1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả khởi phát chuyển dạ của sonde Foley qua lỗ trong cổ tử cung trên thai quá ngày dự sinh có chỉ định chấm dứt thai kỳ tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định

8 185 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 360,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết xác định tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công của việc đặt sonde Foley qua lỗ trong cổ tử cung bằng phương pháp bơm 60ml nước ở thai từ 40 tuần có chỉ định chấm dứt thai kỳ.

Trang 1

HIỆU QUẢ KHỞI PHÁT CHUYỂN DẠ CỦA SONDE FOLEY QUA LỖ TRONG

CỔ TỬ CUNG TRÊN THAI QUÁ NGÀY DỰ SINH CÓ CHỈ ĐỊNH CHẤM DỨT THAI KỲ TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH

Lê Bảo Châu *,Võ Doãn Mỹ Thạnh *, Đàm Ngọc Tiền Giang *, Nguyễn Thạc Văn*,

Lê Phạm Phương Khanh*, Nguyễn Thị Từ Vân **

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công của việc đặt sonde Foley qua lỗ trong cổ tử cung

bằng phương pháp bơm 60ml nước ở thai từ 40 tuần có chỉ định chấm dứt thai kỳ

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca tiến cứu tất cả sản phụ mang thai sống trên 40 tuần chưa chuyển

dạ nhập viện tại Khoa sản thường Bệnh viện Nhân dân Gia Định thỏa điều kiện tham gia nghiên cứu từ 09/2015-05/2016

Kết quả: cỡ mẫu 71 ca ,tỷ lệ thành công với tiêu chuẩn Bishop tăng từ 3 điểm trở lên là 82%, (KTC 95%

71,6 - 89,4).Không có biến chứng liên quan đến đặt ống thông Foley.Tỷ lệ sinh ngả âm đạo là 56%,tỷ lệ mổ bắt con là 44%,lí do mổ chủ yếu là bất xứng đầu chậu

Kết luận: Đặt sonde Foley bóng đơn qua lỗ trong CTC gây KPCD ở thai quá ngày dự sinh có tỷ lệ thành

công cao, dễ áp dụng, ít biến chứng

Từ khóa: Cổ tử cung ,Khởi phát chuyển dạ

ABSTRACT

EFFECTIVENESS OF LABOR INDUCTION SONDE FOLEY THROUGH HOLE IN THE CERVIX IN

PREGNANCY DUE DATE AT THE NHAN DAN GIA DINH HOSPITAL

Le Bao Chau, Vo Doan My Thanh , Dam Ngoc Tien Giang,Nguyen Thac Van, Le Pham Phuong Khanh,

Nguyen Thi Tu Van * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 6 - 2016: 217 - 224

Objectives: Determining the rate of labor induction success install the sonde Foley through the holes in

cervix with 60ml water pumping method in pregnancy from 40 weeks indicated termination of pregnancy

Methods: Descriptive studying prospective case series of all pregnant women in 40 weeks no labor usually

hospitalized at obstetric department C, Gia Dinh Hospital is eligible for study participation

Results: The success rate with Bishop score increased from 3 points or more was 82% (95% CI 71.6 to

89.4).No complications related to Foley catheter Vaginal birth rate was 56%, caesarean section rate was 44%, Inducting labor method by Foley catheter prepared cervix very well, reducing caesarean section rate 44%

Conclusion: Inducting labor method by Foley catheter has proven efficacy and safety through research in the

world and Vietnam Through this study once again proves sonde Foley put through the hole in the cervix cause in pregnancy labor has a high success rate, easy to apply, less complications

Keywords: Cervix, Labor induction

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo thống kê của Tổ chức Y Tế Thế Giới, tỷ

lệ khởi phát chuyển dạ (KPCD) tăng gấp đôi

trong hai thập kỷ qua, khoảng 25 % trên toàn thế giới Tỷ lệ này cao hơn ở các nước phát triển và thấp hơn ở các nước đang phát triển Theo trung

