1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh tình trạng tiêu chảy ở bệnh nhân nặng kém dung nạp lactose khi nuôi qua sonde bằng sữa đậu nành bổ sung sữa bột nguyên kem, probiotics với sữa chuẩn Isocal

7 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 326,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc so sánh tình trạng tiêu chảy ở bệnh nhân nặng kém dung nạp lactose khi nuôi qua sonde bằng sữa đậu nành bổ sung sữa bột nguyên kem và probiotic với sữa chuẩn Isocal.

Trang 1

SO SÁNH TÌNH TRẠNG TIÊU CHẢY Ở BỆNH NHÂN NẶNG KÉM DUNG NẠP LACTOSE KHI NUÔI QUA SONDE BẰNG SỮA ĐẬU NÀNH BỔ SUNG SỮA BỘT NGUYÊN KEM, PROBIOTICS VỚI SỮA CHUẨN ISOCAL

Tạ Thị Tuyết Mai*, Nghiêm Nguyệt Thu**

TÓM TẮT

Mục tiêu: So sánh tình trạng tiêu chảy ở bệnh nhân nặng kém dung nạp lactose khi nuôi qua sonde bằng sữa

đậu nành bổ sung sữa bột nguyên kem và probiotic với sữa chuẩn Isocal

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: So sánh tình trạng tiêu chảy ở bệnh nhân nặng kém dung nạp

lactose khi nuôi qua sonde bằng sữa đậu nành bổ sung sữa bột nguyên kem và probiotic (nhóm 1, 3) với sữa chuẩn Isocal (nhóm 2) bằng chỉ số Whelan và tần suất phải ngưng nuôi ăn vì tiêu chảy trên 189 bệnh nhân nặng kém dung nạp lactose

Kết quả: Tình trạng đi tiêu đánh giá bằng chỉ số Whelan của 3 nhóm tương đương nhau, nhóm 1 là

5,2±0,7, nhóm 2 là 5,7±0,8 và nhóm 3 là 5,8±0,8, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm Tần suất tiêu chảy nhóm 1 và 3, nhóm bệnh nhân được nuôi bằng sữa đậu nành bổ sung sữa bột nguyên kem và probiotic là 12,7% thấp hơn nhóm 2, bệnh nhân được nuôi bằng Isocal, 19%, nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Kết luận: Tình trạng tiêu chảy ở bệnh nhân được nuôi bằng sữa đậu nành bổ sung sữa bột nguyên kem và

probiotic không khác với bệnh nhân được nuôi bằng sữa cao năng lượng chuẩn là Isocal

Từ khóa: Nuôi ăn qua ống thông, kém dung nạp lactose, bệnh nhân nặng, tiêu chảy, Whelan, dung dịch nuôi

ăn qua ống thông, probiotics, sữa đậu nành, sữa bột nguyên kem

ABSTRACT

COMPARE THE DIARRHEA STATUS OF CRITICAL ILL PATIENTS FED SOY MILK

SUPPLEMENTED WITH FULL CREAM MILK POWDER AND PROBIOTICS AGAINST OF CRITICAL

ILL PATIENTS FED ISOCAL

Ta Thi Tuyet Mai, Nghiem Nguyet Thu

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 6 - 2016: 249 - 255

Objective: The aim of this study was to Compare the diarrhea status of critical ill patients fed formula 1 and

formula 2 against of critical ill patients fed Isocal

Materials and methods: Review the status of diarrhea by Whelan score and the frequency of lactose

intolerance critical ill patients have to stop feeding because of diarrhea during 14 day- trial

Results: There was no difference in mean of Whelan value from 3 groups These were 5,2±0,7 from group 1;

5,7±0,8 from group 2 và 5,8±0,8 from group 3 Frequency of diarrhea patients, whose fed formula 1 and 3 lower than of patients fed Isocal, 12,7% and 19%, but was not difference in statistic

Conclusion: The frequency of patients with diarrhea and mean of Whelan’s patients fed formula 1 and 2 did

not differ from of patients fed Isocal

Keys words: diarrhea, Whelan, lactose intolerance, Critical ill patients, probiotics, enteral feeding, enteral feeding fomula,

probiotics, soymilk, full cream milk

* Bệnh viện Nhân Dân Gia Định ** Viện Dinh dưỡng

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiêu chảy là một mối quan tâm lớn khi nuôi

