỏe mạnh

Kết quả: Nồng độ hs-CRP huyết thanh trung bình ở bệnh nhân VN mảng (6,17 ± 9,01 mg/L) cao hơn so với

nhóm chứng (2,22 ± 1,27 mg/L) có ý nghĩa thống kê hs-CRP tương quan thuận với điểm số PASI và tương quan thuận với số yếu tố của HCCH

Kết luận: Nồng độ hs-CRP huyết thanh có thể được khuyến cáo sử dụng như một phương tiện hỗ trợ trong

việc đánh giá độ nặng của bệnh vảy nến mảng, cũng như dự đoán nguy cơ mắc bệnh hội chứng chuyển hóa và bệnh tim mạch ở bệnh nhân vảy nến; nhất là khi kết hợp với xét nghiệm bilan lipid máu, đường máu, đo huyết áp

và vòng bụng

Từ khóa: hs CRP, PASI, vảy nến mảng, hội chứng chuyển hóa, độ nặng vảy nến

ABSTRACT

DETERMINE SERUM HS-CRP LEVEL IN PLAQUE PSORIASIS PATIENTS AT HCMC HOSPITAL

OF DERMATO-VENEREOLOGY

Nguyen Thi Thuy Dung, Tran Ngoc Anh, Le Thai Van Thanh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 22 ‐ No 1‐ 2018: 107 ‐ 114

Background: Psoriasis is a chronic inflammatory disorder with prevalence ranges from 0.1% to 3% in

various populations Many researches showed that the severe psoriasis patients have a high risk of cardiovascular diseases and metabolic disturbances Currently, PASI score remains a useful tool to assess the severity of this disease, but this method is not objective because it depends on physician Moreover, PASI score can’t evaluate

* Bệnh Viện Da Liễu TP.HCM ** Bộ môn Da liễu ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch

*** Bộ môn Da Liễu ĐH Y Dược TP.HCM

Tác giả liên lạc: TS.BS Lê Thái Vân Thanh ĐT: 0903774310 Email:chamsocdadhyd@gmail.com

Trang 2

cardiovascular risk in psoriasis patients hs-CRP is an independent risk factor of cardiovascular disease, stroke, peripheral arterial disease and diabetes type 2 There are many international studies performed that hs-CRP level increases highly in psoriasis patients Therefore they recommended that hs-CRP level can be used to assess the severity of psoriasis as well as monitor process, treatment of this disease In Viet Nam, there is no study about hs-CRP level in psoriasis patients

Objective: Determine serum hs-CRP level in plaque psoriasis patients

Method: Descriptive and analytic cross-sectional study on 120 plaque psoriasis outpatients and 60 healthy

people at HCMC Hospital of Dermato-venereology from 08/2016 to 04/2017

Results: the mean of serum hs-CRP level in plaque psoriasis Vietnamese patients (6.17 ± 9.01 mg/L) is

higher significantly than that one in controlled group (2.22 ± 1.27 mg/L) hs-CRP has a positive correlation with PASI score and some factors of metabolic syndrome

Conclusion: serum hs-CRP level can be recommended as a supportive method in evaluation of the severity of

plaque psoriasis as well as prediction the risk of cardiovascular disease and metabolic syndrome in Vietnamese patients, especially in combination with lipid profile, blood glucose level, and blood pressure monitor and waist circumference

Key words: hs CRP, PASI, plaque psoriasis, metabolic syndrome, the severity of psoriasis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vảy nến (VN) là một bệnh viêm mạn tính

