Đánh giá bước đầu sự tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng trong Bệnh viện Bình Dân năm 2017, qua đó góp phần đưa ra những biện pháp nhằm tăng cường vệ sinh tay trong bệnh viện.
Trang 1KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỰ TUÂN THỦ VỆ SINH TAY
CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN
Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng*, Phạm Hữu Đoàn*, Trần Ngọc Thiện*, Nguyễn Thị Thuỳ Nga*,
La Thị Quý Hương*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Vệ sinh tay là biện pháp đơn giản và hiệu quả trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện,
đồng thời cũng là biện pháp hữu ích nhằm đảm bảo an toàn cho nhân viên y tế trong thực hành chăm sóc và điều trị người bệnh Tuân thủ tốt vệ sinh tay giúp hạn chế và ngăn ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện, giảm chi phí
và tỷ lệ tử vong - Mục tiêu: Đánh giá bước đầu sự tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng
trong Bệnh viện Bình Dân năm 2017, qua đó góp phần đưa ra những biện pháp nhằm tăng cường vệ sinh tay trong bệnh viện
Phương pháp: Nghiên cứu quan sát sự tuân thủ vệ sinh tay tại 5 thời điểm vệ sinh tay theo khuyến cáo của
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) được thực hiện tại 12 khoa lâm sàng của Bệnh viện Bình Dân từ 01/7 – 31/10/2017
Kết quả: Tổng số cơ hội được quan sát là 7533 Trong đó, có tuân thủ vệ sinh tay là 76,5% Việc vệ sinh tay
với cồn được lựa chọn nhiều hơn so với xà bông và nước (95,9% so với 4,1%) Tất cả các khoa đều có tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay cao trên 50%, trong đó 3 khoa có tỷ lệ tuân thủ cao nhất là Niệu C (94,0%), Hồi sức Tích cực & Chống độc (83,5%) và Niệu A (81,2%) Tỷ lệ tuân thủ thấp nhất là khoa Niệu B (62,6%) và khoa Tổng quát 1 (64,8%) Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay giữa các khoa không đồng đều, tập trung cao ở các khoa thuộc khối Hồi sức và khối Niệu Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay ở các đối tượng nhân viên y tế: Điều dưỡng và Hộ lý có tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay cao nhất (lần lượt là 83,2% và 63,3%) Học sinh – sinh viên và Bác
sĩ có tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thấp hơn Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 5 cơ hội phải vệ sinh tay khi chăm sóc người bệnh: cơ hội có sự tuân thủ vệ sinh tay cao nhất là sau khi có tiếp xúc với máu và dịch cơ thể 91,0%, sau khi tiếp xúc với người bệnh 79,8% Thấp nhất là trước khi tiếp xúc người bệnh 63,6% và trước khi tiến hành thủ thuật vô khuẩn 73,7%
Kết luận: Tuân thủ tốt vệ sinh tay khi chăm sóc người bệnh là một vấn đề không đơn giản khi bệnh viện
luôn quá tải và áp lực công việc cao Tuy nhiên cần phải thực hiện nhiều biện pháp kết hợp tuyên truyền, nhắc nhở, kiểm tra giám sát nhằm đẩy mạnh công tác vệ sinh tay trong mọi hoạt động chăm sóc người bệnh; từ đó góp phần nâng cao ý thức nhân viên y tế về ngăn ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện và chất lượng chăm sóc người bệnh
Từ khóa: Tuân thủ vệ sinh tay, nhân viên y tế
ABSTRACT
ASSESSMENT OF COMPLIANCE WITH HANDWASHING OF HEALTHCARE WORKERS AT BINH
DAN HOSPITAL
Nguyen Phuc Cam Hoang, Pham Huu Doan, Tran Ngoc Thien, Nguyen Thi Thuy Nga,
La Thi Quy Huong * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 533 - 539
Background: Handwashing is an simple and effective way in preventing nosocomial infections,
