Bài viết trình bày mô tả đặc điểm tuần hoàn phổi trên hình ảnh cắt lớp vi tính (CLVT) của bệnh không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất (KLVĐMP‐TLT). Tìm mức độ phù hợp giữa hình ảnh CLVT với kết quả phẫu thuật, chụp mạch.
Trang 1CỦA TUẦN HOÀN PHỔI TRONG BỆNH LÝ KHÔNG LỖ VAN ĐỘNG MẠCH PHỔI KÈM THÔNG LIÊN THẤT
Đỗ Tâm Thanh*, Trần Minh Hoàng**
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm tuần hoàn phổi trên hình ảnh cắt lớp vi tính (CLVT) của bệnh không lỗ van động
mạch phổi kèm thông liên thất (KLVĐMP‐TLT). Tìm mức độ phù hợp giữa hình ảnh CLVT với kết quả phẫu thuật, chụp mạch.
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca.
Kết quả: Phân tích hình ảnh CLVT (đa dãy) của 35 trường hợp KLVĐMP‐TLT được chẩn đoán và điều trị
phẫu thuật (24 trường hợp) ở các khoa tim mạch BV Nhi đồng 1, Nhi đồng 2, BV ĐHYD và Viện Tim thuộc tp
HCM, có kết quả sau: thân động mạch phổi: 76% có thân, 24% không có thân, giảm sản rất nặng chiếm nhiều nhất 58%; hợp lưu: 80% có hợp lưu, 20% không hợp lưu; động mạch phổi (P) và (T): kích thước thay đổi từ bình thường (52% ‐ 59%) đến giảm sản rất nặng (27% ‐ 29%), mất hẳn (6% ‐ 9%); ống động mạch: 54% có ống động mạch, 46% không có; có động mạch bàng hệ chủ phổi: 77% với 94% xuất phát từ động mạch chủ ngực xuống và 10% có hẹp. Mức độ phù hợp giữa CLVT với kết quả phẫu thuật về đặc điểm hình thái động mạch phổi và giữa CLVT và chụp mạch DSA về khả năng phát hiện động mạch bàng hệ chủ phổi đều ở mức
chặt chẽ với hệ số kappa lần lượt là: > 0,6 và 0,76.
Kết luận: CLVT đa dãy là 1 phương tiện đáng tin cậy trong đánh giá động mạch phổi và động mạch bàng
hệ chủ phổi ở bệnh nhân KLVĐMP‐TLT.
Từ khóa: không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất, cắt lớp vi tính đa dãy, chụp mạch, tuần hoàn
phổi, động mạch bàng hệ chủ phổi, ống động mạch.
ABSTRACT
ANALYSIS OF THE PULMONARY ARTERY AND AORTOPULMONARY COLLATERALS IN PATIENTS WITH PULMONARY ATRESIA AND VENTRICULAR SEPTAL DEFECT USING MULTI‐
DETECTOR COMPUTED TOMOGRAPHY (MDCT)
Do Tam Thanh, Tran Minh Hoang
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 211 ‐ 217
Objectives: To describe the computed tomography images of pulmonary artery and aortopulmonary
collaterals in patients with pulmonary atresia and ventricular septal defect (PA‐VSD). Quantify agreement with kappa between the computed tomography images of pulmonary artery and surgical findings, the presence of
aortopulmonary collaterals and conventional angiography.
Methods: Case series study
Results: 35 patients with PA‐VSD were diagnosed and operated (24 patients) by the HCM city heart
institute, University medical center, Children ’ s hospital 1 and 2. Our results: pulmonary trunk: 76% present, 24% absent; 58% severe hypoplasia; right pulmonary artery and left pulmonary artery: 80% confluence, 20% no confluence, the size varies: 52%‐59% normal, 27%‐29% severe hypoplasia, 6% ‐ 9% absent; Patent
Tác giả liên lạc: BS. Đỗ Tâm Thanh ĐT: 0942002269 Email: dotamthanh@gmail.com
Trang 2ductus arteriosus: 54% present, 46% absent; pulmonary collaterals: 77% present, 94% arising from
descending thoracic aorta, 10% having stenosis. The strength of agreement between the computed tomography images of pulmonary artery and surgical findings is good (kappa > 0.6), between the computed tomography images of the presence of pulmonary collaterals and conventional angiography is also good (kappa = 0.76).