ăn qua sonde và có thể xảy ra từ 2 đến 95% bệnh

nhân(31) Nó có thể dẫn đến một số hệ quả xấu

trên lâm sàng bao gồm rối loạn nước điện giải,

và loét tỳ đè Điều này có thể dẫn đến thất bại

của dinh dưỡng qua đường ruột, có thể làm suy

dinh dưỡng nặng hơn và hậu quả là gia tăng tỷ

lệ biến chứng và tử vong, tăng thời gian nằm

viện và dĩ nhiên tăng chi phí điều trị Quan trọng

hơn, tiêu chảy cũng là gánh nặng tâm, sinh lý

cho cả bệnh nhân và người chăm sóc(21) Nghiên

cứu gần đây cho thấy nguyên nhân tiêu chảy có

thể là tác động của bệnh nền, kháng sinh, và

thành phần sữa như thiếu chất xơ, sự hiện diện

của các hợp chất lên men khó hấp thụ hay

đường lactose ở người thiếu men lactase(28)

Xơ có tác dụng phòng ngừa tiêu chảy ở bệnh

nhân nuôi ăn qua sonde Xơ lên men, sản xuất

các axit béo chuỗi ngắn (SCFAs) giúp ngưng quá

trình bài tiết nước bất thường ở đại tràng khi

nuôi qua sonde(8) và một số chất xơ có thể làm

thay đổi hoạt động của đại tràng(25) Ngoài ra,

prebiotics và probiotics có thể ngăn chặn xâm

nhập của vi khuẩn gây bệnh, làm thay đổi quá

trình lên men ruột, điều hòa chức năng miễn

dịch và, do đó, giảm thiểu nguy cơ tiêu chảy do

kháng sinh và Clostridium difficile Chất xơ có thể

giúp ngừa tiêu chảy do giảm thời gian trống dạ

dày, cải thiện chức năng hàng rào máu ruột, tăng

lượng tái tạo tế bào biểu mô, và tăng hấp thu

nước và điện giải ở đại tràng (Elia 2008) Hỗn

hợp gồm xơ hòa tan và không hòa tan giúp làm

tăng nồng độ acid béo chuổi ngắn trong phân ở

bệnh nhân người lớn nuôi ăn qua sonde

1500 ml sữa đậu nành bổ sung sữa bột

nguyên kem và probiotic đáp ứng nhu cầu

nuôi dưỡng cho bệnh nhân nặng(20), có chứa

62-75g đường lactose(20) đồng thời cũng có

chứa xơ tan và Lactobacillus acidophilus,

Bifidobacterium longum, Streptococcus faecalis(20)

có hiệu quả nuôi dưỡng tốt hơn Isocal và

không gây tiêu chảy ở chuột suy dinh

dưỡng(20) Vậy tình trạng tiêu chảy ở bệnh nhân nặng kém dung nạp lactose khi được nuôi bằng dung dịch sữa này có xấu hơn khi nuôi bằng Isocal là câu hỏi của nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

So sánh tình trạng tiêu chảy ở bệnh nhân nặng kém dung nạp lactose khi nuôi qua sonde bằng sữa đậu nành bổ sung sữa bột nguyên kem công thức 1, công thức 2 và probiotic với sữa

chuẩn Isocal

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng Cả bệnh nhân và bác sĩ điều trị chỉ được biết sẽ được nuôi/ nuôi bằng 1 trong 3 loại sữa, nhưng không biết cụ thể là loại nào Chai sữa hoàn toàn giống nhau, màu trắng và được đánh số theo nhóm Chỉ có nhóm pha chế mới biết công thức pha, nhóm này không tiếp xúc với bệnh nhân và bác

sĩ điều trị

Nhóm can thiệp: gồm 2 nhóm, nhóm 1: được

nuôi dưỡng bằng sữa công thức 1, nhóm 3: được

nuôi dưỡng bằng sữa công thức 2 Nhóm chứng,

nhóm 2, được nuôi bằng Isocal (không có đường lactose, không có mỡ sữa và không có probiotic)

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn nhận

Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên đạt tiêu chuẩn nhập ICU theo Task Force 1999(24) và APACHE II