simultaneously is an essential way to maintain safety for healthcare workers in treating and nursing practices
* Bệnh viện Bình Dân
Tác giả liên lạc: PGS.TS.BS Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng ĐT: 0913719346 Email:npcamhoang@gmail.com
Trang 2Good compliance with handwashing contributes in reducing and preventing nosocomial infections, reducing costs and mortality rate in patients
- Objective: Initially assess compliance with handwashing of healthcare workers at clinical department at
Binh Dan Hospital in 2017, through this result, we aim to set up strategies to strengthen handwashing in hospital
Method: Observational study of compliance with handwashing at five moments of hand hygiene of WHO,
this study is conducted at 12 clinical departments from July 1, 2017 to October 31, 2017
Results: The overall opportunity observed is 7533 Hand hygiene compliance rate is 76.5% Healthcare
workers preferred hand hygiene with alcohol-based solution to that with water and soap (95.9% compared with 4.1%) All departments had high hand hygiene rates (above 50%), Departments: Urology C, Intensive Care Unit and Urology A had the highest hand hygiene compliance rates (94.0%, 83.5% and 81.2% respectively) Department Urology B and General 1 had the lowest compliance rates with 62.6% and 64.8%, respectively The compliance rates differ among clinical departments, the highest rates are seen in Recovery and Urology Departments There were significant differences in compliance rates among healthcare workers: Nurses and Midwives had higher compliance rates (83.2% and 63.3% respectively) than Students and Doctors did There were significant differences in compliance rates among 5 moments of hand hygiene: the compliance rates were highest in two moments: after exposing to blood and body fluids and after touching a patient (91.0% and 79.8% respectively); the lowest compliance rates were in two moments: before touching a patient and before clean/aseptic procedure (63.6% and 73.7% respectively)
Conclusion: Good compliance with handwashing is not an easy task in overload and high pressure hospitals
However, we have to do combination of tasks: communicating, checking and surveying to strengthen handwashing program in caring patients; these tasks contribute in increasing the awareness of healthcare workers about preventing and controlling nosocomial infections and increasing patient care quality
Key words: Compliance with handwashing, healthcare workers
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bàn tay là phương tiện quan trọng làm lan
truyền nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) Vệ
sinh tay (VST) loại bỏ hầu hết vi sinh vật
(VSV) có ở bàn tay, do đó, có tác dụng ngăn
ngừa lan truyền mầm bệnh từ người bệnh này
sang người bệnh khác, từ người bệnh sang
dụng cụ và nhân viên y tế (NVYT), từ vị trí
này sang vị trí khác trên cùng một người bệnh
và từ NVYT sang người bệnh VST là biện
pháp đơn giản và hiệu quả trong phòng ngừa
NKBV, đồng thời cũng là biện pháp hữu ích
nhằm đảm bảo an toàn cho NVYT trong thực
hành chăm sóc và điều trị người bệnh
VST làm giảm NKBV ở người bệnh và
NVYT Nghiên cứu can thiệp điển hình của
Semmelweis thực hiện năm 1847 cho thấy tỷ lệ
tử vong ở sản phụ giảm từ 18% xuống 5% sau ít
tháng triển khai khử khuẩn tay bắt buộc bằng dung dịch chloride