Conclusion: MDCT is a reliable means to evaluate pulmonary artery and aortopulmonary collaterals in
patients with PA‐VSD.
Key words: pulmonary atresia with ventricular septal defect, computed tomography, conventional
angiography, pulmonary circulation, aortopulmonary collaterals, patent ductus arteriosus
ĐẶT VẤN ĐỀ
Không lỗ van động mạch phổi kèm thông
liên thất, là một trong những bệnh tim bẩm sinh
phức tạp nhất, và cho đến nay vẫn còn thách
thức trong chẩn đoán, điều trị. Chính tính đa
dạng của tuần hoàn phổi đã tạo ra sự phức tạp
của bệnh(2). Vấn đề xác định dạng bất thường
tuần hoàn phổi trong bệnh lý không lỗ van động
mạch phổi kèm thông liên thất có thể nói là khâu
then chốt để đưa ra chiến lược điều trị.
Siêu âm và chụp mạch là 2 kỹ thuật kinh
điển trong chẩn đoán và định hướng điều trị(2).
Siêu âm ưu thế trong đánh giá bất thường trong
tim, nhưng hạn chế trong đánh giá bất thường
ngoài tim. Chụp mạch ưu thế trong đánh giá bất
thường tuần hoàn phổi, nhưng lại là kỹ thuật
mang tính xâm lấn với mức nhiễm xạ không ít
và cũng có những hạn chế do hiện tượng chồng
hình. Nhờ những tiến bộ quan trọng trong kỹ
thuật hình ảnh, cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ,
đã dần từng bước chứng tỏ được vai trò trong
chẩn đoán bệnh lý tim mạch nói chung và các
bất thường bẩm sinh tim nói riêng. Cộng hưởng
từ đánh giá tim mạch ưu thế ở đặc điểm: không
xâm lấn, không nhiễm xạ và độ tương phản
hình ảnh rất tốt, nhưng hạn chế nhiều ở khâu
thực hiện (phải gây mê và thời gian chụp lâu)(4).
Cắt lớp vi tính có thể đánh giá các bất thường
trong tim và tỏ ra ưu thế trong đánh giá bất
thường ngoài tim, mà cụ thể là tuần hoàn phổi,
nhờ không gian quan sát rộng, chất lượng tương
phản rất tốt của mạch máu trên hình ảnh, điều
kiện tiến hành thường thuận lợi, và một ưu
điểm không kém quan trọng, đó là: tính không
xâm lấn và sự thực hiện rất nhanh của kỹ
thuật(5). Cho nên, bên cạnh kỹ thuật siêu âm
không thể thiếu, thì kỹ thuật cắt lớp vi tính đang
có khuynh hướng được ưa chuộng như là một phương tiện bổ sung có ý nghĩa trong đánh giá bệnh không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất.
Hiện nay, trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về hình ảnh cắt lớp vi tính trong bệnh lý không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất, nhưng chưa nhiều. Ở Việt Nam, theo thông tin chúng tôi thu thập được mới có 1 nghiên cứu về tuần hoàn phổi của bệnh không lỗ van động mạch phổi kèm thông
liên thất nhưng trên hình ảnh chụp mạch
DSA(7). Ngoài ra, vấn đề chỉ định chụp cắt lớp
vi tính để khảo sát bệnh lý này cũng còn có nhiều quan điểm khác nhau. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu:
Mô tả đặc điểm hình thái động mạch phổi và động mạch bàng hệ chủ‐phổi trong bệnh lý không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất trên hình ảnh cắt lớp vi tính.
Đánh giá mức độ phù hợp giữa cắt lớp vi tính và phẫu thuật trong mô tả hình thái của động mạch phổi; giữa cắt lớp vi tính và chụp mạch DSA trong phát hiện động mạch bàng hệ chủ‐phổi.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 35 bệnh nhân không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất của khoa Tim Mạch BVNĐ1, BVNĐ2, Viện Tim và BVĐHYD thuộc TPHCM từ tháng 01/2010 đến 03/2013. Các bệnh nhân này có kết quả hình ảnh cắt lớp
vi tính theo quy trình chuẩn. Loại trừ các bệnh nhân đã được can thiệp tim mạch trước đó.
Trang 3Mô tả loạt ca.
Phân tích lại hình ảnh CLVT của 35 bệnh
nhân: xác định lại chẩn đoán. Xác định giải phẫu
hệ động mạch phổi (thân động mạch phổi: hiện
diện, kích thước; động mạch phổi phải và trái:
hiện diện, hợp lưu, kích thước; đo tỉ lệ McGoon
và chỉ số Nakata; ống động mạch: hiện diện,
kích thước đầu gần và đầu xa; động mạch bàng
hệ chủ ‐ phổi: số lượng, nơi xuất phát, kích
thước).
Chỉ số Nakata: tổng diện tích thiết diện
ngang của động mạch phổi trái và động mạch
phổi phải (tính theo mm2) chia cho diện tích da
cơ thể (BSA, đơn vị: m2). Đơn vị: mm2/m2(10).
Tỉ số McGoon: tỉ số của tổng đường kính
của động mạch phổi phải và động mạch phổi
trái ngay trước khi phân nhánh, chia cho đường
kính của động mạch chủ xuống ngay mức cơ
hoành(12). Kết quả phân tích hình ảnh do một bác
sĩ nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực này xác
nhận lại.
Mô tả đặc điểm tuần hoàn phổi của mẫu
nghiên cứu. Các kết quả được trình bày dưới
dạng bảng, biểu. Các biến số định tính được
trình bày theo tần suất và tỉ lệ %. Các biến số
định lượng được trình bày theo trị số trung bình
và độ lệch chuẩn.
Khảo sát sự phù hợp giữa kết quả phẫu
thuật và CLVT bằng hệ số Kappa về đặc điểm
động mạch phổi và sự phù hợp giữa kết quả
chụp mạch DSA và CLVT bằng hệ số Kappa về
đặc điểm hiện diện động mạch bàng hệ chủ ‐
phổi.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung
Bảng 1: Phân bố giới tính
Nam 18 51
Nữ 17 49
Bảng 2: Phân bố tuổi bệnh nhân lúc chụp CLVT
Sơ sinh
(≤ 1 th)
Nhũ nhi
(1-12 th)
1 – 5 tuổi 6 – 15 tuổi 15 tuổi
Tần số
Tỉ lệ (%)
Tần
số
Tỉ lệ (%)
Tần
số
Tỉ lệ (%)
Tần
số
Tỉ lệ (%)
Tần
số
Tỉ lệ (%)
1 3 9 26 7 20 13 37 5 14
Đặc điểm tuần hoàn phổi bệnh KLVĐMP‐
TLT trên CLVT
Bảng 3: Đặc điểm thân động mạch phổi
Đặc điểm thân động mạch phổi (n=35) Tần số Tỷ lệ (%)
Kích thước thân động mạch phổi (n=26)
Bình thường 7 27 Giảm sản nhẹ 1 4 Giảm sản nặng 3 11 Giảm sản rất nặng 15 58
Bảng 4: Đặc điểm động mạch phổi phải và động
mạch phổi trái
Đặc điểm hiện diện ĐMP phải và
ĐMP trái
Tần số Tỷ lệ (%)
ĐMP/T
Hợp lưu ĐMP/P và ĐMP/T