< 25(18) Có kết quả C/T-13910 thuộc nhóm không

có men Lactase (CC) trong nghiên cứu 1.Có thể bắt đầu nuôi ăn tiêu hóa trong vòng 48 giờ sau nhập ICU và có thể nuôi ăn được hơn 48 giờ Nuôi ăn hoàn toàn bằng đường tiêu hóa Chỉ số kém hấp thu  7(12), vì sữa là đạm nguyên (không phải đạm thủy phân) chỉ phù hợp cho bệnh nhân có chỉ số kém hấp thu  7 Đo được chiều dài nằm, vì đây cơ sở để tính toán nhu cầu cũng như lượng sữa để nuôi dưỡng bệnh nhân

Tiêu chuẩn loại

Có khả năng không nằm tại ICU > 24 giờ do

Trang 3

tử vong, xuất viện hay chuyển trại Có tiêu chảy

trong vòng 24 giờ trước khi vào lô nghiên cứu

Chống chỉ định nuôi bằng đường tiêu hóa (huyết

áp trung bình <60mm Hg, lactate >2,5mmol/l,

kiềm dư >2,5mmol/l, nhịp tim >120 lần/phút,

đang dùng vận mạch liều adrenalin,

noradrenalin > 5g/phút, dopamine >

10g/kg/phút, vasopressin >0,01đơn vị /phút,

xuất huyết tiêu hóa ồ ạt, tắt ruột) Chấn thương

sọ não nặng cần phẩu thuật Bệnh mãn tính như

xơ gan Child C(10), suy thận mãn giai đoạn cuối(1),

HIV, suy tim mãn(22), viêm tụy cấp hoại tử tiên

lượng diễn tiến nặng, nhiễm khuẩn huyết…Có

thai Quá suy dinh dưỡng BMI < 16 (vòng cánh

tay < 20.5 cm) hay béo phì BMI > 30 (vòng cánh

tay > 35,5 cm) Có kết quả C/T-13910 thuộc nhóm

có men Lactase (CT, TT) Không lấy được máu

để thực hiện xét nghiệm lần 2

Tiêu chuẩn thất bại

Sau nuôi ăn 3 giờ có tình trạng tiêu chảy

được xác định bằng phương pháp Whelan và

Taylor(33), với chỉ số đánh giá ≥ 15 (tổng số lần đi

trong ngày) và ngưng tiêu chảy khi ngưng nuôi

ăn và chuyển sang chế độ ăn khác

Cỡ mẫu

Cỡ mẫu được tính bằng t test(30) với n=63 cho

mỗi nhóm

Kỹ thuật chọn mẫu

Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nhận được chọn

ngẫu nhiên vào 1 trong 3 nhóm nghiên cứu bằng

cách bốc thăm Thùng phiếu là thùng kín, gồm

có 189 phiếu Trên phiếu có đánh số đại diện cho

mỗi nhóm là nhóm 1, nhóm 2 và nhóm 3 Có 63

phiếu cho mỗi nhóm Các phiếu được trộn đều

Nhóm nghiên cứu ở hồi sức cấp cứu sẽ hoàn

toàn không biết nội dung nuôi dưỡng của mỗi

nhóm và sẽ báo chế độ nuôi dưỡng xuống khoa

dinh dưỡng theo số trên phiếu đã bắt được Tại

khoa dinh dưỡng chỉ có người pha chế được biết

công thức pha cho từng nhóm Nhóm 1, sữa

công thức 1; nhóm 2, Isocal; nhóm 3, sữa công

thức 2

Biến số thu thập

Tình trạng tiêu chảy

Được xác định bằng phương pháp Whelan

và Taylor(33), với chỉ số đánh giá ≥15 (tổng số lần

đi trong ngày) xem là có tiêu chảy Với cách tính

điểm như sau:

Phân cứng, khuôn có lượng phân <100g là 1 điểm; 100-200g là 2 điểm; >200g là 3 điểm

Phân mềm, khuôn có lượng phân <100g là 2 điểm; 100-200g là 3 điểm; >200g là 4 điểm