qua trung gian miễn dịch, chiếm tỷ lệ 1‐ 3% dân

số(9,17) Bệnh diễn tiến bất thường, dai dẳng và

hay tái phát nên ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý,

khả năng sinh hoạt, lao động cũng như chất

lượng cuộc sống của người bệnh(6,19) Cường độ

viêm và những biến đổi da ở bệnh nhân vảy nến

không chỉ cho thấy độ nặng của bệnh mà còn là

của các bệnh hệ thống khác Nhiều nghiên cứu

đều kết luận những bệnh nhân vảy nến nặng có

nguy cơ cao bị các bệnh tim mạch (NCTM) và

hội chứng chuyển hóa (HCCH)(13,21) Cho đến

nay, vẫn chưa có một xét nghiệm thường qui nào

để đánh giá độ nặng của bệnh vảy nến, mà

thường dựa vào chỉ số PASI, tuy nhiên chỉ số

này không mang tính khách quan, tùy thuộc vào

nhận định của từng thầy thuốc nên có độ biến

thiên cao và chỉ số này cũng không đánh giá

được các nguy cơ tim mạch đi kèm trên bệnh

nhân vảy nến hs‐CRP là một yếu tố nguy cơ độc

lập cho bệnh tim mạch, đột quỵ, bệnh động

mạch ngoại biên và đái tháo đường type 2(5,13)

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã cho thấy

nồng độ hs‐CRP tăng cao ở bệnh nhân vảy nến

đồng thời cũng đã đề nghị sử dụng chỉ số này để

đánh giá độ nặng cũng như theo dõi quá trình

diễn biến, điều trị bệnh(3,4,16) Ở Việt Nam, chưa

có công trình nghiên cứu nào về nồng độ hs‐CRP trên bệnh nhân vảy nến Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Xác định nồng độ hs‐CRP huyết thanh trên bệnh nhân vảy nến mảng tại Bệnh Viện Da Liễu Thành Phố Hồ Chí Minh”, nhằm xác định nồng độ và một số yếu tố liên quan đến hs‐CRP ở bệnh nhân vảy nến mảng, đặc biệt qua xét nghiệm CRP siêu nhạy (high sensitivity CRP, hs‐CRP) để có thể góp phần trong việc tiên lượng độ nặng của bệnh Qua đó, quyết định hướng điều trị sớm và tích cực hơn với mục đích cải thiện chất lượng cuộc sống, góp phần làm giảm tỉ lệ tử vong do các biến chứng tim mạch ở bệnh nhân vảy nến mảng

Mục tiêu

Mục tiêu tổng quát

Xác định nồng độ hs‐CRP huyết thanh trên bệnh nhân vảy nến mảng tại Bệnh Viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 08/2016 đến tháng 04/2017

Mục tiêu chuyên biệt

Khảo sát các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân vảy nến

So sánh nồng độ hs‐CRP huyết thanh trung bình của bệnh nhân vảy nến mảng và nhóm người bình thường

Trang 3

Xác định mối liên quan giữa nồng độ hs‐CRP

huyết thanh của bệnh nhân vảy nến với một số

yếu tố: tuổi, giới, tuổi khởi phát, thời gian bệnh,

độ nặng của bệnh (theo PASI) và hội chứng

chuyển hóa

Khảo sát sự tương quan giữa nồng độ hs‐

CRP huyết thanh của bệnh nhân vảy nến với

điểm số PASI và số yếu tố của hội chứng

chuyển hóa

ĐỐI TƯỢNG- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhân vảy nến mảng điều trị

ngoại trú tại bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ

Chí Minh từ tháng 08/2016 ‐ 04/2017

Tiêu chuẩn nhận vào

Nhóm vảy nến

Bệnh nhân vảy nến mảng điều trị ngoại trú

tại BV Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng

08/2016‐04/2017

Tuổi ≥ 18

Đồng ý tham gia nghiên cứu

Nhóm chứng

Những người khỏe mạnh, không mắc bệnh

vảy nến, tình nguyện muốn xét nghiệm kiểm tra

đường huyết, hs‐CRP huyết thanh và lipid máu

Nhóm chứng được mời ngẫu nhiên có chú ý đến

giới và tuổi cho phù hợp với nhóm bệnh

Tuổi ≥ 18

Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Đang mắc các bệnh gây ảnh hưởng đến nồng