Đặc điểm kích thước đmpP và đmpT
qua trị số Z Tần số Tỷ lệ (%) Kích thước đmpP (n=33)
Bình thường 17 52 Giảm sản nhẹ 5 15 Giảm sản nặng 2 6 Giảm sản rất nặng 9 27 Kích thước đmpT (n=32)
Bình thường 19 59 Giảm sản nhẹ 5 16 Giảm sản nặng 1 3 Giảm sản rất nặng 7 22
Bảng 5: Đặc điểm ống động mạch (OĐM) trên hình
ảnh CLVT
Đặc điểm ống động mạch trên hình ảnh CLVT
Tần số Tỷ lệ (%)
Hiện diện OĐM (n=35) Có 19 54
Không 16 46 Phân nhóm đường kính OĐM (n=19) Nhỏ 11 58 Trung bình 6 32 Lớn 2 10
Trang 4Đặc điểm động mạch bàng hệ chủ
phổi (ĐMBHCP)
Tần số Tỷ lệ (%)
ĐMBHCP (n=35)
Có 27 77 Không 8 23
Tổng số nhánh ĐMBHCP được khảo
sát: 60
Phân nhóm đường kính các nhánh ĐMBHCP (n=60)
Nhỏ 27 45 Trung bình 23 38
Lớn 10 17 Tình trạng hẹp nơi xuất phát của ĐMBHCP (n=60)
Có 6 10
Đặc điểm động mạch bàng hệ chủ
phổi (ĐMBHCP)
Tần số Tỷ lệ (%)
Không 54 90 Phân bố nơi xuất phát của các nhánh ĐMBHCP (n=60) Động mạch chủ ngực xuống 56 94 Động mạch thân cánh tay đầu 1 1 Động mạch dưới đòn 2 4 Cung động mạch chủ 1 1
Bảng 7: Đặc điểm kích thước ĐMBHCP
Trung bình
Độ lệch chuẩn
Khoảng 25%
Trung
vị
Khoảng 75%
Nhỏ nhất
Lớn nhất
Đường kính ĐMBHCP (mm) (n=60) 4,5 3,2 3 4 5 2 23
Bảng 8: Đặc điểm tỉ lệ Mc Goon và chỉ số Nakata trong mẫu nghiên cứu
Tỉ lệ Mc Goon
Chỉ số Nakata
Khảo sát mức phù hợp giữa hình ảnh cắt
lớp vi tính và kết quả phẫu thuật về các đặc
điểm động mạch phổi (24 trường hợp)
Bảng 9: Bảng tổng hợp hệ số phù hợp Kappa của các
đặc điểm khảo sát trên hình ảnh CLVT và kết quả
phẫu thuật như sau:
Hiện diện thân ĐMP 0,71
Giảm sản thân ĐMP 0,73
Hợp lưu 0,62
Hiện diện ĐMP/T 0,65
Giảm sản ĐMP/T 0,69
Hiện diện ĐMP/P 0,65
Giảm sản ĐMP/P 0,80
Hiện diện ống động mạch 0,70
Khảo sát mức phù hợp giữa CLVT và chụp
mạch DSA về đặc điểm hiện diện động mạch
bàng hệ chủ‐phổi (15 trường hợp): hệ số phù
hợp Kappa = 0,76 → Mức phù hợp chặt chẽ.
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung
Tuổi bệnh nhân lúc chụp CLVT
Nhỏ nhất là 1 tháng, lớn nhất là 26 tuổi.
Nghiên cứu của Yin Lei, Lu Bin(12) có 20 trường
hợp: tuổi nhỏ nhất là 43 ngày và tuổi lớn nhất là
22 tuổi. Khoảng tuổi nghiên cứu của chúng tôi
và của Yin Lei, Lu Bin đều rộng, điều này chứng
tỏ mức độ ảnh hưởng của bệnh KLVĐMP‐TLT rất thay đổi, có thể từ rất sớm 43 ngày đến rất trễ
59 tuổi như trong nghiên cứu của Fukui Daisuke(6). Bệnh KLVĐMP‐TLT ít khi biểu hiện ở tuổi sơ sinh do tình trạng còn thông của ống động mạch(11), điều này cũng thấy trong nghiên cứu của Yin Lei, Lu Bin(12) không có bệnh nhân nào ở tuổi này và trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 3% bệnh nhân ở tuổi sơ sinh.
Giới tính
Số trường hợp nam và nữ chiếm tỉ lệ theo thứ tự là 51% và 49%, nghĩa là ưu thế nhẹ ở nam phù hợp với y văn(1). Còn nghiên cứu của tác giả Yin Lei, Lu Bin, số trường hợp nam gần như gấp đôi nữ (13/7)(12).
Đặc điểm tuần hoàn phổi trong bệnh KLVĐMP‐TLT qua kết quả chụp CLVT
Đặc điểm thân động mạch phổi trên hình ảnh CLVT
26% trường hợp không có thân động mạch phổi: nhiều hơn ghi nhận của Kirlin: 5%(8) có lẽ
do đặc điểm mẫu chọn khác nhau. Và trong số các trường hợp có thân động mạch phổi thì số trường hợp giảm sản rất nặng là nhiều nhất,
Trang 5Kirlin(8).
Đặc điểm động mạch phổi phải và động mạch
phổi trái trên hình ảnh CLVT
Tỉ lệ các trường hợp hợp lưu, không hợp lưu
đều phù hợp với y văn(8). Những trường hợp có
nhánh động mạch phổi thì kích thước thay đổi
từ bình thường đến giảm sản và ở những trường
hợp giảm sản, thì mức độ giảm sản cũng rất
khác nhau, từ nhẹ đến rất nặng, trong đó số
trường hợp giảm sản mức độ rất nặng trội hẳn,
chiếm 49% (27% đối với riêng động mạch phổi
phải và 22% đối với riêng động mạch phổi trái).
Qua đây, chúng tôi nhận thấy kích thước động
mạch phổi có sự phân bố đa dạng. Chính từ đây
đã tạo nên tính phức tạp của tuần hoàn phổi
trong bệnh lý KLVĐMP‐TLT và cũng là thách
thức trong chẩn đoán và điều trị.
Tỉ lệ Mc Goon và chỉ số Nakata
Là các thông tin hữu ích trong điều trị
ngoại khoa bệnh lý KLVĐMP‐TLT. Một trong
các điều kiện để giải pháp phẫu thuật triệt để
có kết quả tốt là: Tỉ lệ Mc Goon ≥ 1,5(1,8) và chỉ
số Nakata ≥ 150 mm2(8). Giá trị trung bình của
tỉ lệ Mc Goon(1,5) và chỉ số Nakata (193mm2/m2)
trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn
nghiên cứu của Yin Lei, Lu Bin (1,2 và 131mm2/
m2)(12). Điều này chúng tôi chưa tìm được lời
giải thích xác đáng. Có thể do có khác biệt
trong cách chọn mẫu giữa nghiên cứu của
chúng tôi và các tác giả Yin Lei, Lu Bin. Như
vậy, để biểu thị kích thước động mạch phổi, có
3 chỉ số: trị số Z, tỉ lệ McGoon và chỉ số
Nakata. Tỉ lệ Mc Goon ở bệnh nhân KLVĐMP‐
TLT hay cao giả tạo do đường kính động mạch
chủ xuống ở mức cơ hoành thường hẹp hơn so
với ở người bình thường(3). Trị số Z phản ánh
chi tiết hơn, đánh giá sự giảm sản từng nhánh
một, còn trong công thức tính chỉ số Mc Goon
và Nakata, đánh giá tình trạng giảm sản tổng
cộng của 2 nhánh động mạch phổi, nên có thể
có sự bù trừ qua lại về kích thước giữa 2 nhánh
động mạch phổi. Theo Kirlin, trị số Z được ưa
dùng hơn(8).
Đặc điểm ống động mạch trên hình ảnh CLVT
Trong bệnh lý KLVĐMP‐TLT nguồn cung cấp máu cho phổi hoàn toàn xuất phát từ phía động mạch chủ: hoặc từ ống động mạch hoặc từ tuần hoàn bàng hệ chủ phổi và cũng có thể từ cả hai. Trong 35 trường hợp nghiên cứu, chúng tôi
có 19/35 trường hợp có ống động mạch, chiếm tỉ
lệ 54%, với đường kính thay đổi từ nhỏ nhất 2mm đến lớn nhất 11mm, đường kính trung bình là 6,4mm và nhóm có ống động mạch có kích thước nhỏ chiếm đa số 58%. Điều này phù hợp với khoảng tuổi lớn trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi (độ tuổi từ 6 đến 26 tuổi, chiếm tỉ
lệ lớn 51%) cũng có thể ảnh hưởng đến tỉ lệ cao của ống động mạch có kích thước nhỏ, do tuổi càng lớn ống động mạch có khuynh hướng hẹp dần(1,2). Nghiên cứu của Zhao L(13), trong 20 bệnh nhân có 12 bệnh nhân có ống động mạch chiếm
tỉ lệ 60%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi là 19/35 trường hợp, chiếm 54%. Nghĩa là sự khác biệt ở đây là không nhiều.
Đặc điểm động mạch bàng hệ chủ – phổi trên hình ảnh CLVT
ĐMBHCP trong bệnh lý KLVĐMP‐TLT có hai dạng: dạng có nguồn gốc phôi thai và dạng mắc phải (xuất hiện sau sinh). Cả hai dạng đều
có đặc điểm riêng của nó và đều có thể cung cấp lượng máu hiệu quả đến phổi, nhưng dạng mắc phải không bao giờ gây suy tim, có lẽ dòng chảy giữa động mạch chủ và động mạch phổi có kháng lực cao(2). Cả hai dạng này có thể cùng tồn tại trong cùng một bệnh nhân(8). Trong mục này chúng tôi chỉ đề cập đến ĐMBHCP có nguồn gốc phôi thai. Kết quả của chúng tôi có 27/35 bệnh nhân có ĐMBHCP, chiếm tỉ lệ 77%, cao hơn nhận xét của Kirlin (60%)(8). Chúng tôi nghĩ các trường hợp KLVĐMP‐TLT không có ĐMBHCP thì siêu âm đã có thể đáp ứng được yêu cầu của lâm sàng, các trường hợp có ĐMBHCP cần có thêm thông tin từ CLVT, chính
vì điều này làm số trường hợp có ĐMBHCP trong mẫu của chúng tôi cao.
Số lượng, kích thước, vị trí xuất phát của ĐMBHCP rất thay đổi giữa các bệnh nhân, xác
Trang 6định vấn đề này rất quan trọng trong chiến
lược điều trị bệnh lý KLVĐMP‐TLT. Trong
nghiên cứu của chúng tôi, có 27 trường hợp có
ĐMBHCP với tổng số nhánh là 60, đường kính
từ 2mm đến 23mm ghi nhận này phù hợp với
Hugh D. Allen(1) với đường kính trung bình là
4,5mm ± 3,2. Nghiên cứu của tác giả Zhao L,
Peng L(13), ĐMBHCP có đường kính từ 2mm
đến 14,3mm, đường kính trung bình là 7,2mm
± 3,4mm. Trong nghiên cứu của tác giả Yin Lei,
Lu Bin(12), ĐMBHCP đường kính trung bình là
6,12mm ± 4,14. ĐMBHCP trong nghiên cứu
của chúng tôi: đa số xuất phát từ ĐMC xuống
(93% phù hợp với Mavroudis Constantine(9))
và chủ yếu có đường kính nhỏ và trung bình,
chiếm tỉ lệ 83%. Ở các trường hợp có
ĐMBHCP chúng tôi chỉ ghi nhận được 6/60
nhánh hẹp, chiếm tỉ lệ 10%, tất cả đều hẹp ở vị
trí gần nơi xuất phát. Tỉ lệ ĐMBHCP hẹp trong
nghiên cứu của chúng tôi là quá thấp so với y
văn (10% so với 60%)(1). Chúng tôi nghĩ do ảnh
hưởng của yếu tố sau: hẹp ĐMBHCP có thể
xảy ra ở những vị trí xa nơi xuất phát, đường
đi của ĐMBHCP uốn khúc và ĐMBHCP có
đường kính nhỏ (trong nghiên cứu của chúng
tôi ĐMBHCP nhỏ là chiếm nhiều nhất), điều
này nếu cộng thêm các yếu tố kỹ thuật chụp,
hình ảnh hẹp của ĐMBHCP sẽ khó đánh giá
được trên CLVT. Đây cũng chính là điểm hạn
chế chung của kỹ thuật cắt lớp vi tính trong
đánh giá hẹp ở mạch máu có kích thước nhỏ.
Khảo sát mức độ phù hợp giữa hình ảnh
cắt lớp vi tính và kết quả phẫu thuật về đặc
điểm động mạch phổi (24 trường hợp)
So sánh kết quả mô tả của phẫu thuật và
chụp CLVT chúng tôi thấy sự phù hợp ở mức
chặt chẽ với hệ số Kappa đều nằm trong khoảng
từ 0,62 đến 0,80. Do đó, chụp CLVT là kỹ thuật
tin cậy trong đánh giá hình thái động mạch phổi
ở bệnh lý KLVĐMP‐TLT.
Khảo sát mức độ phù hợp giữa kết quả
CLVT và kết quả chụp mạch DSA về khả
năng phát hiện ĐMBHCP (15 trường hợp)
Có hệ số Kappa 0,76, nghĩa là sự phù hợp
giữa 2 kỹ thuật ở mức chặt chẽ. Nhận định này
cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của tác giả Yin Lei, Lu Bin(12).
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu tuần hoàn phổi trên hình ảnh cắt lớp vi tính của 35 trường hợp bệnh lý không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất tại các trung tâm tim mạch ở tp HCM, chúng tôi nhận thấy kỹ thuật cắt lớp vi tính có khả năng phát hiện tất cả các đặc điểm hình thái
đa dạng và phức tạp của động mạch phổi và động mạch bàng hệ chủ ‐ phổi với độ tin cậy
cao. Biểu hiện ở mức độ phù hợp chặt chẽ (hệ số Kappa > 0,6) với kết quả phẫu thuật về đặc điểm
động mạch phổi và với chụp mạch DSA về phát hiện động mạch bàng hệ chủ ‐ phổi. Vì thế, trong bối cảnh lâm sàng nhất định thì cắt lớp vi tính có thể thay thế được chụp mạch DSA, một
kỹ thuật tuy rất giá trị trong đánh giá mạch máu nhưng xâm lấn với những nguy cơ nhất định và không phải lúc nào cũng thực hiện được trên mọi đối tượng bệnh nhân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Disease Infant, Children, and Adolescents, Lippincott Williams &
Wilkins, pp.959‐ 960.
Livingstone Elsevier, pp.775‐785.
Surgery of the Neonate and Infant, Elsevier Saunders, pp. 215 –
223.
Lippincott Williams & Wilkins, pp. 262 – 263.
Making for Surgery. Springer, volume 3, pp.1‐5; 154‐160.
With Ventricular Septal Defect”, Circulation, 124, pp.2155‐2157.
Không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất ở trẻ em qua chụp mạch máu xoá nền bằng kỹ thuật số, Luận án chuyên khoa cấp II
Đại học Y dược tp HCM, pp.23‐37.
1012‐1030.
BlackWell, pp. 428‐435.
for the quantitative standardization of cross‐sectional areas of the pulmonary arrteries in congenital heart diseases with
decreased pulmonary blood flow”, J Thorac Cardiovasc Surgery,
88, pp: 610‐619.
Trang 711 Phạm Nguyễn Vinh (2008), Bệnh học tim mạch, Nhà xuất bản Y
học Thành phố Hồ Chí Minh, pp. 470 – 471.
artery and pulmonary collaterals in preoperative patients with
pulmonary artery atresia using dual – source computed
tomography ”, European journal of Radiology 79, pp.480 – 485.
gated dual source computed tomography and angiography in
assessing pulmonary atresia with ventricular septal defect”,
Sheng Wu Yi Xue Gong Cheng Xue Za Zhi, 29 (6), pp.1084 – 8.
Ngày nhận bài báo: 22/11/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/11/2013 Ngày bài báo được đăng : 05/01/2014