Phân lỏng, mất khuôn có lượng phân <100g

là 4 điểm; 100-200g là 6 điểm; >200g là 8 điểm Phân nước có lượng phân <100g là 8 điểm; 100-200g là 10 điểm; >200g là 12 điểm

Thực phẩm nuôi

Sữa nhóm 1 và 3: được pha chế từ sữa đậu nành giàu đạm không đường Gold-soy của công

ty cổ phần sữa Việt Nam-Vinamilk; sữa bột nguyên kem; Whey demin 40%; Milk protein concentrate 70 của công ty cổ phần Đại Tân Việt; Vana-Blanca 35C Non-dairy creamer; Vana-Sana MCT; Frutafit, Fructose Oligo Saccharide của công ty Specialty Ingredient Management LLC; Zincelen có 1250 IU vitamin A, 150 mg vitamin

C, 100 mg vitamin E, 25 µg selenium, 5 mg kẽm nguyên tố; Fogyma-Plus có 50 mg sắt III hydroxide, 500 µg sinh tố B9 (acid folic), 0,5 µg sinh tố B12 của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Dược phẩm Trung Ương 1;

Lactobamin, gồm có 3 chủng Lactobacillus acidophilus, Bifidobacterium longum, Streptococcus faecalis có hàm lượng vi khuẩn là 300 triệu hay

3108/gói được sản xuất tại nhà máy Sanford Pharma USA

Sữa nhóm 2-Isocal: công ty TNHH Neslé Việt nam

Cách pha chế để bảo toàn tác dụng của probiotics

Chỉ cho lactobamin vào chai sữa ở nhiệt độ

37 C Nước pha sữa có tỷ lệ nước nóng và nước nguội là 1:2 Đóng nút chai ngay trước khi chuyển lên trại để tránh sự tiếp xúc của vi

Trang 4

khuẩn và không khí (vi khẩn sẽ chết nhanh

khi tiếp xúc ô-xy)

Quy trình pha chế và bảo quản để bảo đảm vệ

sinh an toàn thực phẩm

Bảo quản sữa bột, đạm whey, MCT, Vana,

Frutafit: chia thành mỗi gói sữa bột 500g và đạm

Whey 100g, MCT, Vana, Frutafit đóng hút chân

không, giữ ở nhiệt độ 20C

Dụng cụ pha sữa và chai đựng sữa phải được

làm sạch theo quy trình như sau

Tráng bình qua vòi nước sạch 1 lần, ngâm xà

phòng 1% 20 phút (20 lít nước + 200 ml xà

phòng) Dùng cọ hoặc chùi xoong rửa sạch mặt

trong và ngoài dụng cụ, rửa sạch dưới vòi nước sạch Ngâm Presept 1 giờ (1 viên 5g pha 20 lít nước), rửa sạch dưới vòi nước đến khi hết bọt xà phòng.Vô khuẩn ở nhiệt độ 150C trong 20 phút

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Tiêu chảy khi nuôi ăn qua sonde ở bệnh nhân nặng

Tình trạng đi tiêu đánh giá bằng chỉ số Whelan của 3 nhóm tương đương nhau, nhóm 1

là 5,2±0,7, nhóm 2 là 5,7±0,8 và nhóm 3 là 5,8±0,8, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm (bảng 1)

Bảng 1 Đặc điểm 3 nhóm bệnh nhân khi bắt đầu và trong khi thử nghiệm

Số ngày can thiệp (ngày) 10,2 (0,5) 9,5 (0,6) 8,8 (0,6)

Tổng sữa nhập (lít) 15,7 (0,9) 15,4 (1,0) 13,2 (0,9)

Giá trị trình bày là trung bình (độ lệch chuẩn, SE) Sự khác biệt các giá trị trung bình các nhóm được tính bằng phép kiểm Oneway Anova, Post Hoc test, LSD abc: Các cột cùng hàng có chữ khác nhau có sự khác biệt với p < 0,000 Nhóm 1: bệnh nhân được nuôi bằng sữa công thức 1; Nhóm 2, bệnh nhân được nuôi bằng Isocal; Nhóm 3, bệnh nhân được nuôi bằng sữa công thức 2

