CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SOHACO VIỆT NAM...29 3.1 Quan điểm
Trang 1TÓM LƯỢC
Hoạt động mua bán hàng hóa là hoạt động đã được hình thành từ ngàn đời nay
Nó xuất phát từ nhu cầu trao đổi để thỏa mãn những mong muốn cá nhân của conngười Ngày nay, khi nền kinh tế càng phát triển, hoạt động mua bán hàng hóa diễn racàng phổ biến và phức tạp hơn Đặc biệt, kể từ khi nước ta ra nhập WTO, các hoạtđộng trao đổi hàng hóa, giao thương trong nước cũng như nước ngoài ngày càng phổbiến và phát triển mạnh mẽ thì quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa lại càng trở nên
vô cùng quan trọng
Trong phạm vi bài khóa luận, em sẽ tập trung đi sâu làm rõ một số vấn đề pháp
lý về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, và thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phầnSohaco Việt Nam Bài khóa luận của em gồm có 3 chương chính:
Chương 1: Tập trung đi vào các vấn đề pháp lý cơ bản của pháp luật về giao kếthợp đồng mua bán hàng hóa Làm rõ một số vấn đề như hợp đồng mua bán hàng hóa
là gì? Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa ra sao? Quá trình, thủ tục giao kếthợp đồng mua bán hàng hóa diễn ra như thế nào? Từ việc nêu ra những lý luận cơ bản
sẽ là nền tảng để em thực hiện các chương tiếp theo của bài khóa luận
Chương 2: Tập trung đi vào phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnhvấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa hiện nay và thực tiễn thực hiện tại Công
ty Cổ phần Sohaco Việt Nam
Chương 3: Qua việc đánh giá tìm ra được những vấn đề còn tồn tại gây ra sự bấtcập, không phù hợp của pháp luật khi áp dụng vào thực tế tại chương 2 Từ đó nêu ramột số kiến nghị để hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật hiện hành
Trang 2Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn tới Tiến sĩ Trần Thị Thu Phương – bộ môn luậtchuyên ngành đã rất tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận Em cũngxin gửi lời cảm ơn tới cán bộ nhân viên Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam đã tạo điềukiện cho em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Do thời gian có hạn và kiến thức còn nhiều hạn chế nên bài làm của em khôngkhó tránh khỏi những sai sót Em mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các thầy cô
để bài khóa luận được hoàn chỉnh và giúp em có thể trau dồi được thêm vốn kiến thức
về pháp luật thương mại
Môt lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2016
Sinh viên thực hiện Phạm Thị Dung
Trang 3MỤC LỤC
TÓM LƯỢC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 2
3.Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 3
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá 7
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa 7
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa 7
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề về giao kết hợp đồng 8
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật về hoạt động mua bán hàng hóa 8
1.2.1.1 Cơ sở thực tiễn xã hội 8
1.2.1.2 Cơ sở pháp luật 9
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 10
1.2.2.1 Chủ thể 10
1.2.2.2 Hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 11
1.2.2.3 Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 12
1.2.2.4 Thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 12
1.2.2.5 Thời điểm hình thành hợp đồng mua bán hàng hóa 13
1.3 Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 14
Trang 41.3.1 Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
14
1.3.2 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng 14
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SOHACO VIỆT NAM 17
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề giao kết hợp đồng của doanh nghiệp 17
2.1.1 Tổng quan tình hình tại Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam 17
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề giao kết hợp đồng của doanh nghiệp 18
2.2 Phân tích thực trạng pháp luật điều chỉnh về vấn đề giao kết hợp đồng 18
2.2.1 Đề nghị giao kết 18
2.2.2 Chấp nhận đề nghị giao kết 20