độ hs‐CRP huyết thanh như: Tất cả nhiễm trùng

cấp và mạn tính phát hiện trên lâm sàng hoặc

cận lâm sàng, sốt do bất kể các nguyên nhân,

viêm khớp, viêm đa khớp, bệnh van tim hậu

thấp, các bệnh hệ thống, suy gan, suy thận, mới

chấn thương hoặc sau phẫu thuật trong vòng 2

tháng

Đang dùng các thuốc gây ảnh hưởng đến

nồng độ hs‐CRP huyết thanh như: Thuốc kháng

viêm đặc hiệu và không đặc hiệu, các thuốc độc

tế bào, các chế phẩm sinh học, các thuốc có tính kháng viêm toàn thân khác

Có thai hoặc đang cho con bú

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang, mô tả và phân tích

Phương pháp tiến hành

Đối tượng nghiên cứu thỏa mãn tiêu chuẩn nhận bệnh thì sẽ được giải thích cặn kẽ về mục tiêu, cách thức tiến hành nghiên cứu và ký vào biên bản đồng ý tham gia nghiên cứu

Thu thập thông tin chung về đối tượng nghiên cứu, bao gồm: hành chính, cân nặng, chiều cao, vòng eo, huyết áp

Mẫu máu của bệnh nhân được thu thập đồng thời để đo các chỉ số hs‐CRP, Glucose, Triglyceride, Cholesterol, H‐DLC, L‐DLC

Xử lý số liệu

Số liệu được nhập mã hóa và xử lí bằng phần

mềm SPSS 18.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện trên 120 bệnh nhân và 60 người khỏe mạnh

Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Có 120 bệnh nhân vảy nến trong nhóm nghiên cứu có độ tuổi từ 18 đến 73, tuổi trung bình là 47,25 ± 12,10 Nam chiếm tỷ lệ cao hơn

nữ, 60% (72 người) so với 40% (48 người) (Bảng 1)

Phần lớn bệnh nhân có mức độ bệnh trung bình và nặng với 50% bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao

Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm lâm sàng Số lượng Tỉ lệ %

Hoạt động thể lực

Bình thường (18,5 ≤ BMI < 25)

Tiền béo phì (25 ≤ BMI < 30/)

Béo phì (BMI ≥ 30)

Trang 4

Đặc điểm lâm sàng Số lượng Tỉ lệ %

Các yếu tố

của HCCH

Phân loại

NCTM theo

hs-CRP

(mg/L)

Có NCTM Thấp

(hs-CRP <1)

Có NCTM Trung bình (1

≥ hs-CRP) 3)

Có NCTM cao (hs-CRP

≥ 3)

Vừa (10 ≤ PASI < 20) 37 30,8

Bảng 2: So sánh nồng độ hs-CRP huyết thanh trung

bình giữa 2 nhóm nói chung

Nhóm bệnh Nhóm chứng P

6,17 ± 9,01

(mg/L)

2,22 ± 1,27 (mg/L)

< 0,001

Nồng độ hs‐CRP huyết thanh trung bình ở

nhóm vảy nến cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa

thống kê (P < 0,001)

Bảng 3: So sánh nồng độ hs-CRP huyết thanh trung

bình giữa 2 nhóm theo nhóm tuổi và giới

Đặc điểm

Nồng độ hs-CRP huyết thanh (mg/L)

P

Nhóm bệnh (n = 120)

Nhóm chứng (n = 60) Nhóm tuổi  40 tuổi 2,75 ± 2,59 1,68 ± 0,76 0,169

 40 tuổi 7,31 ± 10,06 2,35 ± 1,34 0,001

Giới Nam 6,12 ± 8,39 1,99 ± 1,04 0,004

Nữ 6,24 ± 9,96 2,57 ± 1,52 0,085

Nhóm > 40 tuổi: Nồng độ hs‐CRP huyết

thanh trung bình ở nhóm bệnh nhân vảy nến cao

hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Nhóm nam giới: Nồng độ hs‐CRP huyết thanh

trung bình ở nam giới có bệnh vảy nến cao hơn ở

nam giới không có vảy nến, sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê (p < 0,05)

Nồng độ hs‐CRP huyết thanh trung bình ở

bệnh nhân VN có HCCH (9,19 ± 12,26 mg/L) cao

hơn so với nhóm VN không có HCCH (3,69 ±

3,51 mg/L) Trong số các yếu tố của hội chứng

chuyển hoá thì béo phì bụng, THA, tăng ĐH có

liên quan với tăng nồng độ hs‐CRP huyết thanh trung bình (Bảng 4)