Tần suất tiêu chảy nhóm 1 và 3, nhóm bệnh

nhân được nuôi bằng sữa đậu nành bổ sung

6,2% và 8,6% sữa bột nguyên kem và probiotic là

12,7% thấp hơn nhóm 2, bệnh nhân được nuôi

bằng Isocal, 19%, nhưng không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê (biểu đồ 1) Các bệnh nhân

này phải đưa ra khỏi lô nghiên cứu sau ngày thứ

tư của can thiệp Nghiên cứu của Thibault, thực

hiện năm 2013(27), tỷ lệ bệnh nhân tiêu chảy tại

ICU là 14% tương đương với nhóm 1 và 3, thấp

hơn nhóm 2 Kết quả này cũng tương đương với

nghiên cứu ngẫu nhiên so sánh với placebo của

Bleichner trên bệnh nhân nặng được điều trị

bằng S boulardii có tần suất tiêu chảy nhóm

là một biến chứng thường gặp khi nuôi ăn bằng ống Một số yếu tố góp phần vào cơ chế bệnh sinh của tiêu chảy khi nuôi ăn qua sonde, bao gồm phản ứng sinh lý, thuốc kháng sinh, và nhiễm trùng đường ruột Phản ứng sinh lý thay đổi có thể xảy ra trong nuôi ăn qua sonde Các nghiên cứu trên những người khỏe mạnh cho thấy khi nuôi dưỡng qua sonde dạ dày, có sự gia tăng bài tiết nước bất thường vào ruột già(8) Điều này có thể trầm trọng hơn do hoạt động của đoạn cuối đại tràng giảm, thời gian phân đi qua đại tràng nhanh hơn và làm giảm hấp thụ nước(7).Nếu không có cơ chế hấp thụ bù trừ tiếp theo, tiêu chảy có thể xãy ra Ngoài ra, đường

Trang 5

lactose có thể là nguyên nhân của tiêu chảy,

chướng bụng ở người kém dung nạp lactose

12,7

19

12,7

0

5

10

15

20

Nhóm can thiệp

Biểu đồ 1: Tần suất bệnh nhân tiêu chảy

Nhóm 1: Bệnh nhân được nuôi bằng sữa công thức 1

Nhóm 2: Bệnh nhân được nuôi bằng Isocal

Nhóm 3: Bệnh nhân được nuôi bằng sữa công thức 2

Phối hợp prebiotics và probiotics có thể ngăn

chặn xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh, làm thay

đổi quá trình lên men ruột, điều hòa chức năng

miễn dịch và, do đó, giảm thiểu nguy cơ tiêu

chảy do kháng sinh và C difficile(25)

Nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân của

cả 3 nhóm sữa mỗi ngày đều được cung cấp

26g xơ tan là Fructose Oligo Saccharide Riêng

nhóm 1 và 3 được bổ sung thêm 6108

Lactobacillus acidophilus, 6108 Bifidobacterium

longum, 6108 Streptococcus faecalis, trực khuẩn

có lợi cho đường ruột

Xơ có tác dụng phòng ngừa tiêu chảy ở bệnh

nhân nuôi ăn qua sonde Xơ khi lên men, sản

xuất các axit béo chuỗi ngắn giúp ngưng quá

trình bài tiết nước bất thường ở đại tràng khi

nuôi qua sonde và có thể làm thay đổi hoạt động

của đại tràng(8) Chất xơ có thể giúp ngừa tiêu

chảy do giảm thời gian trống dạ dày, cải thiện

chức năng hàng rào máu ruột, tăng tái tạo tế bào

biểu mô, và tăng hấp thu nước và điện giải ở đại

tràng Một phân tích gộp của 16 nghiên cứu can

thiệp ngẫu nhiên có đối chứng, kết quả cho thấy

xơ có tác dụng ngừa tiêu chảy, với một sự giảm

đáng kể tỷ lệ bệnh nhân tiêu chảy với OR= 0.68, 95% (CI) 0,48-0,96 và có xu hướng giảm số ngày

bị tiêu chảy(13) Một số nghiên cứu cho thấy tiêu chảy khi nuôi ăn qua sonde do sự gia tăng vi khuẩn có hại trong đường ruột Một nghiên cứu cho thấy trong 2 tuần đầu tiên của nuôi ăn qua sonde,

những người bị tiêu chảy có nồng độ Clostridia/ phân cao hơn và Bifidobacteria thấp hơn bệnh