Gần đây, một loạt nghiên cứu tại những khu vực lâm sàng khác nhau nhằm đánh giá hiệu quả làm phòng ngừa NKBV của rửa tay bằng xà phòng thường so với một số phương pháp VST bằng dung dịch khử khuẩn Kết quả thu được: tỷ lệ NKBV giảm khi NVYT thực hiện VST khử khuẩn giữa các lần tiếp xúc người bệnh, đặc biệt ở những khu vực có nhiều thủ thuật xâm nhập như cấp cứu, hồi sức tích cực, ngoại khoa, nhi khoa Những nghiên cứu này còn khẳng định: rửa tay bằng dung dịch khử khuẩn làm giảm NKBV nhiều hơn rửa tay bằng xà phòng thường, NKBV do
MRSA giảm khi chuyển từ VST bằng xà phòng
thường sang VST bằng xà phòng khử khuẩn, tăng tần suất VST ở NVYT làm giảm lan
truyền Klebsiella spp ở người bệnh Nhìn
Trang 3chung, thực hiện tốt VST giúp làm giảm 30% -
50% NKBV(2)
Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ
tuân thủ VST ở NVYT thay đổi từ 5% - 81%, tính
chung: 40,5%(1) Tỷ lệ tuân thủ VST không đồng
nhất giữa các khu vực lâm sàng, khu vực hồi sức
cấp cứu thường cao hơn các khu vực khác, tỷ lệ
tuân thủ VST ở bác sỹ thấp hơn các nhóm NVYT
khác(1)
Tuân thủ VST trong các cơ sở y tế ở nước ta
hiện nay chưa tốt Khảo sát tại 10 bệnh viện phía
Bắc năm 2005 cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST ở
NVYT là 13,4%(7) Trong những năm gần đây, tỷ
lệ tuân thủ VST ở các cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh đã cải thiện đáng kể
Nhiều nghiên cứu được thực hiện tại một số
bệnh viện trong nước, cho thấy tỷ lệ vệ sinh tay
khá dao động: Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2010 là
25,7%; Bệnh viện Nhi đồng 2 năm 2013 là 55,3%;
Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2011 là
58,6%(3,4,5)
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ VST
ở NVYT gồm thiếu phương tiện, thiếu kiến thức,
thiếu kiểm tra giám sát và thiếu biện pháp tạo
dựng thói quen VST(1)
Vệ sinh tay tại bệnh viện Bình Dân
Tại bệnh viện Bình Dân, khi chương trình vệ
sinh tay được phát động năm 2007 Kể từ đó,
chương trình vệ sinh tay liên tục được phát động
và thực hiện trong phạm vi toàn bệnh viện Bên
cạnh việc tuyên truyền, phát động; vấn đề giám
sát tuân thủ vệ sinh cũng đã được thực hiện để
đánh giá kết quả chương trình, cũng như đánh
giá ý thức của NVYT và là cơ sở để đẩy mạnh,
phát huy chương trình này
Thời gian qua, Khoa Kiểm soát Nhiễm
khuẩn thực hiện đánh giá tuân thủ vệ sinh tay
của tất cả các đối tượng NVYT tại 5 khoa trọng
điểm: Niệu A, Niệu B, Tổng quát 1, Tổng quát 2,
Tổng quát 3 Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay
chưa cao, kỹ thuật vệ sinh tay có những lúc chưa
đúng, công tác giám sát chưa mở rộng ra toàn
bệnh viện
Để khảo sát thực trạng vệ sinh tay trong toàn bệnh viện, phát hiện những vấn đề đưa đến sự tuân thủ vệ sinh tay chưa tốt, qua đó xây dựng chương trình cải thiện vệ sinh tay trong bệnh viện; chúng tôi thực hiện đề tài:
Khảo sát thực trạng tuân thủ vệ sinh tay tại bệnh viện Bình Dân
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung
Đánh giá sự tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại Bệnh viện Bình Dân trong năm 2017
Mục tiêu cụ thể
Xác định tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế trong bệnh viện
Phân bố sự tuân thủ vệ sinh tay theo khoa lâm sàng, đối tượng và theo 5 thời điểm khuyến cáo vệ sinh tay của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Xác định yếu tố làm ảnh hưởng đến sự tuân thủ vệ sinh tay: nghề nghiệp, khoa lâm sàng
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Bác sĩ, Điều dưỡng, Hộ lý, Kỹ thuật viên, Học sinh – Sinh viên, nhân viên khác đang công tác tại các khoa lâm sàng tại bệnh viện Bình Dân
Phương pháp nghiên cứu
Cắt ngang mô tả
Tiêu chí chọn vào nghiên cứu
Nhân viên y tế có tiếp xúc với người bệnh tại
5 thời điểm được WHO khuyến cáo vệ sinh tay Theo WHO có 5 cơ hội VST cần phải được
thực hiện với NVYT:
Trước khi tiếp xúc với người bệnh
Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn
Sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết Sau khi tiếp xúc với bệnh nhân
Sau khi tiếp xúc với đồ dùng, bề mặt vùng xung quanh bệnh nhân
Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Thời gian: từ ngày 01/07/2017 đến hết ngày
Trang 431/10/2017
Địa điểm: 12 khoa lâm sàng của bệnh viện
Bình Dân
Phương pháp thực hiện
Việc tuân thủ VST được đánh giá bằng
phương pháp quan sát không tham gia và điền
vào bảng kiểm theo mẫu của WHO các cơ hội
VST của NVYT Nhóm quan sát viên gồm 3
NVYT thuộc khoa KSNK của bệnh viện, là
những người có kinh nghiệm trong việc giám sát
tuân thủ VST, là người có kinh nghiệm nên biết
rõ họ đang quan sát ai Trước khi quan sát, nhóm
quan sát viên được tập huấn để thống nhất cách
quan sát, cách điền bảng kiểm và đặc biệt là đảm
bảo tính khách quan trong quá trình quan sát
Các quan sát viên dùng bảng kiểm quan sát,
trong bảng kiểm ghi rõ 5 thời điểm NVYT cần
VST khi điều trị và chăm sóc bệnh nhân
Việc xác định cơ hội VST được trình bày (Ví
dụ: trước khi điều dưỡng thực hiện thay băng
vết mổ cho bệnh nhân thì điều dưỡng phải vệ
sinh tay thường quy (VSTTQ) với nước và xà
phòng hoặc dung dịch sát khuẩn tay nhanh có
chứa cồn do đó trường hợp này được đánh dấu
vào dòng thứ 2 Hoặc sau khi 1 bác sĩ thăm khám
bụng cho bệnh nhân thì cũng phải VSTTQ do đó
trường hợp này được đánh dấu vào dòng thứ 2)
Nhóm quan sát viên tách nhau để đi các
Khoa quan sát ngẫu nhiên, chọn vị trí quan sát
thích hợp để không gây sự chú ý của NVYT
được quan sát, không để NVYT biết mình đang
bị quan sát, nhưng vẫn đảm bảo quan sát được
đầy đủ các hoạt động mà NVYT thực hiện khi
chăm sóc và điều trị bệnh nhân
Mỗi khoa được quan sát trong thời gian 45 –
60 phút/mỗi ngày, phân chia theo từng khu vực
trong khoa; mỗi NVYT được quan sát có ít nhất
02 cơ hội cần VST được quan sát Trong cùng
một khoảng thời gian đó, nếu điều kiện quan sát
đảm bảo, quan sát viên có thể quan sát tối đa 2
NVYT
Công cụ thu thập số liệu
Bảng kiểm quan sát thực hành được xây dựng dựa trên bộ công cụ và cách tiến hành đánh giá tuân thủ VST của WHO Trong đó có
5 thời điểm cần rửa tay khi điều trị và chăm sóc bệnh nhân để quan sát NVYT có tuân thủ VST tại thời điểm đó hay không và đánh dấu vào phiếu
Định nghĩa biến số
Thực hành tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế: Số cơ hội vệ sinh tay quan sát được: là
số cơ hội cần thực hiện VST được quan sát trong tổng số 5 cơ hội cần VST Đây là biến số rời rạc
Số cơ hội có vệ sinh tay: Là số cơ hội NVYT
có thực hiện VST trong thời gian quan sát Đây là biến số rời rạc
Tỷ lệ % tuân thủ VST: Số cơ hội có VST của NVYT trong thời gian quan sát/ Tổng số cơ hội VST được quan sát của NVYT trong thời gian quan sát) × 100% Đây là biến số rời rạc
Phương pháp đánh giá
Đánh giá thực hành VST theo số cơ hội VST của NVYT được thực hiện bằng phương pháp quan sát không tham gia với bảng kiểm theo mẫu của WHO Nghiên cứu chỉ đánh giá NVYT
có thực hành VST là đạt (tức có tuân thủ VST) khi có VST với nước và xà phòng hoặc với cồn/ dung dịch VST có chứa cồn ở tất cả các cơ hội VST được quan sát Nghiên cứu này không đánh giá thực hành tuân thủ thực hiện đúng, đủ 6 bước của quy trình VST và thời gian phù hợp
cho mỗi lần VST
Các khái niệm dùng trong nghiên cứu
Tuân thủ vệ sinh tay thường quy trong nghiên cứu bao gồm: Có VST khi có cơ hội phải VST và phải VST với nước và xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn có chứa cồn
Cơ hội VST: theo WHO, cơ hội VST là “Một thời điểm khi có nguy cơ lây truyền mầm bệnh thực tế hoặc tiềm tàng từ một bề mặt (hoặc bệnh nhân) này tới bề mặt (hoặc bệnh nhân khác) thông qua bàn tay”
Theo WHO có 5 cơ hội VST cần phải được
Trang 5thực hiện với NVYT:
Trước khi tiếp xúc với người bệnh
Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn
Sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết
Sau khi tiếp xúc với bệnh nhân
Sau khi tiếp xúc với đồ dùng, bề mặt vùng
xung quanh bệnh nhân
Đánh giá tuân thủ VST trong nghiên cứu
được đánh giá theo cơ hội VST và thực hành
VST của NVYT
Tỷ lệ % tuân thủ VST = (Số cơ hội có VST của
NVYT trong thời gian quan sát/tổng số cơ hội
VST được quan sát của NVYT trong thời gian
quan sát) × 100%
Tỷ lệ tuân thủ được tính cho từng nhóm đối
tượng nhân viên y tế, theo khoa phòng, theo 5
thời điểm vệ sinh tay của WHO
Phương pháp xử lý dữ liệu
Nhập liệu và xử lý số liệu bằng phần mềm
Microsoft Excel 2007
KẾT QUẢ
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Có 7533 cơ hội được quan sát tại 12 khoa lâm
sàng trong suốt quá trình nghiên cứu
Sự tuân thủ vệ sinh tay
Trong 7533 cơ hội bắt buộc phải vệ sinh tay,
có 5767 cơ hội NVYT có tuân thủ vệ sinh tay
(76,5%)
Tỷ lệ này cao hơn một số bệnh viện: Bệnh
viện Chợ Rẫy năm 2010 là 25,7%; Bệnh viện Nhi
đồng 2 năm 2013 là 55,3%; Bệnh viện Nhi Trung
ương năm 2011 là 58,6%, bệnh viện Nhi đồng 1
năm 2012 là 62%(3,4,5,6)
Phân bố sự tuân thủ rửa tay ở nhân viên y tế
Bảng 1 Phân bố loại vệ sinh tay của nhân viên y tế
STT Loại vệ sinh tay Số lượng Tỷ lệ (%)
1 Vệ sinh tay với cồn 5528 95,9
2 Vệ sinh tay với xà phòng – nước 239 4,1
Nhận xét: Có sự khác biệt trong chọn lựa kỹ
thuật rửa tay Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
vệ sinh tay với xà phòng - nước có tỷ lệ thấp hơn
vệ sinh tay với cồn (4,1% so với 95,9%)
Điều này cũng phù hợp với các khuyến cáo của WHO và các nghiên cứu khác
Vệ sinh tay với cồn hay còn gọi là sát trùng tay nhanh với cồn giúp cho thao tác vệ sinh tay nhanh hơn, dễ dàng thực hiện mọi nơi và không cần có hệ thống bồn rửa tay, nước, thuận tiện khi làm việc và ít khô tay
Mối liên quan giữa cơ hội vệ sinh tay và các yếu tố chi phối sự tuân thủ vệ sinh tay
Tuân thủ vệ sinh tay và các khoa lâm sàng
Bảng 2 Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay theo khoa
1 Hồi sức cấp cứu 503 78,2 140 21,8
2 Hồi sức tích cực & Chống
độc
314 83,5 62 16,5
3 Niệu A 1291 81,2 299 18,8
4 Niệu B 533 62,6 319 37,4
5 Niệu C 531 94,0 34 6,0
6 Nam học 252 79,5 65 20,5
7 Nội thận – Lọc máu 185 79,4 48 20,6
8 Nội tổng hợp – Ung bướu 258 75,4 84 24,6
9 Tổng quát 1 387 64,8 210 35,2
10 Tổng quát 2 668 73,1 246 26,9
11 Tổng quát 3 524 76,2 164 23,8
12 Tổng quát 4 321 77,2 95 22,8
Tổng 5767 76,5 1766 23,5
Nhận xét: 12 khoa lâm sàng có tỷ lệ tuân thủ
chung là 76,5%
Tất cả các khoa đều có tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay trên 50%, trong đó 3 khoa có tỷ lệ tuân thủ cao nhất là Niệu C (94,0%), Hồi sức Tích cực & Chống độc (83,5%) và Niệu A (81,2%)
Tỷ lệ tuân thủ thấp nhất là khoa Niệu B (62,6%) và khoa Tổng quát 1 (64,8%)
Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay giữa các khoa không đồng đều, tập trung cao ở các khoa thuộc khối Hồi sức và khối Niệu
Tuy nhiên, các khoa cần xem lại công tác huấn luyện và đào tạo nhân viên y tế, nhắc nhở
Trang 6tuân thủ vệ sinh tay và thực hiện kiểm tra, giám
sát, đánh giá thường xuyên
Tuân thủ vệ sinh tay và các đối tượng nhân
viên y tế
Bảng 3 Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay theo từng nhóm
đối tượng
STT Đối tượng
Có rửa tay Không rửa
tay Kiểm định
χ2
1 Bác sĩ 310 39,3 478 60,7
p < 0,00001
2 Điều dưỡng 5089 83,2 1025 16,8
3 Hộ lý 119 63,3 69 36,7
4 Học sinh –
Sinh viên
249 56,2 194 43,8
Nhận xét: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
về tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay giữa các nhóm đối
tượng nhân viên y tế
Điều dưỡng có tỷ lệ tuân thủ vệ sinh thay
cao nhất (83,2%) sau đó là hộ lý (63,3%), học sinh
– sinh viên (56,2%)
Bác sĩ có tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thấp nhất
(39,3%)
Điều này có thể được giải thích do: điều
dưỡng là đối tượng tiếp xúc nhiều nhất với
người bệnh; đồng thời đây cũng là đối tượng
thường xuyên được kiểm tra, giám sát, nhắc nhở
nên tỷ lệ tuân thủ cao hơn các đối tượng khác Đây là vấn đề cần chú ý trong quá trình tập huấn, đào tạo; cần tuyên truyền cho các bác sĩ về vai trò quan trọng của vệ sinh tay và nâng cao vai trò của bác sĩ trong tuân thủ vệ sinh tay khi thăm khám bệnh hàng ngày
Tuân thủ vệ sinh tay và 5 thời điểm khuyến cáo vệ sinh tay của WHO
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay giữa 5 thời điểm khuyến cáo
vệ sinh tay của WHO
Thời điểm sau phơi nhiễm với máu và dịch
cơ thể có tỷ lệ tuân thủ cao nhất (91,0%); sau đó
là thời điểm sau khi tiếp xúc người bệnh (79,8%)
và sau khi tiếp xúc môi trường xung quanh người bệnh (76,3%)
Hai thời điểm trước khi tiến hành thủ thuật
vô khuẩn và trước khi tiếp xúc người bệnh có tỷ
lệ tuân thủ thấp nhất (lần lượt là 76,3% và 63,6%)
Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu của Bệnh viện Chợ Rẫy (2010), Bệnh viện Nhi đồng 1 (2012) và Bệnh viện Nhi đồng 2 (2013)(4,5,6)
Bảng 4 Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay theo 5 thời điểm khuyến cáo vệ sinh tay của WHO
Kiểm định χ2
1 Trước khi tiếp xúc người bệnh 991 63,6 568 36,4
p < 0,00001
2 Trước khi thực hiện thủ thuật vô khuẩn 1154 73,7 412 26,3
3 Sau khi phơi nhiễm máu, dịch cơ thể 1117 91,0 111 9,0
4 Sau khi tiếp xúc người bệnh 1786 79,8 452 20,2
5 Sau khi tiếp xúc môi trường xung quanh người bệnh 719 76,3 223 23,7
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 7533 cơ hội cần phải vệ sinh
tay tại 12 khoa lâm sàng từ ngày 01/07/2017 đến
hết ngày 31/10/2017, chúng tôi rút ra một số kết
luận như sau:
Việc tuân thủ rửa tay của NVYT khi có cơ
hội trong chăm sóc người bệnh còn chưa cao
(76,5%)
Vệ sinh tay với cồn (95,9%) chiếm ưu thế hơn
so với vệ sinh tay với xà phòng – nước (4,1%)
Có sự phân bố không đồng đều tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay theo các khoa (tỷ lệ tuân thủ dao động từ 62,6 – 94%), tất cả các khoa đều có tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay cao trên 50%
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ
lệ tuân thủ giữa các đối tượng nhân viên y tế: cao nhất Điều dưỡng (83,2%) và Hộ lý (63,3%),
Trang 7thấp nhất ở học sinh – sinh viên (56,2%) và
Bác sĩ (39,3%)