Bảng 4: Mối liên quan giữa nồng độ hs-crp huyết

thanh của bệnh nhân vảy nến với một số yếu tố

Đặc điểm n hs-CRP (mg/L)

TB ± ĐLC P

Nhóm tuổi

 40 tuổi

 40 tuổi

30

90

2,75 ± 2,59 7,31 ± 10,06

0,016

Độ nặng của bệnh (Theo

PASI) PASI < 10 (Nhẹ)

10 ≤ PASI < 20 (Trung bình) PASI ≥ 20 (Nặng)

24

37

59

1,85 ± 1,32 5,19 ± 7,10 8,54 ± 10,99

0,006

Số yếu tố của HCCH

0 yếu tố

1 yếu tố

2 yếu tố

3 yếu tố

4 yếu tố

5 yếu tố

10

25

31

35

17

2

2,29 ± 2,22 3,72 ± 3,60 4,82 ± 3,99 6,92 ± 8,84 11,91 ± 15,02 25,84 ± 29,02

< 0,001

Tương quan giữa nồng độ HS-CRP huyết thanh của bệnh nhân vảy nến với điểm số pasi

và số yếu tố của HCCH

Có mối tương quan thuận giữa nồng độ hs‐ CRP huyết thanh với chỉ số PASI, với hệ số tương quan r = 0,329 và phương trình hồi quy

tuyến tính là: Nồng độ hs-CRP (mg/L) = 0,18 x

PASI + 1,63

Có mối tương quan thuận giữa nồng độ hs‐ CRP huyết thanh với số yếu tố HCCH, với hệ số tương quan r = 0,369 và phương trình hồi quy

tuyến là: Nồng độ hs-CRP (mg/L) = 2,72 x Số yếu tố

HCCH + 0,05

BÀN LUẬN

Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Việc ít hoạt động thể lực, hút nhiều thuốc lá hoặc uống rượu bia là những thói quen ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe (nhất là các bệnh

lý tim mạch, HCCH cũng như bệnh vảy nến…) Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhóm hoạt động thể lực đều đặn nhiều hơn 1lần/tuần cao hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đây(11,19)

cũng đã thực hiện tại BVDL Tp.HCM Có lẽ bệnh

Trang 5

nhân VN cũng đã ngày càng hiểu rõ hơn vai trò

của hoạt động thể lực (thông qua câu lạc bộ vảy

nến, phương tiện truyền thông cũng như được

bác sĩ tư vấn qua các lần thăm khám tại Bệnh

viện…) nên đã tăng cường luyện tập Thêm vào

đó, gần 1 nửa các bệnh nhân VN trong nghiên

cứu này là đối tượng lao động chân tay, cho nên

công việc hàng ngày của họ cũng tương đương

với việc hoạt động thể lực Tuy nhiên, nhóm

bệnh nhân VN hoạt động thể lực không đều vẫn

chiếm tỷ lệ cao nhất 49,2% Do đó, cần lưu ý

nhấn mạnh hơn nữa vấn đề này trong tư vấn

giáo dục sức khỏe để chỉ rõ cho bệnh nhân thấy

vai trò của việc rèn luyện thể lực đối với bệnh tật

nói chung và bệnh vảy nến nói riêng

Có đến 50,0% bệnh nhân vảy nến trong

nhóm nghiên cứu có nguy cơ tim mạch cao (hs‐

CRP>3mg/L) Điều này cũng phù hợp với y văn

và nhiều nghiên cứu trước đây đều cho rằng

bệnh nhân vảy nến có nguy cơ cao bị bệnh tim

mạch và các bệnh rối loạn chuyển hóa khác(10,18,22)