nhân không tiêu chảy, và những thay đổi này đã hiện diện ngay từ lúc bắt đầu nuôi ăn qua sonde(32) Bệnh nặng và chế độ điều trị trong các khoa ICU đã tạo ra môi trường thù địch trong ruột và chuyển hệ vi khuẩn chí sang ưu thế là tác nhân gây bệnh Các môi trường thù địch được tạo nên bởi nhiều yếu tố như tác động vật lý và hóa học cụ thể là kháng sinh phổ rộng, thay đổi nguồn dưỡng chất có sẵn, nhu động ruột kém,

pH, nồng độ oxy, trạng thái oxy hóa khử, độ thẩm thấu và nồng độ cao của stress hormones(14) Trong thực tế, nor-epinephrine tiết

ra do stress có nồng độ cao nhất tại biểu mô ruột, chính điều này làm giảm nồng độ vi khuẩn có lợi tại ruột(3) Trong các mô hình viêm tụy cấp thực nghiệm, vi khuẩn có lợi LABs biến mất sau bệnh 6-12 giờ(29) Nghiên cứu ở người, LABs cũng biến mất sau 1 thời gian ngắn nằm ICU(19) Giảm nồng

độ LABs làm mất 'hàng rào bảo vệ' và dẫn đến tình trạng bùng nổ tác nhân gây bệnh(17)

Nghiên cứu ở 128 bệnh nhân nằm ICU được nuôi dưỡng qua qua sonde được cho bổ sung probiotic có số ngày tiêu chảy ít hơn 25% so với giả dược(6) Nghiên cứu ở 45 bệnh nhân ICU nuôi

ăn qua sonde bổ sung probiotics có giảm số lần

đi lỏng là 0,5 lần/ ngày so với giả dược là 1,1 lần/ngày; P = 0,03(15) Nghiên cứu của Terence(16)

trên 45 bệnh nhân nằm ICU nuôi dưỡng qua sonde có bổ sung 450 tỷ trực khuẩn gồm

Bifidobacterium breve, Bifidobacterium longum (>10x109/g), Bifidobacterium infantis (>10x109/g), Lactobacillus acidophilus, Lactobacillus plantarum, Lactobacillus casei, L bulgaricus, Streptococcus thermophiles (>10x109/g) có tần suất tiêu chảy

thấp hơn nhóm chứng với RR=0,5, 95%

Trang 6

confidence interval là 0,27-0,93; P =0,03 Một

nghiên cứu phân tích gộp của Ritchie(23) gồm 84

nghiên cứu với 10,351 bệnh nhân từ năm

1970-2011 đã nhận thấy Lactobacillus acidophilus phối

hợp với Bifidobacterium có hiệu quả trong điều trị

tiêu chảy do kháng sinh với OR= 0,37;

CI=0,27-0,83 Tương tự Streptococcus faecalis cũng có hiệu

quả trong điều trị tiêu chảy do kháng sinh với

OR= 0,29; CI=0,13-0,64 Hàm lượng vi khuẩn có

hiệu quả là từ 1-51010/gói Nghiên cứu của

chúng tôi có liều thấp hơn là 6108 cho mỗi

chủng và 18108 cho 3 chủng

Nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có đối

chứng với 167 bệnh nhân dùng giả dược hoặc

các sản phẩm thương mại Ergyphilus (chủ yếu là

Lactobacillus rhamnosus GG)(4) Kết quả ban đầu

cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ bệnh

nhân tiến triển tiêu chảy giữa nhóm bổ sung

probiotics (55%) và nhóm giả dược (53%) Tuy

nhiên nhóm bổ sung probiotics có giảm tỷ lệ tử

vong ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết nặng, OR=

0,38; p=0,035

Như vậy thay vi khuẩn gây bệnh bằng vi

khuẩn có lợi là probiotics có thể giúp quân bằng

hệ vi khuẩn chí ở ruột người bệnh nặng và như

vậy ngoài việc điều trị tiêu chảy còn giúp ngăn

được tình trạng nhiễm khuẩn huyết từ ruột Việc

ngăn chặn xâm nhập vi khuẩn gây bệnh sẽ giúp

ngăn phản ứng viêm toàn thân Probiotics (đặc

biệt là LABs) là phương pháp điều trị giảm hoặc

loại bỏ các mầm bệnh tiềm ẩn và các độc tố, giải

phóng các chất dinh dưỡng, chất chống oxy hóa,

các yếu tố tăng trưởng, các yếu tố đông máu,

kích thích nhu động ruột(5) và qua việc bình

thường hóa hệ vi sinh vật đường ruột bị thay đổi

do bệnh lý sẽ giúp điều hòa cơ chế bảo vệ tự

nhiên của cơ thể phù hợp với tình trạng bệnh(1)