Trang 2

nước này đã tăng gấp đôi từ 9,5% năm 1990 lên

23,5% năm 2012 Theo thống kê của phòng Kế

hoạch tổng hợp Bệnh viện Từ Dũ giai đoạn 2010

– 2011, mỗi năm có khoảng 4.204 – 7.060 trường

hợp khởi phát chuyển dạ(3) Tại BV NDGĐ mỗi

năm có khoảng 1120-1240 trường hợp cần KPCD

trên tổng số 10,000- 12.000 ca sinh hằng năm

Đa số các trường hợp thai quá ngày dự sinh

vào chuyển dạ và sinh không biến chứng, nhưng

đôi khi xảy ra biến chứng trầm trọng Hậu quả

phổ biến về mặt y khoa của thai quá ngày gồm

thai to, chuyển dạ khó khăn ,thai trình ngưng

tiến triển hoặc suy giảm chức năng bánh nhau

và bé hít phân su(4,11)

Các phương pháp này được chia thành hai

nhóm chính là: phương pháp cơ học và phương

pháp dùng thuốc(2).Tại Bệnh Viện Nhân Dân Gia

Định Trước năm 2012: thai 41 tuần chưa chuyển

dạ ,được nhập viện sẽ được khởi phát chuyển dạ

bằng Cytotec, Cerviprime Cuối năm 2012 Bộ Y

Tế có công văn số 5443/BYT _ BMTE qui định

không sử dụng Misoprostol gây chuyển dạ trên

thai đủ tháng và thai sống vì nguy cơ vỡ tử cung,

vì vậy chúng tôi ngưng sử dụng Misoprostol cho

việc KPCD thai quá ngày Từ năm 2013 đến nay:

thai 40 tuần, chưa chuyển dạ, sẽ được nhập viện

theo dõi và đánh giá sức khỏe thai (lâm sàng và

cận lâm sàng), chúng tôi bắt đầu khởi phát

chuyển dạ ,chuẩn bị CTC sau khi nhập viện

bằng lóc ối, chúng tôi gặp khó khăn trong trường

hợp CTC đóng, hở ngoài, chỉ số Bishop < 3

không thuận lợi nong được CTC bằng tay để lóc

ối, những trường hợp này đều giục sanh thất bại

và kết cục mổ lấy thai vì giục sanh CTC không

tiến triển chiếm tỉ lệ cao 74% Vì vậy chúng tôi

tiến hành nghiên cứu “Hiệu quả khởi phát

chuyển dạ của sonde Foley qua lỗ trong CTC ở

thai quá ngày dự sinh có chỉ định chấm dứt thai

kỳ tại BV Nhân Dân Gia Định” Với câu hỏi

nghiên cứu là đặt sonde Foley qua lỗ trong CTC

có hiệu quả như thế nào trong khởi phát chuyển

dạ ở thai quá ngày dự sinh?

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính

Xác định tỉ lệ khởi phát chuyển dạ thành công của đặt sonde Foley qua lỗ trong cổ tử cung bằng phương pháp bơm 60ml nước ở thai từ 40 tuần có chỉ định chấm dứt thai kỳ

Mục tiêu phụ

1 Xác định tỷ lệ các tác dụng không mong muốn và các biến chứng

2 Đánh giá các kết cuộc của thai kỳ sau khi khởi phát chuyển dạ

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả loạt ca tiến cứu

Đối tượng nghiên cứu

Sản phụ mang thai sống,tuổi thai ≥ 40 tuần chưa chuyển dạ nhập viện tại Khoa sản thường Bệnh viện NDGĐ

Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 09/2015 đến tháng 05/2016và đồng

ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp chọn mẫu

Cỡ mẫu được tính theo công thức

Với α = 0,05, độ tin cậy 95% Ta có Z1-α/2=1,96

Theo nghiên cứu của Nguyễn Bá Mỹ Ngọc(9),

tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công sau đặt thông Foley là 76%, p = 0,76

Chọn sai số cho phép là 10%, d = 0,1 Thế vào công thức ta có n = 70 Vậy cỡ mẫu nghiên cứu là 70

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tuổi thai ≥ 40 tuần,đơn thai, ngôi đầu,điểm

số Bishop ≤3, CTC không thuận lợi lóc ối, có chỉ định chấm dứt thai kỳ , Nonstresstest có đáp ứng, có chỉ định sinh ngả âm đạo, thai phụ đồng