Do đó, trong thực hành lâm sàng, cũng nên chú

ý tầm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh

nhân vảy nến để kịp thời xử lý, hạn chế tối đa

những bệnh tim mạch có thể xảy ra, cũng như

những tai biến của nó Nhằm nâng cao chất

lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ hơn cho

những người bệnh VN

Trong các bệnh nhân của chúng tôi, vảy

nến thông thường mức độ nặng chiếm tỷ lệ

cao nhất Tỷ lệ này tương tự với nghiên cứu

của Trương Thị Mộng Thường(19), nhưng khác

với nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hào và

Trương Lê Anh Tuấn với đa số là VN nhẹ(11,18)

Chỉ số PASI ở bệnh nhân vảy nến mảng dao

động khá lớn, trung bình là 24,07 ± 15,75, cao

nhất là 71,4 và thấp nhất là 2,8 Những số liệu

trên cho thấy chỉ số PASI ở các nghiên cứu khá

khác nhau Điều này có thể do vảy nến là bệnh

diễn tiến mạn tính nên các đối tượng nghiên

cứu đều có thời gian bệnh khác nhau, diễn

tiến càng lâu, càng dai dẳng thì bệnh càng

nặng Các đối tượng trong các nghiên cứu

khác nhau nên độ nặng của bệnh, biểu hiện qua chỉ số PASI cũng rất khác nhau

So sánh nồng độ hs-CRP huyết thanh trung bình giữa 2 nhóm bệnh và chứng

Nồng độ hs‐CRP huyết thanh của 120 bệnh nhân vảy nến là 6,17 ± 9,01 mg/L cao hơn nhiều

so với nhóm chứng, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê Kết quả của chúng tôi ủng hộ giả thuyết vảy nến là một bệnh viêm hệ thống, đặc trưng bởi những thay đổi của các dấu ấn viêm Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu của các tác giả ở nước ngoài(15,22) Hầu hết các nghiên cứu đều ghi nhận

có sự gia tăng nồng độ hs‐CRP đáng kể ở nhóm bệnh nhân vảy nến so với nhóm chứng Điều này chứng tỏ hs‐CRP có liên quan với bệnh vảy nến Gần đây (năm 2016), nghiên cứu của Santilli

S và cộng sự cho thấy rằng nồng độ hs‐CRP huyết thanh tăng ở bệnh nhân vảy nến so với nhóm chứng, thậm chí sau khi đã điều chỉnh đối với một số biến bao gồm tuổi, giới tính, chủng tộc, BMI và tình trạng đang hút thuốc(14)

So sánh nồng độ hs-CRP huyết thanh trung bình giữa 2 nhóm theo nhóm tuổi và giới

Chúng tôi ghi nhận nồng độ hs‐CRP ở nhóm bệnh vảy nến cao hơn nhóm chứng, và sự khác biệt này chỉ có ý nghĩa thống kê trong nhóm có

độ tuổi trên 40 đồng thời sự khác biệt này cũng chỉ có ý nghĩa thống kê đối với nhóm bệnh nhân nam Điều này chứng tỏ bệnh nhân bị bệnh vảy nến, là nam giới hoặc có tuổi > 40 thì có sự gia tăng nồng độ hs‐CRP huyết thanh Cho đến nay,

có rất nhiều các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy hs‐CRP có liên quan chặt chẽ đến bệnh tim mạch, hs‐CRP tăng trong các bệnh lý tim mạch Thêm vào đó, theo y văn cùng nhiều nghiên cứu thì nam giới có nguy cơ bị bệnh tim mạch nhiều hơn nữ giới(8,10) cũng như tuổi càng lớn thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng cao Có

lẽ đó là những lý do góp phần làm cho bệnh nhân VN, là nam giới và có tuổi > 40 thì có sự gia tăng nồng độ hs‐CRP như kết quả nghiên cứu chúng tôi tìm thấy Vì vậy trong thực hành lâm