Tiêu chảy khi nuôi ăn qua sonde ở bệnh

nhân nặng kém dung nạp lactose

Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu của

chúng tôi đều có gen kém dung nạp lactose bẩm

sinh Tỷ lệ tiêu chảy bệnh nhân nhóm can thiệp,

1 và 3, thấp hơn nhóm chứng, nhóm 2; 12,7% so

với 19% (biểu đồ 1) Điều này có vẽ phù hợp với các kết quả nghiên cứu được đề cập đến trong tổng quan của Tuula(28) và Michael(11) cho thấy probiotic có thể cải thiện tình trạng kém dung nạp lactose do tăng men -galactosidase trong trong quá trình lên men trong ruột(9)

KẾT LUẬN

Như vậy tình trạng tiêu chảy ở bệnh nhân được nuôi bằng sữa đậu nành bổ sung sữa bột nguyên kem và probiotic không khác với bệnh nhân được nuôi bằng sữa cao năng lượng chuẩn

là Isocal

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 K Guidelines for Identification, Management and Referra Chronic Kidney Disease in Adults, (2005)

2 Alberda C, Gramlich L, Meddings J et al (2007) "Effects of probiotics therapy in critically ill patients: a randomized,

double-blind, placebo-controlled trial" Am J Clin Nutr, 85,

pp 8166-823

3 Alverdy JC, Laughlin RS, Wu L (2003) "Influence of the critically ill state on host-pathogen interactions within the

intestine: Gut derived sepsis redefined" Crit Care Med, 31,

pp 598-607

4 Barraud D, Blard C, Hein F et al (2010) "Probiotics in the critically ill patient: a double blind, randomized,

placebo-controlled trial" Intensive Care Med,, 36, pp 1540-1547

5 Bengmark S (2005) "Bio-ecology control of the gastrointestinal tract: The role of flora and supplemented

probiotics and synbiotics" Gastroenterol Clin North Am, 34,

pp 13-36

6 Bleichner G, Blehaut H, Mentec H et al (1997)

"Sacchromyces boulardii prevents diarrhea in critically ill tube fed patients" Intensive Care Med, 23, pp 517-523

7 Bowling T.E., Silk D.B (1998) "Colonic responses to

enteral tube feeding" Gut, 42, pp 147-151

8 Bowling TE, Raimundo AH, Grimble GK et al (1993)

"Reversal by short chain fatty acids of colonic fluid

secretion induced by enteral feeding" Lancet, 342, pp

1266-1268

9 Briet P, Marteau F, et al Arrigoni E (1997) "Improved clinical tolerance to chronic lactose ingestion in subjects

with lactose intolerance: a placebo effect?" Gut, 41, pp

632-635

10 Cash WJ, McConville P, McDermott E et al (2010)

"Current concepts in the assessment and treatment of

hepatic encephalopathy" Q J Med, 103, pp 9-16

11 de Vrese M, Stegelmann A, Richter B et al (2001)

"Probiotics—compensation for lactase insufficiency" Am J Clin Nutr, 73, 421S-429S