ý tham gia nghiên cứu

Trang 3

Tiêu chuẩn loại trừ

Không nhớ chính xác ngày kinh cuối và

không có siêu âm trước 12 tuần,có bệnh lý nội

khoa kèm theo: Tiền sản giật nặng, bệnh lý

tim, tiểu đường, basedow, nhiễm trùng Có

chống chỉ định khởi phát chuyển dạ: sẹo mổ

cũ trên tử cung, BXĐC, ngôi bất thường,

Herpes sinh dục đang tiến triển, bất thường

bánh nhau-dây rốn., khung chậu hẹp.Thiểu ối

AFI < 5 Đã khởi phát chuyển dạ thất bại bằng

phương pháp khác

Các biến số nghiên cứu

Biến số nền

Tuổi ,nghề nghiệp ,địa chỉ ,tiền thai ,số lần

khám thai

Biến số phụ thuộc

Chỉ số Bishop (độ xóa CTC,độ mở CTC,

hướng CTC,mật độ CTC,độ lọt ngôi thai), cơn gò

,sử dụng Oxytocin , tình trạng rút sonde ,rớt

sonde ,kết cục ( sanh ngã âm đạo,sanh mổ),các

biến cố không mong muốn ( nhiễm trùng ,vỡ ối

,nhau bonh non,ngôi bất thường)

Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu từ phiếu thu thập số liệu, mã hóa số

liệu

Nhập và phân tích số liệu bằng phần mềm

Stata 10.0

Vấn đề y đức

Nghiên cứu được tiến hành sau khi đã thông

qua Hội đồng khoa học Bộ môn Sản Đại học Y

Dược TP HCM, Hội đồng Đạo đức trong nghiên

cứu y sinh học Đại học Y Dược TP HCM, Hội

đồng khoa học kỹ thuật BV Nhân Dân Gia Định

Các dữ liệu thu thập được bảo mật hoàn

toàn, được mã hóa và giữ kín tên tuổi chỉ để làm

nghiên cứu Dữ liệu thu được chỉ phục vụ cho

nghiên cứu này, không sử dụng cho mục đích

nào khác

KẾT QUẢ Đặc điểm đối tượng tham gia nghiên cứu

Đặc điểm về dịch tễ học

Bảng 1 Đặc điểm dịch tễ học của đối tượng nghiên

cứu

Đặc điểm Tổng (n=71) Tỷ lệ(%)

Tuổi mẹ

TB 29 ± 5,1

Nghề nghiệp

Nhận xét:

- Tuổi mẹ trung bình là 29 ± 5,1 tuổi, thấp nhất là 19 tuổi và cao nhất là 38 tuổi

- Nhóm tuổi đa số là dưới 35 tuổi chiếm tỷ lệ 80%

- Nghề nghiệp chủ yếu là công nhân

- Địa chỉ nội thành chiếm tỷ lệ 83% (Quận 12, Quận Gò Vấp, Quận Bình Thạnh)

Đặc điểm về sản khoa của đối tượng nghiên cứu

Bảng 1 Đặc điểm sản khoa của đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm Tổng số (n= 71) Tỷ lệ (%)

Số lần khám thai

TB 8,2 (±2,2)

Tuổi thai trung bình 40,3 (±0,2) tuần

Nhận xét:

- Tỷ lệ mang thai con so cao hơn con rạ (58%

và 42%)

- Số lần khám thai trung bình là 8,2 (±2,2) lần

Số lần khám thai thấp nhất là 5 lần, nhiều nhất là

13 lần Tỷ lệ khám thai từ 10 lần trở lên là 76%

- Tuổi thai trung bình là 40,3 (±0,2) tuần, tuổi thai thấp nhất là 40,1 tuần và cao nhất là 41 tuần

Trang 4

Hiệu quả khởi phát chuyển dạ

Tỷ lệ thành công

Bảng 2 Tỷ lệ KPCD thành công

Kết quả KPCD Tổng số (n) Tỷ lệ (%)

Nhận xét:

Trong tổng số 71 trường hợp được KPCD thì

tỷ lệ thành công theo định nghĩa là 82% (KTC

95% 71,6% - 89,4%)

Thay đổi điểm số Bishop trước và sau khởi

phát chuyển dạ

Bảng 3 Thay đổi trung bình điểm Bishop trước và

sau KPCD

Bishop Trước KPCD Sau KPCD Thay đổi p

TB(±SD) 1,87 ±0,71 6,69 ±1,67 4,7 ±1,21 0,000

(*): Kiểm định T test mẫu bắt cặp

Nhận xét:

- Điểm số Bishop trung bình trước KPCD là

1,84(±0,71) điểm và điểm số Bishop trung bình

sau KPCD là 6,6(±1,6) điểm

- Chênh lệch điểm số Bishop của trước và

sau KPCD là 4,6 điểm, khác biệt này có ý nghĩa

thống kê với p < 0,0001

Điểm số Bishop, mở CTC và cơn gò sau khởi phát chuyển dạ

Bảng 4 Điểm số Bishop, mở CTC và cơn gò sau

KPCD

Đặc điểm sau KPCD Tổng (n = 71) Tỷ lệ (%)