Trang 6

sàng đối với những bệnh nhân vảy nến, nếu là

nam giới và trên 40 tuổi thì cần phải lưu ý kiểm

tra nồng độ hs‐CRP huyết thanh, cũng như tầm

soát các yếu tố nguy cơ tim mạch nếu nồng độ

này tăng cao Tuy nhiên, không tìm được các

nghiên cứu khác trên thế giới để so sánh Chúng

tôi mong rằng, từ kết quả này có thể mở ra

hướng cho nhiều nghiên cứu khác trong tương

lai để góp phần làm sáng tỏ vấn đề này

Mối liên quan giữa nồng độ hs-crp huyết thanh

trung bình của bệnh nhân vảy nến với một số

yếu tố

Nồng độ hs‐CRP ở bệnh nhân VN trên 40

tuổi cao hơn có ý nghĩa thống kê so với bệnh

nhân VN dưới 40 tuổi Một lần nữa lại cho

thấy cần lưu ý đến nồng độ hs‐CRP cũng như

các yếu tố nguy cơ tim mạch ở nhóm bệnh

nhân VN trên 40 tuổi để có kế hoạch kiểm soát

khi có bất thường

Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả giống

với nhiều nghiên cứu khác, đều cho thấy hs‐CRP

tăng trong huyết thanh bệnh nhân VN và có liên

quan đến mức độ bệnh, có thể sử dụng để xác

định mức độ nặng của bệnh VN(1,4) Những kết

quả này phù hợp với đặc tính của bệnh vảy nến

và nhận xét của nhiều tác giả rằng vảy nến là

một bệnh viêm hệ thống, mạn tính và tái phát,

đáp ứng viêm đại diện cho khả năng cơ bản của

cơ thể nhằm chống lại các tổn thương, sự nặng

lên của bệnh dường như liên quan đến việc tăng

cường đáp ứng viêm So với việc định lượng các

cytokines khác đóng vai trò quan trọng trong

vảy nến như TNF‐α, INF‐γ, IL ‐6, IL‐10, IL‐17, IL‐

23, Leptin, elastase, Adiponectin khá tốn kém và

mẫu huyết thanh ít ổn định trong suốt thời gian

lưu trữ thì hs‐CRP có giá thành rẻ và ổn định

hơn Vì vậy, chúng tôi tin rằng hs‐CRP sử dụng

trong thực hành lâm sàng phù hợp hơn để xác

định độ nặng của bệnh ở bệnh nhân vảy nến

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nồng độ

trung bình hs‐CRP huyết thanh cao hơn rất có ý

nghiã thống kê ở những bệnh nhân VN so với

nhóm VN không có HCCH Điều này phù hợp

với một số nghiên cứu ở các nước(7,18,20) Tác giả Matteo Pirro và cộng sự đã báo cáo bệnh vảy nến và HCCH liên quan độc lập với tăng nồng

độ hs‐CRP và cũng gợi ý rằng bản chất viêm của bệnh vảy nến có thể giải thích một phần về việc gia tăng nồng độ hs‐CRP và HCCH cũng đóng 1 vai trò quan trọng trong việc làm tăng nồng độ hs‐CRP, bởi vì cả hai (vảy nến và HCCH) đều có liên quan đến quá trình viêm(12)

Nồng độ hs‐CRP huyết thanh trung bình bệnh nhân vảy nến tăng dần theo số yếu tố của HCCH Điều này phù hợp với y văn là mỗi yếu

tố của HCCH đều là những yếu tố NCTM

Tương quan giữa nồng độ HS-CRP huyết thanh của bệnh nhân vảy nến với điểm số pasi

và số yếu tố của HCCH

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chỉ số PASI càng cao, bệnh càng nặng thì nồng độ hs‐CRP huyết thanh càng cao Với phương trình hồi quy tương quan dự đoán: Nồng độ hs‐CRP (mg/L) = 0,18 x PASI + 1,63, ta thấy rằng, khi chỉ số PASI tăng lên 1 thì nồng độ hs‐CRP sẽ tăng 0,18 mg/L Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã báo cáo có mối tương quan thuận giữa mức tăng hs‐CRP và chỉ số PASI đồng thời 1 số cũng chứng minh rằng nồng độ hs‐CRP giảm đáng kể khi điểm số PASI giảm sau 12 tuần điều trị(2,3,4) Điều này ủng hộ giả thuyết đáp ứng viêm giảm khi điểm số PASI được cải thiện Chính vì vậy mà các tác giả đã