2.2.3 Thời điểm đề nghị giao kết HĐ có hiệu lực: 21
2.3 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng tại Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam 22
2.3.1 Chủ thể giao kết hợp đồng 22
2.3.2 Trình tự thủ tục của giao kết hợp đồng: 23
2.3.3 Hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng: 23
2.3.4 Nội dung của đề nghị giao kết 24
2.4 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 24
2.4.1 Các kết quả đạt được 24
2.4.1.1 Từ phía pháp luật 24
2.4.1.2 Từ phía Doanh nghiệp 25
2.4.2 Những khó khăn 25
2.4.2.1 Từ phía pháp luật 25
2.4.2.2 Từ phía Doanh nghiệp 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 28
Trang 5CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SOHACO VIỆT NAM 29 3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 29 3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 30 3.2.1 Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 30 3.2.2 Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại doanh nghiệp 31 3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 32 KẾT LUẬN 33 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6NĐ- CP Nghị định – Chính phủTT-BTC Thông tư Bộ Tài chính
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận
Ngày nay, hoạt động mua bán hàng hoá trong nước đã trở thành lĩnh vực kinhdoanh chủ đạo và đem lại nguồn doanh thu lớn cho các Công ty Tuy nhiên, để hoạtđộng mua bán hàng hoá của Công ty đi vào chiều sâu thì đòi hỏi doanh nghiệp phảitìm hiểu, tiếp cận và nhận thức đúng đắn các hoạt động thương mại theo đúng luật,nhằm hạn chế những tổn hại kinh tế không đáng có Hợp đồng mua bán hàng hoá rấtphong phú, được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật và khá phổ biến trong hoạt độngkinh doanh của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào Trong hệ thống pháp luật nước ta đã
có những quy định cụ thể về sự điều chỉnh quan hệ hợp đồng ngay từ Pháp lệnh hợpđồng kinh tế 1989, tiếp đến là Bộ luật Dân sự 1995, Luật Thương mại 1997… và chođến nay là hai văn bản pháp luật mới được ban hành: Bộ luật Dân sự 2005 và LuậtThương mại 2005
Việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các thương nhân, giữa cácDoanh nghiệp với nhau ngày càng tăng về số lượng Vấn đề đặt ra trong việc nâng caohiệu quả của việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, là liệu các doanh nghiệp cóđược sự chủ động trong vấn đề giao kết, làm thế nào để hợp đồng được xác lập nhanhchóng, đảm bảo hợp đồng được thực hiện một cách nghiêm túc đưa đến lợi nhuận tối
ưu, tránh các thiệt hại không đáng có Điều này phụ thuộc trước hết vào hệ thống phápluật hiện hành, đồng thời phụ thuộc nhiều vào khả năng nhận biết cũng như trình độ ápdụng pháp luật của từng Doanh nghiệp Thực tiễn cho thấy, sự hiểu biết về pháp luậtcủa các doanh nghiệp còn bộc lộ nhiều hạn chế Hiện nay pháp luật về hợp đồng đangngày càng được hoàn thiện theo hướng phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế và phápluật hợp đồng của thế giới Nhưng còn rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu và hoàn thiện
Nhận thức được vai trò to lớn của hợp đồng mua bán hàng hóa, nên việc tìmhiểu pháp luật hợp đồng là điều cần thiết đối với Công ty Hơn nữa việc nghiên cứu ápdụng pháp luật hợp đồng trên khía cạnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công
ty Cổ phần Sohaco Việt Nam là một vấn đề không chỉ có ý nghĩa với riêng công ty màcòn đối với nhiều doanh nghiệp khác
Bởi vậy em đã chọn đề tài “Pháp luật về giao kết hợp đồng- Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam” để phần nào thấy rõ đươc tầm quan
trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa trong các doanh nghiệp hiện nay Quan hệ hợpđồng mua bán hàng hoá không chỉ là quan hệ giữa các thương nhân trong nước vớinhau mà còn là quan hệ giữa các thương nhân trong nước với các thương nhân nướcngoài Song để tập trung vào nội dung cần nghiên cứu, bài luận văn sẽ chỉ đề cập đến
Trang 8những vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến vấn đề giao kết hợp đồng mua bánhàng hoá trong nước.