Tần số cơn gò

Cường độ cơn gò (mmHg)

Nhận xét:

- Trong tổng số 71 trường hợp KPCD thì tỷ lệ Bishop sau KPCD ≥ 7 điểm có 48 trường hợp chiếm tỷ lệ 68%

- Độ mở CTC ≥ 3cm chiếm tỷ lệ 68%

- Tần số cơn gò dưới 3 cơn trong 10 phút chiếm tỷ lệ cao 73%, từ 3 -5 cơn trong 10 phút là

27 %, không có trường hợp nào có trên 5 cơn gò/10 phút

- Cường độ cơn gò tử cung dưới 60mmHg chiếm đa số 42%, từ 60 – 80mmHg chiếm 41% và trên 80mmHg chiếm 17%

Các yếu tố liên quan đến kết quả KPCD

Bảng 5 Các yếu tố liên quan đến kết quả KPCD

Thành công (n=58) % Thất bại (n= 13) % Tổng (N) RR (KTC 95 %) p

Nhận xét:

- Trong tổng số 71 trường hợp tham gia

nghiên cứu có 58 trường hợp thành công và 13

trường hợp thất bại

- Nhóm tuổi dưới 35 tuổi có tỷ lệ thành công

thấp hơn nhóm trên 35 tuổi 80% và 20%, RR=4

KTC 95% 1,2-6,5 khác biệt này có ý nghĩa thống

kê với p = 0,000

Nhóm con rạ có tỉ lệ khởi phát chuyển dạ thành công cao hơn con so RR=1,3 KTC 95% 1,1-7,8 có ý nghĩa thống kê với p= 0,01

- Trong 71 trường hợp đặt thông Foley có

26 trường hợp rớt thông chiếm tỷ lệ 36,6% và

45 trường hợp rút thông Foley chiếm tỷ lệ 63,4% Tỷ lệ KPCD thành công ở nhóm rớt thông Foley cao hơn nhóm rút thông Foley

Trang 5

RR=5,7 KTC 95% 4,4-6,9, khác biệt này có ý

nghĩa thống kê với p = 0,012

Như vậy tiền thai, nhóm tuổi và rớt thông

Foley có liên quan với kết quả KPCD, nhóm tuổi dưới 35 và rớt thông Foley làm tăng khả năng KPCD thành công

Kết cuộc thai kỳ theo kết quả KPCD

Bảng 6 Kết cuộc thai kỳ theo kết quả KPCD

Lí do MLT

Trọng lượng sơ sinh

3400± 270

(*): Kiểm định Chi bình phương (**) Kiểm định T hai mẫu độc lập Sinh AĐ: sinh ngả âm đạo Thời gian 1: thời gian từ KPCD đến lúc sinh ngả âm đạo Thời gian 2: thời gian truyền oxytocin

Nhận xét:

- Tỷ lệ sinh ngả âm đạo chung sau KPCD là

56,4% Khi phân tích theo kết quả KPCD, trong

đó có 58 trường hợp thành công và 13 trường

hợp thất bại thì tỷ lệ sinh ngả âm đạo ở nhóm

thành công cao hơn nhóm thất bại khác biệt này

có ý nghĩa thống kê với p = 0,001

- Trong tổng số 33 trường hợp PTLT thì lý do

phẫu thuật vì thai suy là 8%, chuyển dạ ngưng

tiến triển do CTC là 25%, BXĐC là 67 % Khi

phân tích lý do PTLT theo kết quả KPCD khác

biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,9

- Trong tổng số 71 trường hợp được KPCD

thì tỷ lệ sử dụng oxytocin chung sau KPCD là

73% Khi phân tích theo kết quả KPCD gồm 58

trường hợp thành công và 13 trường hợp thất bại

tỷ lệ sử dụng oxytocin ở nhóm KPCD thất bại là

100% cao hơn nhóm KPCD thành công 67%,

khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,016

- Phân tích các trường hợp sinh ngả âm đạo

(n =40) thì thời gian trung bình từ KPCD đến lúc

sinh ngả âm đạo của nghiên cứu là 14,8 (±3,5)

giờ Khi phân tích theo kết quả KPCD gồm 58

trường hợp thành công và 13 trường hợp thất bại

nhóm KPCD thành công là 15 (±2,5) giờ ngắn hơn nhóm KPCD thất bại 20 (±2) giờ Khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