đề nghị có thể sử dụng hs‐CRP để đánh giá độ nặng và theo dõi điều trị bệnh vảy nến trong thực hành lâm sàng Tuy nhiên, để khẳng định được điều này thì nên có những nghiên cứu đoàn hệ và trên những cỡ mẫu lớn hơn

Kết quả của chúng tôi cũng cho thấy có mối tương quan thuận giữa nồng độ hs‐CRP huyết thanh với số yếu tố của HCCH, với hệ số tương quan r = 0,369 và phương trình hồi quy tuyến là: Nồng độ hs‐CRP (mg/L) = 2,72 x Số yếu tố HCCH + 0,05 Như vậy khi tăng thêm 1 yếu tố HCCH thì nồng độ hs‐CRP tăng lên 2,72 mg/L

Từ đó gợi ý rằng, bên cạnh việc đánh giá được

Trang 7

mức độ nặng của bệnh, thì nồng độ hs‐CRP

huyết thanh còn có giá trị dự đoán nguy cơ mắc

bệnh HCCH ở bệnh nhân VN

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

Nồng độ hs‐CRP huyết thanh trung bình ở

bệnh nhân VN mảng cao hơn so với nhóm

chứng có ý nghĩa thống kê với hs‐CRP ở nam

giới hoặc ở những người trên 40 tuổi có bệnh

vảy nến cao hơn ở nam giới hoặc những người

trên 40 tuổi không có bệnh vảy nến có ý nghĩa

thống kê Có sự liên quan có ý nghĩa thống kê

giữa nồng độ hs‐CRP huyết thanh trung bình ở

bệnh nhân VN mảng với nhóm tuổi, độ nặng của

vảy nến, HCCH Đồng thời hs‐CRP tương quan

thuận với điểm số PASI và với với số yếu tố của

HCCH Như vậy nên tầm soát HCCH và các yếu

tố NCTM ở bệnh nhân vảy nến Nồng độ hs‐

CRP huyết thanh có thể được khuyến cáo sử

dụng như một phương tiện hỗ trợ trong việc

đánh giá độ nặng của bệnh vảy nến mảng cũng

như dự đoán nguy cơ mắc bệnh HCCH và bệnh

tim mạch ở bệnh nhân VN, nhất là khi kết hợp

với xét nghiệm bilan lipid máu, đường máu, đo

HA và vòng bụng Bên cạnh đó, định lượng

nồng độ hs‐CRP nên được đưa vào như một xét

nghiệm thường qui ở bệnh nhân vảy nến (nhất

là ở bệnh nhân nam, trên 40 tuổi)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Agravatt A, Sirajwala H (2013), A Study of serum hsCRP

levels to assess severity in patients with Psoriasis IJBAR, 4(07):

460‐466

2 Balta I, Balta S, Demirkol S, Mikhailidis D, Celik T, Akhan M,

Kurt O, Kurt Y, Aydin I, Kilic S (2013), Elevated serum levels

of endocan in patients with psoriasis vulgaris: correlations

with cardiovascular risk and activity of disease British Journal

of Dermatology, 169(5):1066‐1070

3 Beygi S, Lajevardi V, Abedini R (2014), C‐reactive protein in

psoriasis: a review of the literature Journal of the European

Academy of Dermatology and Venereology, 28(6):700‐711

4 Coimbra S, Oliveira H, Reis F, Belo L, Rocha S, Quintanilha A,

Figueiredo A, Teixeira F, Castro E, Rocha‐Pereira P (2010),

C‐reactive protein and leucocyte activation in psoriasis

vulgaris according to severity and therapy Journal of the

European Academy of Dermatology and Venereology, 24(7):789‐

796

5 Gerkowicz A, Pietrzak A, Szepietowski JC, Radej S,

Chodorowska G (2012) Biochemical markers of psoriasis as a

metabolic disease Folia Histochemica et Cytobiologica, 50(2):155‐

170

6 Huerta C, Rivero E, Rodríguez LAG (2007), Incidence and

risk factors for psoriasis in the general population Archives of

Dermatology, 143(12):1559‐1565

7 Kacalak‐Rzepka A, Kiedrowicz M, Maleszka R (2013)

Analysis of the chosen parameters of metabolic status in patients with psoriasis in Annales Academiae Medicae Stetinensis