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Những vấn đề pháp lý về hoạt động mua bán hàng hóa nói chung và hợp đồngmua bán hàng hóa nói riêng đã được đề cập trong Giáo trình Luật Thương mại của một
số trường như Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội…hay Giáo trình pháp luật kinh tế (2005), của khoa Luật kinh tế, Đại học Kinh tế Quốcdân nhưng nó mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp các kiến thức cơ bản Ngoài ra, vấn đềhợp đồng mua bán hàng hóa cũng được nghiên cứu theo khía cạnh hợp đồng trongthương mại với nhiều cách tiếp cận khác nhau Trong đó có thể kể đến các công trìnhnghiên cứu tiêu biểu như:
- “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” của Lê Minh
Hùng, luận án Tiến sĩ Đại học Luật - Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 đã nghiêncứu các vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật vềhiệu lực hợp đồng ở Việt Nam
- “Pháp luật về hợp đồng trong thương mại” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Dung, nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2009 đã nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ vềcác loại hợp đồng trong thương mại, trong đó có hợp đồng mua bán hàng hóa
- “Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài - Kinh nghiệm so sánh với luật Trung Quốc và những định hướng hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam” của Trương Thị Bích, luận văn Thạc sỹ năm 2012 đã luận
giải những vấn đề lý luận và pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa vớithương nhân nước ngoài và phân tích một cách có hệ thống về thực trạng và thực tiễn
áp dụng pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhânnước ngoài So sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật Trung Quốc về giao kết hợpđồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài và đề xuất các kiến nghị nhữngđịnh hướng hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hànghóa với thương nhân nước ngoài
- “Tự do giao kết hợp đồng - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn
Thị Hường, luận văn Thạc sỹ năm 2010 đã nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận vềquyền tự do giao kết hợp đồng Bên cạnh đó, luận văn còn phân tích những khía cạnh
cơ bản của nguyên tắc quyền tự do giao kết hợp đồng và các trường hợp ngoại lệ củanguyên tắc này và đề xuất những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về tự dogiao kết hợp đồng ở Việt Nam
- “Một số bất cập của chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2005” của Trần
Thị Huệ năm 2013, tạp chí dân chủ và pháp luật số định kỳ tháng 6 (255) đã nghiên
Trang 9cứu, chỉ rõ một số bất cấp về vấn đề hợp đồng trong Bộ luật Dân sự và đưa ra một số
đề xuất hoàn thiện chúng
- Khóa luận: “Giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty TNHH Nhất Nước” Tác giả Mai Thị Thương, lớp luật kinh doanh 48, trường Đại học
Kinh tế Quốc Dân Tác giả trong tiểu luận này tập trung nghiên cứu một số vấn đềpháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại Công ty Từ đó, tìm ranhững vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm góp phần vào việc hoàn thiệnpháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa, đồng thời đưa ra một số đề xuất giúp Công tynâng cao hiệu quả trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.http://123doc.org/document/317931-giao-ket-va-thuc-hien-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-tai-cong-ty-tnhh-nhat-nuoc.htm
- Luận văn: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đàm phán, kí kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị tại Công ty Cổ phần vật tư bưu điện” Tác giả: Nguyễn
Thị Hồng Oanh Trong luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu các hoạt động kinhdoanh nhập khẩu của Công ty sau đó phân tích quá trình đàm phán, kí kết và thực hiệnhợp đồng nhập khẩu thiết bị của Công ty để tìm ra những mặt phù hợp và mặt chưaphù hợp của Công ty
thuc-hien-hop-dong-nhap-khau-thiet-bi-tai-cong-ty-co-phan-vat-tu-buu-dien-
http://123doc.org/document/28451-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-dam-phan-ky-ket-va-potmasco-pdf.htm
Những công trình khoa học trên là tài liệu vô cùng quý báu giúp em có thêmnhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu bài khóa luận tốt nghiệp,nhưng các công trình kể trên không nghiên cứu riêng và toàn diện về giao kết hợpđồng mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam Bởi vậy, việc lựa chọn
đề tài “Pháp luật về giao kết hợp đồng - Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam ” sẽ đi sâu phân tích cụ thể vấn đề giao kết hợp đồng theo luật hiện
hành và áp dụng cụ thể vào Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam Từ đó, chỉ ra các bấtcập và đưa ra giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giaokết hợp đồng
3.Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Sau khi nghiên cứu phân tích một số đề tài thì em thấy đây là một đề tài khôngmới, đã được nhiều người nghiên cứu nhưng nó cũng là một vấn đề đang rất đượcquan tâm