- Phân tích các trường hợp sinh ngả âm đạo (n = 40) thời gian sử dụng oxytocin trung bình là 5,4 (±2,5) giờ Khi phân tích theo kết quả KPCD gồm 37 trường hợp thành công và 8 trường hợp thất bại nhóm thành công có thời gian sử dụng oxytocin là 2,1 giờ ngắn hơn nhóm KPCD thất bại 6,3 giờ Khác biệt này có ý nghĩa thống kê với

p < 0,001

- Trong tổng số 71 trường hợp có cân nặng sơ sinh trung bình 3.400 gram Khi phân tích theo kết quả KPCD thì cân nặng trung bình trong nhóm thành công là 3,374 (±265) gram và nhóm thất bại là 3,542 (±112) gram, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,04

Đánh giá biến chứng và tác dụng không mong muốn

Bảng 7 Đánh giá biến chứng và tác dụng không

mong muốn

Biến chứng Tổng (n=71) Tỷ lệ (%)

Trang 6

Biến chứng Tổng (n=71) Tỷ lệ (%)

Nhận xét:

- Trong nghiên cứu không có các biến chứng

như: sa dây rốn, nhiễm trùng ối, nhiễm trùng

hậu sản, ối vỡ, nhau bong non, vỡ tử cung

- Sản phụ có cảm giác khó chịu chiếm tỷ lệ

22,5%

- Tỷ lệ Apgar sau 1 phút dưới 7 chiếm tỷ lệ

5,6%

- Không có trường hợp nào Apgar sau 5 phút

dưới 7

BÀN LUẬN

Về phương pháp nghiên cứu

Bàn luận về tính ứng dụng của đề tài

Thai quá ngày dự sinh là vấn đề thường

thường gặp trong thực hành sản khoa Tâm lý

sản phụ thường lo lắng khi nằm theo dõi tại

bệnh viện ,điều này luôn tạo áp lực cho nhân

viên y tế hướng chấm dứt thai kỳ an toàn cho

mẹ và bé ,vì nếu không được chẩn đoán và xử

trí kịp thời sẽ làm tăng bệnh suất và tử suất

chu sinh Do đó, KPCD ở thai quá ngày dự

sinh là cần thiết để đảm bảo sức khỏe cho bà

mẹ và trẻ sơ sinh

Mặc dù có nhiều tiến bộ về phương pháp

dược học, tuy nhiên việc KPCD bằng phương

pháp này có nhiều tác dụng phụ đặc biệt là cơn

gò cường tính có thể gây vỡ tử cung, thai suy

Trong điều kiện các cơ sở y tế có giới hạn về

nguồn lực, chi phí và quá tải bệnh viện thì

phương pháp cơ học vẫn có giá trị

Về hiệu quả của khởi phát chuyển dạ

Tỷ lệ thành công

Như đã trình bày ở phần hạn chế của đề tài

về tiêu chuẩn thành công và thất bại của KPCD

nên tỷ lệ này sẽ thay đổi tùy theo định nghĩa

KPCD thành công Theo bảng 3.3, tỷ lệ thành công theo định nghĩa của nghiên cứu là 82%

Bảng 8 Tỷ lệ KPCD thành công của các nghiên cứu

Tên tác giả Tỷ lệ thành

công (%)

Tiêu chuẩn thành công

Cỡ mẫu

Nguyễn Bá Mỹ

Bùi Ngọc

Levy(8) 26,6 Vào chuyển dạ tích cực 602

Tỷ lệ thành công trong nghiên cứu này là 82%, KTC 95% 71,6% - 89,4% Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Hồ Thái Phong là 80% với cùng tiêu chuẩn thành công

So với nghiên cứu của Bùi Ngọc Phượng,

tỷ lệ thành công trong nghiên cứu này cao hơn (82% và 71%) Có thể do thể tích bóng Foley trong nghiên cứu của Bùi Ngọc Phượng là 30ml thấp hơn nghiên cứu này là 60ml và đối tượng nghiên cứu cũng có tuổi thai trung bình thấp hơn nghiên cứu này (39(±1,5) tuần và 40,3 (±0,2) tuần)