8 Myasoedova E, Akkara Veetil BM, Matteson EL, Kremers

HM, McEvoy MT, Crowson CS (2013), Cardiovascular risk in psoriasis: a population‐based analysis with assessment of the

framingham risk score Scientifica

9 Neimann AL, Shin DB, Wang X, Margolis DJ, Troxel AB, Gelfand JM (2006) Prevalence of cardiovascular risk factors in

patients with psoriasis Journal of the American Academy of

Dermatology, 55(5):829‐835

10 Nguyễn Hoàng Liên, Văn Thế Trung (2013) "Xác định nguy cơ

tim mạch theo thang điểm Framingham trên bệnh nhân vảy nến tại Bệnh viện Da Liễu Tp Hồ Chí Minh", Đại học Y Dược TP.HCM

11 Nguyễn Trọng Hào, Trần Hậu Khang, Nguyễn Tất Thắng

(2016) "Nghiên cứu rối loạn lipid máu ở bệnh nhân vảy nến và hiệu

quả điều trị hỗ trợ của simvastatin trên bệnh vảy nến thông thường", Trường đại học Y Hà Nội

12 Pirro M, Stingeni L, Vaudo G, Mannarino MR, Ministrini S, Vonella M, Hansel K, Bagaglia F, Alaeddin A, Lisi P (2015) Systemic inflammation and imbalance between endothelial injury and repair in patients with psoriasis are associated with

preclinical atherosclerosis European journal of preventive

cardiology, 22(8):1027‐1035

13 Ryan C, Kirby B (2015) Psoriasis is a systemic disease with

multiple cardiovascular and metabolic comorbidities

Dermatologic clinics, 33(1):41‐55

14 Santilli S, Kast D, Grozdev I, Cao L, Feig R, Golden J, Debanne

S, Gilkeson R, Orringer C, McCormick T (2016) Visualization

of atherosclerosis as detected by coronary artery calcium and carotid intima‐media thickness reveals significant atherosclerosis in a cross‐sectional study of psoriasis patients

in a tertiary care center Journal of translational medicine,

14(1):217

15 Sontakke A (2014) "Serum High Sensitivity CRP (HsCRP) in

Psoriasis", 409‐413

16 Takahashi H, Iinuma S, Honma M, Iizuka H (2014) Increased serum C‐reactive protein level in Japanese patients of psoriasis

with cardio‐and cerebrovascular disease The Journal of

dermatology, 41(11):981‐985

17 Takahashi H, Iizuka H (2012) Psoriasis and metabolic

syndrome The Journal of dermatology, 39(3):212‐218

18 Trương Lê Anh Tuấn, Lê Ngọc Diệp (2011), "Mối liên quan giữa

bệnh vảy nến và hội chứng chuyển hóa", Đại học Y Dược

TP.HCM

19 Trương Thị Mộng Thường, Lê Ngọc Diệp (2012), "Chất lượng

cuộc sống của bệnh nhân vảy nến đến điều trị tại bệnh viện Da Liễu TP.HCM từ 01/9/2010 đến 30/4/2011", Đại học Y dược thành

phố Hồ Chí Minh

20 Vachatova S, Andrys C, Krejsek J, Salavec M, Ettler K, Rehacek V, Cermakova E, Malkova A, Fiala Z, Borska L (2016) Metabolic Syndrome and Selective Inflammatory

Markers in Psoriatic Patients Journal of immunology research,

2016

21 Vadakayil AR, Dandekeri S, Kambil SM, Ali NM (2015) Role

of C‐reactive protein as a marker of disease severity and

cardiovascular risk in patients with psoriasis Indian

dermatology online journal, 6(5):322

Trang 8

22 Yiu KH, Yeung CK, Zhao CT, Chan J, Siu CW, Tam S, Wong

CS, Yan G, Yue W, Khong PL (2013) Prevalence and extent of

subclinical atherosclerosis in patients with psoriasis Journal of

internal medicine, 273(3):273‐282

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 28/02/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 07:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w