Các đề tài nghiên cứu về vấn đề này đã chứng tỏ tầm quan trọng của giao kết hợpđồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên các quy định pháp luật về giao kết hợp đồng muabán hàng hóa vẫn còn nhiều bất cập chưa được hoàn thiện Vì vậy việc hoàn thiện hệ
Trang 10thống pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là điều tất yếu Do đó mộttrong những điểm thành công trong các đề tài nghiên cứu đó là phát hiện ra đượcnhững bất cập còn thiếu sót, những mặt còn hạn chế Từ đó đưa ra những giải phápnhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên, các đềtài nghiên cứu trên còn mang nặng tính lý thuyết Nhận thấy được vai trò quan trọngtrong việc giao kết hợp đồng trong hoạt động mua bán hàng hóa nên em đã chọn đề tài
“Pháp luật về giao kết hợp đồng - Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam” để tìm hiểu và nghiên cứu
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những quy định về hợp đồng mua bánhàng hóa được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005… và thựctiễn áp dụng những quy định này tại Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam Từ đó, đưa ramột số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và nângcao hiệu quả của việc áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa vào thực tiễn.Việc xác định đối tượng nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc triển khai nghiêncứu, đảm bảo cho bài luận đi đúng hướng
4.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là dựa trên sự phân tích, đánh giá thực trạngcác hợp đồng mua bán hàng hóa của Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam trong sự sosánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật để thấy được rằng thực tiễn triển khai
áp dụng có đảm bảo thực hiện đầy đủ, đúng với những quy định của pháp luật haykhông nhằm hệ thống hóa được các quy định của pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực hợpđồng thương mại, làm rõ những bất cập, những hạn chế còn tồn tại trong thực tiễn vàchỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế đó để từ đó đề xuất những phương hướng vàgiải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như khắc phục những hạn chếtrên Để đạt được các mục tiêu nêu trên, khóa luận tập trung vào các nhiệm vụ cụ thểnhư sau:
- Hệ thống hóa được những lý luận cơ bản về vấn đề giao kết hợp đồng muabán hàng hóa
- Phân tích và đánh giá được thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kếthợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam theo quy định củapháp luật hiện hành
- Đề xuất được một số kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiệnpháp luật điều chỉnh về vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty Cổphần Sohaco Việt Nam
Trang 114.3 Phạm vi nghiên cứu
Vì giới hạn về thời gian nên phạm vi nghiên cứu khóa luận chỉ tập trung làm sáng
tỏ một số vấn đề chính Cụ thể phạm vi nghiên cứu của khóa luận giới hạn như sau:
- Về nguồn tư liệu: Khóa luận sẽ nghiên cứu pháp luật về giao kết hợp đồngmua bán hàng hóa trong thương mại kể từ khi Bộ luật Dân sự năm 2005 và LuậtThương mại năm 2005 và các văn bản pháp luật liên quan khác
- Về không gian: Khóa luận tập trung làm rõ vấn đề giao kết hợp đồng mua bánhàng hóa tại Việt Nam, nghiên cứu điển hình tại Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích: dựa vào các khái niệm nêu trong bài để hiểu rõ hơn vềgiao kết hợp đồng mua bán hàng hóa Từ đó đánh giá các kết quả đạt được và hạn chế
để đưa ra các giải pháp giải quyết
- Phương pháp liệt kê: liệt kê các hệ thống và các văn bản có liên quan để làmcăn cứ cho lý luận
- Phương pháp so sánh: phương pháp so sánh giúp bài nghiên cứu được rõ rànghơn, dựa trên việc nghiên cứu các tài liệu các văn bản luật để tiến hành so sánh vàphương pháp này được sử dụng tại chương 1 nhằm cho người đọc hiểu rõ được sựkhác biệt về sự quy định các điều luật điều chỉnh mối quan hệ khi tham gia giao kếthợp đồng mua bán hàng hóa thương mại ở các văn bản pháp luật khác nhau
- Phương pháp quan sát: xem xét quá trình làm việc của các nhân viên trongCông ty
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp được áp dụng để làm chương 2của bài khóa luận là phần thực tiễn liên hệ tại Công ty Trên cơ sở giải thích các kháiniệm, quy phạm pháp luật liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa, người nghiêncứu sẽ đi phân tích vai trò của các yếu tố này tới hoạt động của công ty Ngoài ra, trên
cơ sở đánh giá những kết quả đã đạt được và hạn chế của hành lang pháp lý hợp đồng,người nghiên cứu sẽ có một cái nhìn tổng quan, qua đó có phương hướng để giải quyếtnhững hạn chế phát sinh Phương pháp này được sử dụng hầu hết các chương của đềtài khóa luận
Trang 126 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu và kết luận kết cấu khóa luận tốt nghiệp trên bao gồm 3 phần chính:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật điều chỉnh về vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty Cổ phần Sohaco Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ GIAO KẾT
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một phương tiện quan trọng phục vụ cho nhucầu tiêu dùng cũng như sản xuất kinh doanh, trao đổi vật tư, sản phẩm giữa các chủ thểthuộc các thành phần kinh tế khác nhau
Hiện nay, hoạt động mua bán hàng hoá được điều chỉnh chủ yếu bởi hai vănbản pháp luật quan trọng là Bộ luật Dân sự (sau đây viết tắt là BLDS) 2005 và LuậtThương mại (sau đây viết tắt là LTM) 2005 Hoạt động mua bán hàng hoá có thể đượcxem là một dạng cụ thể của hoạt động mua bán tài sản Theo quy định của Điều 428BLDS 2005 về hợp đồng mua bán tài sản thì: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏathuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền,còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán Theo Điều 163 BLDS
2005 thì tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản
Luật Thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa
mà chỉ đưa ra khái niệm về hoạt động mua bán hàng hoá Mua bán hàng hóa được địnhnghĩa theo Khoản 8 Điều 3 LTM 2005 là hoạt động thương mại, theo đó bên bán cónghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán,bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóatheo thỏa thuận Hàng hóa theo quy định của LTM 2005 có thể là hàng hóa hiện đangtồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất độngsản được phép lưu thông thương mại Từ hai định nghĩa trên có thể thấy hợp đồng muabán hàng hóa theo quy định của LTM 2005 là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bántài sản
Căn cứ các điều khoản trên, có thể kết luận rằng “ Hợp đồng mua bán hàng hoá
là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua
và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền cho bên bán theo thời hạn,
số lượng và phương thức thanh toán mà các bên đã thỏa thuận”
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất giống như hợp đồng mua bán tài sảnđều là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập quyền nghĩa vụ pháp lý giữa các bên,ghi nhận quan hệ chuyển quyền sở hữu hàng hóa/ tài sản và có sự thanh toán Tuynhiên hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại còn được nhận diện qua nhữngdấu hiệu riêng sau:
Trang 14Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân.
Ngoài thương nhân chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể không phải làthương nhân Điều đó có nghĩa là thương nhân phải là một bên chủ thể của hợp đồngmua bán hàng hóa Chủ thể còn lại của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là thươngnhân hoặc không phải là thương nhân
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa Theo quy định
tại khoản 2 Điều 3 LTM 2005, hàng hóa bao gồm:
“ a, Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
b, Những vật gắn liền với đất đai.”
Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại có thể hướng tới việcgiao và nhận hàng hóa ở một thời điểm trong tương lai Hàng hóa trong các giao dịchnày không phải là những hàng hóa thương mại thông thường mà phải là những hànghóa nằm trong giao dịch tại Sở giao dịch do Bộ Công thương quy định
Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ là động sản và những vật gắnliền với đất đai Theo Điều 429 BLDS 2005, đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản
là tài sản được phép giao dịch Khái niệm tài sản tại Điều 163 BLDS 2005 bao gồmvật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản rộng hơn khái niệm hàng hóa Như vậy, cácloại tài sản là quyền tài sản như giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu) không được đưavào phạm vi điều chỉnh LTM 2005
Thứ ba, mục đích chủ yếu của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa là
sinh lợi Đặc điểm này xuất phát và gắn liền với đặc điểm về chủ thể chủ yếu của hợpđồng mua bán hàng hóa là thương nhân Trong thực tiễn, thương nhân thường xuyênthực hiện hoạt động thương mại (trong đó có hoạt động mua bán hàng hóa) với mụcđích sinh lợi Tuy nhiên, trong một số trường hợp, một bên của hợp đồng mua bánhàng hóa không có mục đích sinh lợi Những hợp đồng được thiết lập giữa bên khôngnhằm mục đích sinh lợi với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam, về nguyêntắc không chịu sự điều chỉnh của LTM trừ khi bên không nhằm mục đích sinh lợi đólựa chọn áp dụng LTM
Thứ tư, hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói,
bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa
mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề về giao kết hợp đồng 1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật về hoạt động mua bán hàng hóa
1.2.1.1 Cơ sở thực tiễn xã hội
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh
tế hàng hóa là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, mà trong đó sản phẩm sản xuất ra để
Trang 15trao đổi, để bán trên thị trường Mục đích của sản xuất trong kinh tế hàng hóa khôngphải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất ra sản phẩm mà nhằm để bán,tức để thỏa mãn nhu cầu của người mua, đáp ứng nhu cầu của xã hội
Trong nền kinh tế thị trường nào thì các quy luật kinh tế của sản xuất và lưuthông hàng hóa đều được phản ánh và tác động một cách khách quan thông qua cơ chếthị trường Cơ chế thị trường chính là một tổ chức kinh tế, trong đó người sản xuất vàngười tiêu dùng chịu sự tác động chi phối lẫn nhau của nền kinh tế thị trường Thôngqua các hoạt động trao đổi mua bán, thị trường có vai trò to lớn đối với sự phát triểncủa nền kinh tế Thị trường cung cấp thông tin cần thiết cho nhà kinh doanh và tạo yếu