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ
tuân thủ giữa các thời điểm khuyến cáo cần vệ
sinh tay của WHO: cao nhất ở thời điểm sau khi
phơi nhiễm máu, dịch tiết cơ thể (91,0%) và sau
khi tiếp xúc người bệnh (79,8%); thấp nhất ở thời
điểm trước khi tiếp xúc người bệnh (63,6%) và
trước khi tiến hành thủ thuật vô khuẩn (73,7%)
KIẾN NGHỊ
Kết quả của nghiên cứu cho thấy việc tuân
thủ vệ sinh tay tại các khoa lâm sàng tại bệnh
viện Bình Dân được thực hiện khá tốt, đồng thời
kết quả này cũng gợi ý chương trình vệ sinh tay
của bệnh viện cần tập trung vào những đối
tượng, những khoa, những thời điểm chưa có sự
tuân thủ vệ sinh tay tốt Từ đó, chúng tôi đưa ra
một số kiến nghị như sau:
Cung cấp đầy đủ và sẵn sàng các chai dung
dịch rửa tay nhanh chất lượng tốt tại hành lang
các khoa, phòng, trong phòng bệnh nhân và tại
mỗi giường của bệnh nhân (đối với khoa hồi sức
cấp cứu tích cực)
Đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn vệ sinh
tay thông qua poster, hướng dẫn và screensaver
Tổ chức huấn luyện về vệ sinh tay cho nhân
viên y tế 2 lần/ năm: đặc biệt huấn luyện cho đối
tượng bác sĩ và học sinh – sinh viên đến học và
thực tập tại bệnh viện Bên cạnh đó cần đưa vấn
đề tuân thủ vệ sinh tay vào thi đua khen thưởng
của bệnh viện nhằm nâng cao tỷ lệ tuân thủ
Tăng cường giám sát vệ sinh tay ở tất cả các
khoa trong bệnh viện
Nâng cao kỹ năng của nhân viên giám sát
thông qua huấn luyện đào tạo
Có biện pháp khen thưởng, động viên kịp thời đối với những cá nhân, tập thể khoa thực hiện tốt vấn đề vệ sinh tay; đồng thời, có các biện pháp chế tài thích hợp đối với các cá nhân, tập thể chưa thực hiện tốt chương trình vệ sinh tay trong bệnh viện
Các kết quả tuân thủ vệ sinh tay được báo cáo lên Hội đồng Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, Ban Giám đốc và các khoa phòng được giám sát để kịp thời điều chỉnh và đưa ra các biện pháp can thiệp thích hợp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Boyce JM, Pittet D (2002) Guideline for hand hygiene in Health-care settings, Recommendations of the Healthcare Infection Control Practices Advisory Committee and the HICPAC/SHEA/APIC/IDSA Hand Hygiene Task Force
MMWR Recomm Rep.51(RR-16):1-45
2 Kampf G, Löffler H, Gastmeier P (2009) Hand Hygiene for the Prevention of Nosocomial Infections Dtsch Arztebl Int 106(40): pp 649–655
3 Lê Kiến Ngãi, Lục Thị Thu Quỳnh và cs (2011) Hiệu quả của các chương trình thúc đẩy tuân thủ vệ sinh tay tại Bệnh viện
Nhi Trung ương Tạp chí nghiên cứu y học lâm sàng, Bệnh viện
Trung ương Huế, 8(6), tr 74 – 79
4 Lê Thị Anh Thư, Đặng Thị Vân Trang (2010) Tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế theo 5 thời điểm của Tổ chức Y tế
thế giới, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 14(2): tr 436-439
5 Nguyễn Thị Kim Liên và cộng sự (2013) Đánh giá thực hành rửa tay của nhân viên y tế bệnh viện Nhi đồng 2, 16(2):tr
128-131
6 Nguyễn Thị Thanh Hà và cộng sự (2012) Đánh giá sự tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng bệnh
viện Nhi đồng 1, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2):tr
128-131
7 Nguyễn Việt Hùng, Lê Thị Thanh Thủy và cộng sự (2005), Thực trạng phương tiện vệ sinh bàn tay, nhận thức và thực hành vệ sinh bàn tay của Nhân viên y tế tại một số bệnh viện
khu vực phía Bắc, Tạp chí y học lâm sàng bệnh viện Bạch Mai, tr
136-141
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 06/01/2018 Ngày bài báo được đăng: 25/03/2018