So với nghiên cứu của Cromi và cs (2007)

có tỷ lệ thành công rất thấp 26,6% Lý do tác giả chọn tiêu chuẩn thành công là sản phụ vào chuyển dạ thật sự và không phải sử dụng thêm bất kỳ phương pháp nào khác (oxytocin, prostaglandin )

So với nghiên cứu của Wijepala 2013 có tỷ lệ thành công rất cao 97% do lưu bóng 24 giờ

So với các nghiên cứu có vị trí bóng Foley đặt ở kênh CTC như nghiên cứu của Nguyễn

Bá Mỹ Ngọc và Bùi Ngọc Phượng thì nghiên cứu của chúng tôi với vị trí bóng Foley đặt ở lỗ trong CTC có tỷ lệ thành công tương đương hoặc cao hơn

Bàn luận kết cuộc thai kỳ theo kết quả kpcd

Về cách sanh

Bảng 9 cho thấy tỷ lệ sinh ngả âm đạo trong nhóm nghiên cứu là 56% Khi phân tích theo kết quả KPCD thì tỷ lệ sinh ngả âm đạo của nhóm KPCD thành công (67%) cao hơn

Trang 7

nhóm KPCD thất bại (8%) khác biệt có ý nghĩa

thống kê với p = 0,00

Bảng 9.Tỷ lệ sinh ngả âm đạo của các nghiên cứu

Tên tác giả Tỷ lệ sinh

ngả âm đạo(%)

Đối tượng nghiên cứu

Nguyễn Bá Mỹ

Thai ≥ 37 tuần, thiểu ối Bùi Ngọc Phượng(5) 59 Thai ≥ 34 tuần, thiểu ối

So sánh với các nghiên cứu tại Việt Nam, tỷ

lệ sinh ngả âm đạo trong nghiên cứu này gần

bằng nghiên cứu của Bùi Ngọc Phượng Có lẽ do

đối tượng trong nghiên cứu này là thai quá ngày

dự sinh,con so, trọng lượng sơ sinh trung bình

nhóm nghiên cứu 3400g ±270g quá trình chuyển

dạ không thuận lợi, nghiệm pháp lọt thất bại do

bất xứng đầu chậu

So với các nghiên cứu của Chung và cs (2003)

thực hiện trên 54 trường hợp đặt thông Foley

KPCD thì nghiên cứu này có tỷ lệ sinh ngả âm

đạo cao hơn (64,3% và 56%) vì đối tượng nghiên

cứu của Chung là tuổi thai rất nhỏ (≥ 28 tuần),

tuổi thai nhỏ nên thụ thể với oxytocin tại cơ tử

cung ít

KẾT LUẬN

Trong khoảng thời gian từ tháng 09/2015 đến

tháng 05/2016, chúng tôi đã tiến hành nghiên

cứu mô tả 71 trường hợp nhằm đánh giá hiệu

quả của ống thông Foley đặt qua lỗ trong CTC

gây KPCD ở thai quá ngày Chúng tôi đã ghi

nhận được các kết luận sau:

1 Tỷ lệ thành công với tiêu chuẩn Bishop

tăng từ 3 điểm trở lên là 82%, (KTC 95% 71,6 -

89,4)

2 Không có biến chứng liên quan đến đặt

ống thông Foley, tỷ lệ thai phụ khó chịu khi đặt

là 22,5%

3 Kết cuộc thai kỳ sau khi KPCD

Tỷ lệ sinh ngả âm đạo là 56%,tỉ lệ mổ là 44%,

lí do mổ bất xứng đầu chậu chiếm 67,7%, CTC không tiến triển chiếm 22,5%,trọng lượng trung bình trong nhóm mổ vì bất xứng đầu chậu là 3500g, trọng lượng thai có liên quan đến kết quả khởi phát chuyển dạ cũng như tỉ lệ mổ bắt con p=0,01.Tỉ lệ mổ bắt con cao hơn những nghiên cứu khác vì trọng lượng thai trung bình trong nhóm mổ lấy thai cao hơn những nghên cứu khác , có sự bất tương xứng giữa thai và khung chậu mẹ ở nhóm thai quá ngày dự sanh, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Phương pháp KPCD bằng sonde Foley chuẩn bị CTC rất tốt giảm tỉ lệ mổ vì giục sanh CTC không tiến triển trên thai quá ngày tại Bệnh viện từ 76 % xuống còn 44%

Tỷ lệ phải sử dụng thêm oxytocin sau KPCD

là 73%

Thời gian trung bình từ KPCD đến lúc sinh ngả âm đạo là 14,8 giờ Khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm KPCD thành công và thất bại (20 giờ và 15 giờ), p<0,0001

Thời gian trung bình sử dụng oxytocin trong trường hợp sinh ngả âm đạo là 5,4 giờ Khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa nhóm KPCD thành công và thất bại (2giờ và 6,3 giờ), p<0001

Khởi phát chuyển dạ thất bại có liên quan đến mổ bắt con p<0.001

Cân nhắc khởi phát chuyển dạ trên những sản phụ con so, ước lượng cân nặng thai trên

3400 gram

Đặt thông Foley gây KPCD đã được chứng minh về tính hiệu quả và độ an toàn, qua nghiên cứu này một lần nữa chứng minh đặt sonde Foley bóng đơn qua lỗ trong CTC gây KPCD ở thai quá ngày dự sinh có tỷ lệ thành công cao, dễ

áp dụng, ít biến chứng

Với mong muốn nâng cao chất lượng điều trị

và đa dạng hóa các phương pháp khởi phát chuyển dạ ở các tuyến cơ sở có phòng mổ, chúng tôi kiến nghị xây dựng phác đồ Bệnh viện về

Trang 8

khuyến cáo áp dụng rộng rãi cần tiến hành

nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn nhằm có thể

phát hiện các biến chứng có thể xảy ra, cũng như

xác định các yếu tố liên quan đến tỷ lệ thành

công của KPCD

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 ACOG Practice Bulletin No.107 (2009) "Induction of Labor"

Obstet Gynecol 114(386)

2 Alfirevic Z, Kelly AJ, Dowswell T (2009) " Intravenous

oxytocin alone for cervical ripening and induction of labour"

Cochrane Database Syst Rev (4): pp CD003246

3 Báo cáo tổng kết cuối năm (2010) " Kỷ yếu - Phòng Kế hoạch

tổng hợp" Bệnh viện Từ Dũ

4 Bruckner TA, Cheng YW, Caughey AB (2008) " Increased

neonatal mortality among normal-weight births beyond 41

weeks of gestation in California" Am J Obstet Gynecol 199(4):

pp 421 - 427

5 Bùi Ngọc Phượng (2009) " Hiệu quả của ống thông foley đặt

kênh cổ tử cung trong khởi phát chuyển dạ ở thai > 34 tuần

thiểu ối" Luận án chuyên khoa II, ĐH Y Dược TP Hồ Chí

Minh, pp 72

6 Chung JH, Huang WH, Rumney PJ, et al (2003) " A

prospective randomized controlled trial that compared

misoprostol, Foley catheter, and combination

misoprostol-Foley catheter for labor induction" Am J Obstet Gynecol 189(4):

pp 1031-5

7 Cromi A, Ghezzi F, Uccella S, et al (2012) " A randomized trial

of preinduction cervical ripening: dinoprostone vaginal insert

versus double-balloon catheter" Am J Obstet Gynecol 207(2):

pp 125 e1-7

8 Levy R, Kanengiser B, Furman B, et al (2004) " A randomized trial comparing a 30-mL and an 80-mL Foley catheter balloon

for preinduction cervical ripening" Am J Obstet Gynecol 191(5):

pp 1632-1636

9 Nguyễn Bá Mỹ Ngọc(2012) " So sánh hiệu quả khởi phát chuyển dạ của prostaglandin E2 và ống thông ở thai > 37 tuần thiểu ối" Luận án chuyên khoa II, ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh

10 Phạm Thị Mỹ Hạnh (2012) " Hiệu quả khởi phát chuyển dạ bằng ống thông Foley ở thai dị tật bẩm sinh > 20 tuần trên thai phụ có vết mổ lấy thai một lần" Luận án chuyên khoa II, ĐH

Y Dược TP Hồ Chí Minh

11 Trần Thi Lợi,Nguyễn Duy Tài(2011) " Sử dụng thuốc tăng co trong sản khoa" Thực hành sản phụ khoa Nhà xuất bản Y học

TP Hồ Chí Minh pp.86-91

12 Trần Thị Lợi ,Tài Nguyễn Duy (2011) " Khởi phát chuyển dạ " Thực hành sản phụ khoa Nhà xuất bản Y học TP Hồ Chí Minh pp.50 - 56

Ngày nhận bài báo: 15/08/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/09/2016 Ngày bài báo được đăng: 15/11/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 07:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w