tố cạnh tranh làm động lực cho sự phát triển sản xuất, giảm chi phí, hạ giá thành, nângcao chất lượng sản phẩm Một trong những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường
là tự do trao đổi các sản phẩm hàng hóa giữa người mua và người bán Người bán baogiờ cũng muốn bán giá cao, người mua muốn mua giá thấp Như vậy, hợp đồng về bảnchất là sự thỏa thuận, thống nhất ý chị giữa các bên tham gia ký kết hợp đồng theonguyên tắc tự do, tự nguyện và bình đẳng, không trái pháp luật
Quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp
lý là hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung củahợp đồng, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa Quyền và nghĩa vụ của các bên được xác lập bởihợp đồng giữa các bên và quy định của pháp luật Hợp đồng mua bán hàng hóa có bảnchất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt cácquyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán Để đảm bảo lợi ích của cả người bán vàngười mua việc xác lập những quy tắc chung trong quá trình mua bán giao kết hợp đồng
là yếu tố rất quan trọng Do vậy việc thiết lập luật về hợp đồng mua bán trở thành yếu tốtiên quyết nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế được phát triển ổn định và bền vững
1.2.1.2 Cơ sở pháp luật
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại hợp đồng trong thương mại nên đối vớicác hoạt động mua bán hàng hóa trong nước, trước hết nó chịu sự điều chỉnh trực tiếpcủa luật chuyên ngành là LTM 2005 Nhưng để xác định bản chất pháp lý về hợp đồngmua bán hàng hóa trong thương mại thì đều cần dựa trên cơ sở quy định của BLDS
2005 về hợp đồng mua bán tài sản, nên hợp đồng mua bán hàng hóa còn chịu sự điềuchỉnh của BLDS 2005
Như vậy, với hợp đồng mua bán hàng hóa, LTM 2005 đóng vai trò là luật riêng
áp dụng, BLDS 2005 là luật chung áp dụng Trình tự áp dụng luật được tuân theo quyđịnh chung, áp dụng luật riêng trước, nếu luật riêng không có những quy định có liên
Trang 16quan thì sẽ áp dụng đến luật chung tức là áp dụng LTM trước, khi LTM không quyđịnh những vấn đề có liên quan thì mới áp dụng BLDS.
Bên cạnh LTM và BLDS là hai văn bản pháp luật chính điều chỉnh hoạt độngmua bán hàng hóa trong nước thì hợp đồng mua bán hàng hóa còn chịu sự điều chỉnhcủa nhiều Nghị định, Thông tư như là:
- Nghị định số 43/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009 của Chính phủ về sửa đổi, bổsung danh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh của Nghị định 59/2006/NĐ-CP
- Nghị định số 54/2009/NĐ-CP ngày 05/06/2009 của Chính phủ Quy định về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sảnphẩm, hàng hoá
- Nghị định 187/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại muabán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán gia công và quá cảnh hàng hóavới nước ngoài
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa (sau đây viết tắt là HĐMBHH) có thể hiểu
là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các bên theo hình thức, nội dung, nguyên tắc,trình tự nhất định được pháp luật thừa nhận nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa cácbên tham gia trong quá trình mua bán trao đổi hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu của cácchủ thể tham gia
Giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá không có đặc thù riêng so với giao kết hợpđồng dân sự Vì vậy, khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên chủ thể phảituân thủ nguyên tắc chung về giao kết hợp đồng, thủ tục giao kết hợp đồng, xác địnhthời điểm giao kết hợp đồng theo quy định tại BLDS 2005
1.2.2.1 Chủ thể
Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thươngnhân hoặc một trong hai bên là thương nhân Các chủ thể tham gia vào hợp đồng cầnphải có năng lực chủ thể Đối với chủ thể là thương nhân cần phải năng lực pháp luật
và năng lực hành vi thương mại, còn chủ thể khác không phải là thương nhân phải cónăng lực hành vi dân sự
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa một bên phải là thương nhân Theo quy địnhcủa LTM 2005, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cánhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinhdoanh Trường hợp mua bán sản phẩm, hàng hóa có điều kiện kinh doanh, thươngnhân còn phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh đó theo quy định của pháp luật.Thương nhân là chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là thương nhân Việt Nam
Trang 17hoặc thương nhân nước ngoài Ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhânkhông phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hànghóa Khác với bên là thương nhân, bên không phải là thương nhân có thể là mọi chủthể có đủ năng lực hành vi để tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa theo quyđịnh của pháp luật Hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và khôngnhằm mục đích sinh lợi trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo LTM khi chủthể này lựa chọn áp dụng LTM.
Trong việc giao kết hợp đồng, nếu các bên không tự mình thực hiện có thể cử đạidiện giao kết Tuy nhiên, người đại diện phải thực hiện đúng thẩm quyền nghĩa vụthực hiện trong phạm vi phần công việc mà mình được ủy quyền Giao kết hợp đồngkhông đúng thẩm quyền sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trừtrường hợp người đại diện hợp pháp của bên đại diện chấp nhận
1.2.2.2 Hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Hình thức của hợp đồng là phương thức để ghi nhận nội dung mà các bên chủthể đã xác định Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của hợp đồng cũng như tùy thuộcvào độ tin tưởng lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trongviệc giao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể Tại Điều 24 LTM
- Hình thức miệng (bằng lời nói)
Thông qua hình thức này các bên giao kết hợp đồng có thể thỏa thuận miệng vớinhau về nội dung cơ bản của hợp đồng hoặc mặc nhiên thực hiện những hành vi nhấtđịnh đối với nhau Hình thức này thường được áp dụng trong các trường hợp các bên
đã có độ tin tưởng lẫn nhau hoặc đối với những hợp đồng ngay sau khi giao kết sẽđược thực hiện và chấm dứt
Trang 18- Hình thức viết (hình thức bằng văn bản)
Nhằm nâng cao độ xác thực về những nội dung được cam kết, các bên có thể ghinhận nội dung giao kết hợp đồng bằng một văn bản Trong văn bản đó các bên phảighi đầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng và cùng kí tên xác nhận vào một vănbản Khi có tranh chấp hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng
cứ pháp lí chắc chắn hơn so với hình thức miệng Căn cứ vào văn bản của hợp đồng,các bên dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu của mình đối với bên kia Vì vậy, đối vớinhững hợp đồng mà việc thực hiện không cùng lúc với việc giao kết thì các bênthường chọn hình thức này Thông thường hợp đồng được tạo thành nhiều bản và mỗibên giữ một bản
1.2.2.3 Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Theo Điều 389 BLDS 2005, việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo cácnguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức
xã hội:
Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
1.2.2.4 Thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được gửi đến một hoặc nhiềuchủ thể xác định Hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng có thể được xác định tương tựnhư hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quy định tại Điều 24 LTM 2005
Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng mua bán thông thường được bên đề nghị
ấn định Trường hợp bên đề nghị không ấn định thời điểm có hiệu lực của đề nghị giaokết hợp đồng thì đề nghị có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó.Căn cứ xác định bên được đề nghị đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng là cáctrường hợp quy định tại khoản 2 Điều 391 BLDS 2005
Bên đề nghị phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình Trong thời hạn đềnghị hợp đồng có hiệu lực, nếu bên được đề nghị thông báo chấp nhận vô điều kiện đềnghị hợp đồng thì hợp đồng mua bán hình thành và ràng buộc các bên Nếu các bênkhông thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng thì phải chịu các hình thức chế tài do viphạm hợp đồng
Trang 19Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợpđồng trong các trường hợp quy định tại Điều 392 BLDS 2005 Khi bên đề nghị thayđổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đề nghị mới Trong trường hợp bên
đề nghị giao kết hợp đồng thực hiện quyền hủy bỏ đề nghị do đã nêu rõ đề nghị thìphải thông báo cho bên được đề nghị và thông báo này chỉ có hiệu lực khi bên được đềnghị nhận được thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giaokết hợp đồng Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp quyđịnh tại Điều 394 BLDS 2005
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với
bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị Thời hạn trả lời chấpnhận giao kết hợp đồng được xác định theo các trường hợp sau:
- Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ cóhiệu lực khi được thực hiện trong thời gian đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồngnhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mớicủa bên chậm trả lời Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đếnchậm vì lí do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết vì lí do khách quan nàythì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghịtrả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị
- Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoạihoặc các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặckhông chấp nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận về thời hạn trả lời
Bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kếthợp đồng nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận đượctrả lời chấp nhận giao kết hợp đồng
1.2.2.5 Thời điểm hình thành hợp đồng mua bán hàng hóa
Thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được áp dụng quy định chung
về thời điểm giao kết hợp đồng tại Điều 404 BLDS 2005:
Hợp đồng được giao kết bằng lời nói thì thời điểm giao kết hợp đồng là thờiđiểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng
Hợp đồng được giao kết gián tiếp bằng văn bản thì thời điểm hợp đồng đượcgiao kết là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng
Hợp đồng cũng được xem như giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhậnđược đề nghị vẫn im lặng, nếu có sự thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết
Hợp đồng được giao kết trực tiếp bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng
là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản
Trang 20Hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết trừ trường hợp các bên có thỏathuận khác hoặc pháp luật các bên có quy định khác
1.3 Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
1.3.1 Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức
xã hội
Bộ luật Dân sự quy định cho các chủ thể được tự do giao kết hợp đồng nhằmtạo điều kiện cho các chủ thể có thể thoả mãn nhu cầu vật chất cũng như tinh thần.Dựa trên nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ các điều kiện tư cách chủ thểđều có thể tham gia giao kết bất kỳ một hợp đồng nào, nếu muốn Tuy nhiên, hợp đồngchỉ có hiệu lực pháp luật, được pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí của các bêngiao kết hợp đồng phù hợp với ý chí của Nhà nước Hay nói cách khác, sự tự do ý chígiao kết hợp đồng của các chủ thể phải nằm trong khuôn khổ, giới hạn nhất định – giớihạn lợi ích của các cá nhân khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng Nếu đểcác bên tự do vô hạn, thì hợp đồng dân sự sẽ trở thành phương tiện để kẻ giàu bóc lộtngười nghèo và sẽ là nguy cơ đối với lợi ích chung của xã hội Vì vậy, phải đi xa hơnnữa trong vấn đề tăng cường sự can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ pháp luật tư,các việc dân sự… không được bỏ qua một khả năng tối thiểu nào để mở rộng sự canthiệp của Nhà nước vào các quan hệ dân luật Chính vì vậy, trong xã hội ta – xã hội xãhội chủ nghĩa, lợi ích chung của toàn xã hội (lợi ích cộng đồng) và đạo đức xã hộikhông cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào được lợi dụng ý chí tự do để biến nhữnghợp đồng thành phương tiện bóc lột Bên cạnh việc bảo đảm lợi ích của mình, các chủthể phải chú ý tới quyền, lợi ích của người khác, của toàn xã hội; tự do của mỗi chủ thểkhông được trái pháp luật, đạo đức xã hội Lợi ích của cộng đồng, của toàn xã hộiđược quy định bởi pháp luật và đạo đức xã hội trở thành giới hạn cho sự tự do ý chícủa các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng nói riêng, và trong mọi hành vi của chủthể nói chung
1.3.2 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
Nguyên tắc này được quy định nhằm bảo đảm trong việc giao kết hợp đồngkhông ai bị cưỡng ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình; đồng thời thể hiệnbản chất của quan hệ pháp luật dân sự Quy luật giá trị đòi hỏi các bên chủ thể khitham gia các quan hệ trao đổi phải bình đẳng với nhau; không ai được viện lý do khácbiệt về hoàn cảnh kinh tế, thành phần xã hội, dân tộc, giới tính hay tôn giáo… để tạo ra
sự bất bình đẳng trong quan hệ dân sự Hơn nữa, ý chí tự nguyện của các bên chủ thểtham gia hợp đồng chỉ được bảo đảm khi các bên bình đẳng với nhau trên mọi phươngdiện Chính vì vậy, pháp luật không thừa nhận những hợp đồng được giao kết thiếu sự