12 Delegge M (2001) Malabsorption Index and Its

Application to Appropriate Tube Feeding, ASPEN National Meeting, A 0094

13 Elia M, Engfer MB, Green CJ et al (2008) "Systematic

Trang 7

effects of fibre-containing enteral formulae" Aliment

Pharmacol Ther, 27, pp 120-145

14 Freestone PP, Haigh RD, Williams PH et al (1991)

"Stimulation of bacterial growth by heat-stable,

norepinephrine-induced autoinducers" FEMS Micobiol

Lett, 172, pp 53-60

15 Frohmader TJ, Chaboyer WP, Robertson IK et al (2010)

"Decrease in frequency of liquid stool in enterally fed

critically ill patients given the multi- species probiotic VSL

3: a pilot trial" Am J Crit Care, 19, E1-11

16 Frohmader TJ, Chaboyer WP, Robertson IK et al (2010)

"Decrease in Frequency of Liquid Stool in Enterally Fed

Critically Ill Patients Given the Multispecies Probiotic

VSL#3: A Pilot Trial" Am J Crit Care, 19, pp

1-11doi:10.4037/ajcc2010976

17 Kinney KS, Austin CE, Morton DS et al (2000)

"Nor-epinephrine as a growth-stimulating factor in bacteria:

Mechanistic studies" Life Sci, 67, pp 3075-3085

18 Knaus WA, Draper EA, et al Wagner DP (1985) "APACHE

II: a severity of disease classification system" Critical Care

Medicine, 13 (10), pp 818–829

19 Knight DJW, Ala’ Aldeen D, Bengmark S et al (2004) "The

effect of synbiotics on gastrointestinal flora in the critically

ill" Br J Anaesth, 92, pp 307-308

20 Mai T.T.T (2015) "So sánh hiệu quả nuôi dưỡng của sữa

đậu nành bổ sung 6,2% và 8,6% sữa bột nguyên kem và

probiotic với Isocal và sự an toàn của probiotics ở chuột

suy dinh dưỡng" Y học TP Hồ chí Minh, 19 (5), pp

236-246

21 Majid HA, Emery PW, Whelan K (2008) "Attitudes of

patients and nurses towards diarrhoea during enteral tube

feeding" J Hum Nutr Diet, 21, pp 395

22 New York Heart Association (1994) "Nomenclature and

Criteria for Diagnosis of Diseases of the Heart and Great

Vessels 9th ed Little Brown & Co" pp 253-256

23 Ritchie ML, Romanuk TN (2012) "A Meta-Analysis of

Probiotic Efficacy for Gastrointestinal Diseases" Plos One,

7 (4), e34938 doi:10.1371/

24 Schneider SM, Girard-Pipau F, Anty R et al (2006) "Effects

of total enteral nutrition supplemented with a multifibre

mix on faecal short-chain fatty acids and microbiota" Clin

Nutr, 25, pp 82-90

25 Silk DB, Walters ER, Duncan HD et al (2001) "The effect of

a polymeric enteral formula supplemented with a mixture

of six fibres on normal human bowel function and colonic

motility" Clin Nutr, 20, pp 49-58

26 The Society of Critical Care Medicine Task Force of the American College of Critical Care Medicine (1999)

"Guidelines for intensive care unit admission, discharge

and triage" Crit Care Med, 27 (3), pp 633-638

27 Thibault R, Graf S, Clerc A et al (2013) "Diarrhoea in the ICU: respective contribution of feeding and antibiotics"

Critical Care,, 17, R153

28 Vesa TH, Marteau P, Korpela R (2000) "Lactose

Intolerance" Journal of the American College of Nutrition, 19

(2), 165S-175S

29 Wang X, Andersson R, Soltesz V et al (1996) "Gut origin sepsis, macrophage function, and oxygen extraction

associated with acute pancreatitis in the rat" World J Surg,, 20, pp 299-307

30 Warren SB, Dennis B, Thomas BN et al (1988) Estimating sample size and Power In: Designing clinical research, Stephen BH, Steven RC, Williams and Wilkins, pp

139-150

31 Whelan K (2007) "Enteral tube feeding diarrhoea: manipulating the colonic microbiota with probiotics and

prebiotics" Proc Nutr Soc, 66, pp 299-306

32 Whelan K, Judd PA, Tuohy KM et al (2009) "The fecal microbiota in patients receiving enteral feeding are highly variable and may be altered in those who develop

diarrhea" Am J Clin Nutr, 89, pp 240-247

33 Whelan K, Taylor MA (2004) "Assessment of fecal output

in patients receiving enteral tube feeding: validation of a

novel chart" European Journal of Clinical Nutrition, 58, pp

1030–1037

Ngày nhận bài báo: 15/03/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 22/04/2016 Ngày bài báo được đăng: 15/11/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 07:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm