1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giá trị của các chỉ số khí máu tĩnh mạch (PH, HCO3- và SBE) trong đánh giá tình trạng thăng bằng kiềm – toan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh

10 154 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 561,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khí máu động mạch là xét nghiệm chuẩn vàng cung cấp thông tin về tình trạng thăng bằng kiềm - toan. Tuy nhiên, thủ thuật chích hay đặt catheter động mạch có thể gây ra nhiều biến chứng, nhất là khi thực hiện nhiều lần trên trẻ sơ sinh non tháng. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá tính giá trị của khí máu tĩnh mạch nhằm thay thế cho khí máu động mạch trong đánh giá tình trạng kiềm – toan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh.

Trang 1

GIÁ TRỊ CỦA CÁC CHỈ SỐ KHÍ MÁU TĨNH MẠCH (PH, HCO3- VÀ SBE) TRONG ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG THĂNG BẰNG KIỀM – TOAN

Ở TRẺ SƠ SINH SUY HÔ HẤP TẠI KHOA HỒI SỨC SƠ SINH

Nguyễn Thu Tịnh*, Phạm Lê An**, Phan Hữu Nguyệt Diễm***

TÓM TẮT

Mở đầu: Khí máu động mạch là xét nghiệm chuẩn vàng cung cấp thông tin về tình trạng thăng bằng kiềm -

toan Tuy nhiên, thủ thuật chích hay đặt catheter động mạch có thể gây ra nhiều biến chứng, nhất là khi thực hiện nhiều lần trên trẻ sơ sinh non tháng Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá tính giá trị của khí máu tĩnh mạch nhằm thay thế cho khí máu động mạch trong đánh giá tình trạng kiềm – toan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh

Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: chúng tôi thực hiện lấy khí máu động mạch và tĩnh mạch cùng lúc

trên 322 bệnh nhân suy hô hấp nhập khoa hồi sức sơ sinh Chúng tôi so sánh các giá trị pH, HCO 3 và SBE của mẫu máu tĩnh mạch với máu động mạch được lấy cách nhau < 5 phút Dữ liệu được phân ích tương quan, hồi qui tuyến tính và biểu đồ Bland – Altman Mô hình này được ngoại kiểm trên 40 trường hợp thu thập sau mẫu nghiên cứu 20 tháng

Kết quả: Qua thời gian 12 tháng thực hiện lấy mẫu, chúng tôi thu thập được 322 cặp khí máu động và tĩnh

mạch Tất các các chỉ số khí máu tương quan và tương đồng chặt chẽ Trung bình khác biệt của các chỉ số khí máu động mạch và tĩnh mạch tương ứng: pH là -0,029 đơn vị, HCO 3 là 0,7 mmol/L và SBE là 0,32 mmol/L Tất cả giới hạn tương đồng 95% hẹp Các ngưỡng phân cắt chẩn đoán kiềm toan cho độ nhạy, độ đặc hiệu và diện tích dưới đường cong tốt Ngoại kiểm mô hình cho thấy có sự hiệu chỉnh và sự phân loại tốt các các chỉ số khí máu

Kết luận: các chỉ số khí máu tĩnh mạch có tương quan chặt và mức độ tương đồng cao giữa các chỉ số tương

ứng của khí máu động mạch ở trẻ sơ sinh suy hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh Kết quả đề xuất các chỉ số khí máu tĩnh mạch có thể thay thế tốt cho các chỉ số khí máu động mạch ở dân số này

Từ khoá: pH, HCO 3 , SBE, thăng bằng kiềm - toan, suy hô hấp, khí máu động mạch, khí máu tĩnh mạch

ABSTRACT

THE VALIDITY OF VENOUS BLOOD VALUES (PH, HCO 3- AND SBE) IN ASSESSMENT OF BASE –

ACID BALANCE IN NEWBORNS WITH RESPIRATORY FAILURE

Nguyen Thu Tinh, Pham Le An, Phan Huu Nguyet Diem

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 21 - No 3 - 2017: 166 - 175

Background and objective: Arterial blood gas is the gold standard test in assessment of base – acid balance;

however, arterial puncture or arterial cannulation can cause many complications, especially when they are performed in preterm infants or repeatedly in the same patient We investigate the validity of venous blood values (pH, HCO 3- and SBE) in assessment of acid – base balance in newborns with respiratory failure

Methods: We collected simultaneously venous blood and arterial blood samples from 322 neonates who had

been admitted to NICU with respiratory distress We compared pH, HCO 3 , and SBE on arterial and venous samples that were taken within 5 minutes of each other Data was analysed by using correlation, linear regression, and Bland – Altman plots

*: Bộ môn Nhi, Đại Học Y Dược Tp HCM ** Bộ môn BS gia đình, Đại Học Y Dược Tp HCM

Tác giả liên lạc: Ths.BS Nguyễn Thu Tịnh ĐT: 0937911277 Email tinhnguyen@ump.edu.vn

Trang 2

Results: A total of 322 paired samples were collected during 12 months The mean differences between

arterial and venous values for pH was -0.029 units, for HCO3 was 0.7 mmol/L, and for SBE was 0.32 mmol/L All values showed narrow 95% limits of agreement The cut-offs for metabolic acidosis or alkalosis showed very good sensitivity, specificity, and ROC-AUC The models were externally validated from a separate group of 40 patients who were gathered 20 months later External validation showed good calibration, and good discrimination

Conclusion: venous variables showed a very strong correlation and high level of agreement with arterial

variables, respectively These results suggest that venous values may replace arterial values respectively in assessment of base – acid balance in this clinical setting

Keywords: pH, HCO 3 , SBE, PCO 2 , acid – base balance, respiratory failure, ABG, VBG

MỞ ĐẦU

Suy hô hấp là hội chứng thường gặp nhất, là

nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong thời

kỳ sơ sinh và chi phí điều trị rất tốn kém (2), (13), (16)

Khí máu động mạch là xét nghiệm chuẩn vàng

cung cấp thông tin về thăng bằng kiềm toan (1), (9)

Trong thực hành lâm sàng tại khoa Hồi sức sơ

sinh, xét nghiệm khí máu động mạch để cung

cấp thông tin thăng bằng kiềm toan là xét

nghiệm phổ biến vì hầu hết bệnh nhân có suy hô

hấp và cần được đánh giá thăng bằng kiềm -

toan Lấy mẫu máu động mạch để đánh giá

thăng bằng kiềm - toan thường được thực hiện

nhiều lần trên một bệnh nhân trong suốt quá

trình điều trị Để lấy mẫu cho phân tích toan –

kiềm ở trẻ sơ sinh cần phải chích động mạch hay

đặt ống thông động mạch, thủ thuật này có thể

gây ra những biến chứng như tụ máu tại chỗ, co

thắt động mạch, huyết khối hay thuyên tắc động

mạch gây thiếu máu phần xa của chi, viêm

xương - tuỷ xương, đặc biệt là khi lấy mẫu lặp lại

nhiều lần (3), (17) Hơn thế nữa, thủ thuật chích

động mạch hay đặt ống thông động mạch càng

khó khăn hơn ở trẻ sơ sinh, nhất là trẻ sơ sinh

non tháng

Một số Bệnh viện châu Âu và Bắc Mỹ dùng

khí máu tĩnh mạch thay thế cho khí máu động

mạch để theo dõi tình trạng thăng bằng kiềm -

toan ở trẻ em suy hô hấp (11), (12), (8); người lớn bị

cơn cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay

tại khoa săn sóc tăng cường (1), (7) Các nghiên cứu

trên đều được thực hiện trên những bệnh nhân

là người lớn hay trẻ em và kết quả chưa nhất

quán Tại Việt Nam, chúng tôi chưa ghi nhận có nghiên cứu liên quan dùng khí máu tĩnh mạch đánh giá thăng bằng kiềm - toanở suy hô hấp sơ sinh Trong điều kiện hiện nay tại Việt Nam, hầu hết các đơn vị chăm sóc trẻ sơ sinh ở các tỉnh và thành phố đã có máy xét nghiệm khí máu nhưng tồn tại khó khăn trong việc lấy mẫu máu động mạch để xét nghiệm, đặc biệt ở trẻ sơ sinh non tháng hay trẻ suy hô hấp nặng cần lấy mẫu máu động mạch nhiều lần

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu: xác định tính giá trị của khí máu tĩnh mạch nhằm thay thế cho khí máu động mạch trong đánh giá tình trạng kiềm – toan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả và phân tích

Dân số chọn mẫu

Tất cả những trẻ sơ sinh nhập khoa hồi sức

sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng I có xét nghiệm khí máu động mạch từ tháng 5/2013 đến tháng 4/2014

Ước tính cỡ mẫu

Ước tính cỡ mẫu cho hệ số tương quan: chọn sai lầm loại I α= 0,05; sai lầm loại II  = 1-power = 0,1 và r là hệ số tương quan Pearson, lấy từ các nghiên cứu tham khảo tương ứng Chúng tôi ước tính cỡ mẫu cho hệ số tương quan dựa trên phần mềm Medcalc® v13.0.6 trên Windows

Trang 3

Bảng 1 Ước lượng cỡ mẫu theo hệ số tương quan

Biến số r n Tham khảo

pH 0,83 10 Chu (5)

HCO 3

-0,91 8 Chu (5) Ước tính cỡ mẫu cho kiểm định 2 giá trị

trung bình: với sai lầm loại I là α= 0,05 và sai lầm

loại II là  = 0,1; tỷ số cỡ mẫu 2 nhóm 1/1

Bảng 2 Cỡ mẫu ước tính cho kiểm định 2 giá trị

trung bình theo các chỉ số khí máu

pH 7,400 7,437 0,053 0,060 50 Chu (5)

HCO 3- 29,27 26,34 5,53 5,01 69 Chu (5)

Chúng tôi ước tính cỡ mẫu cho kiểm định 2

giá trị trung bình dựa trên phần mềm Medcalc®

v13.0.6 trên Windows

Phương pháp chọn mẫu: thuận tiện

(consecutive sample)

Tiêu chí chọn vào nhóm nghiên cứu

Tất cả trẻ sơ sinh nhập khoa hồi sức sơ sinh,

Bệnh viện Nhi Đồng I được hỗ trợ hô hấp bằng

thở áp lực dương liên tục, thở máy thông thường

hay thở máy tần số cao, SpO2 trong khoảng80% -

98%, có catheter động mạch, trong thời gian từ

tháng 5/2013 đến tháng 4/2014 và gia đình đồng

ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chí loại khỏi nhóm nghiên cứu

Trẻ không lấy được mẫu máu (tĩnh mạch và

động mạch) cùng lúc với đo SpO2 (khoảng cách >

5 phút), hay bệnh nhân đang hạ huyết áp hay

sốc, hay tim bẩm sinh tím

Kiểm soát sai lệch chọn lựa

Tuân thủ tiêu chí chọn vào và loại ra khỏi

nhóm nghiên cứu

Kiểm soát sai lệch thông tin

Thu thập thông tin theo phiếu thu thập dữ

liệu thống nhất; các mẫu xét nghiệm trong

nhóm nghiên cứu được lấy vào cùng một

dụng cụ và lượng giá bởi cùng một máy phân

tích khí máu tại cùng một phòng xét nghiệm,

ghi nhận lại những trường hợp loại khỏi lô

nghiên cứu (nếu có)

Lấy mẫu cho kiểm chứng các mô hình

Trong thời gian khoảng 1 tháng, từ 12/2015 – 1/2016, chúng tôi thu thập mẫu dùng cho kiểm chứng mô hình theo cùng phương pháp Các mô hình qua nghiên cứu trên mẫu được đánh giá sự phân loại và sự hiệu chỉnh trên dân số cho kiểm chứng

Phương pháp đo lường

Thể tích máu thường lấy tại khoa hồi sức sơ sinh cho thử khí máu theo yêu cầu của phòng xét nghiệm khoảng 0,3 – 0,4 ml Ghi nhận khoảng cách thời gian giữa hai mẫu máu và SpO2, FiO2, MAP trên thở máy hay áp lực của CPAP Cả hai mẫu máu được thu thập bằng ống xi lanh 1 ml (của Freedom Eagle Co LTD, Korea) được tráng dung dịch Heparin 5000IU/ml Các mẫu máu được dán nhãn và gởi ngay tới phòng xét nghiệm Xét nghiệm được thực hiện trên máy phân tích khí máu (của Roche COMPACT 3 Blood Gas Analyzer)

Xử lý dữ liệu

Dữ liệu thu thập bằng bảng câu hỏi sẽ được kiểm tra tính hoàn tất và lỗi Dữ liệu được mã hóa, nhập liệu và quản lý bằng phần mềm Excel Thống kê tần số của các biến để xem tính logic

và lỗi Sau đó, dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Medcalc® v13.0.6 trên Windows và IBM® SPSS® 20 for Mac

Phân tích dữ liệu

Được thực hiện theo một kế hoạch phân tích

đã được xác định trước nhằm trả lời cho mục tiêu nghiên cứu Thống kê mô tả: các biến số liên tục được trình bày dưới dạng trung bình  độ lệch chuẩn (tối thiểu - tối đa) hay trung vị (25% ile; 75% ile); các biến số không liên tục được trình bày dưới tần số (tỷ lệ)

KẾT QUẢ

Qua thời gian 12 tháng lấy mẫu nghiên cứu

từ 5/2013 tới 4/2014, chúng tôi thu thập được 322 trường hợp thỏa tiêu chí nhận vào nhóm nghiên cứu Thời gian lấy mẫu cho kiểm chứng mô hình trong thời gian 1 tháng từ 12/2015 tới 1/2016,

Trang 4

chúng tôi thu thập được 40 trường hợp thỏa tiêu

chí nhận vào

Bảng 3 Đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng dân số

nghiên cứu

Đặc điểm dịch tễ học (n=322)

Cân nặng lúc sanh (gam) 2367,3 ± 857,3 (700 –

4800) Tuổi thai (tuần) 34,9 ± 4,5 (25 – 40)

Địa dư

Hồ Chí Minh

Tỉnh

Nước ngoài

91 (28,3)

230 (74,1) 1(0,3) Tuổi lúc nhập viện (ngày) 2 (1; 4)

Tuổi lúc lấy khí máu (ngày) 4 (2; 8)

Giới

Nam

Nữ

189 (41,3%)

133 (58,7%) Đặc điểm lâm sàng (n=322)

Thân nhiệt lúc lấy khí máu

Hạ thân nhiệt

Tăng thân nhiệt

Bình thường

0 (0%)

0 (0%)

322 (100%) Phương tiện hỗ trợ hô hấp

Máy thở tần số cao

Thở máy thông thường

CPAP

43 (13,4%)

219 (68%)

60 (18,6%)

Bảng 4 Vị trí lấy mẫu máu động mạch và tĩnh

mạch

Động mạch

Tĩnh mạch

Mu tay 262 (81,4)

Mu chân 57 (17,7)

Bảng 5 Chẩn đoán lâm sàng của dân số nghiên

cứu

Bệnh màng trong ở trẻ non tháng 147 (45,6)

Viêm phổi 132 (41) Nhiễm trùng huyết 124 (38,5) Teo ruột non 22 (6,8) Bệnh màng trong sinh mổ chủ động 20 (6,2) Cao áp phổi tồn tại 17 (5,3) Tim bẩm sinh không tím 17 (5,3) Thoát vị hoành bẩm sinh 15 (4,7)

Viêm phổi hít ối phân su 13 (4,0) Teo thực quản 13 (4,0)

Hở thành bụng bẩm sinh 6 (1,8)

Vỡ dạ dày 3 (1,25)

Hầu hết các trường hợp có nhiều chẩn đoán trên một bệnh nhân ở thời điểm lấy mẫu nghiên cứu

Phương trình hồi quy pHa = 0,38 + 0,95 x

pHv (R 2 = 0,84; p < 0,0001)

Phương trình hồi quy aHCO 3- = 1,90 + 0,88 x vHCO 3- (R 2 = 0,8; p < 0,0001)

Phương trình hồi quy aSBE = - 0,69 + 0,91

x vSBE (R 2 = 0,86; p < 0,0001)

Hình 1 Phân tích hồi quy tuyến tính giữa các chỉ số khí máu

Trang 5

Trung bình khác biệt giữa pHv và

pHa, giới hạn trên, giới hạn dưới của

trung bình khác biệt

Trung bình khác biệt giữa vHCO 3 và aHCO 3 , giới hạn trên, giới hạn dưới của trung bình khác biệt

Trung bình khác biệt giữa vSBE và aSBE, giới hạn trên, giới hạn dưới của trung bình khác biệt

Hình 2 Biểu đồ Bland-Altman của các chỉ số khí máu

pHv trong chẩn đoán toan máu (pHa

< 7,25): < 7,24 (độ nhạy = 93,3%; độ

đặc hiệu = 84,2%; AUC = 0,95)

pHv trong chẩn đoán toan máu (pHa < 7,35): < 7,33 (độ nhạy = 92,2%; độ đặc hiệu = 83,8%; AUC

= 0,94)

pHv trong chẩn đoán kiềm máu (pHa

> 7,45): > 7,4 (độ nhạy = 73,9; độ đặc hiệu = 97,7; AUC = 0,93)

vHCO 3- trong chẩn đoán toan chuyển hóa (<

20 mmHg): < 20,2 (độ nhạy = 77,27; độ đặc

hiệu = 91,58; AUC = 0,899)

vHCO 3- trong chẩn đoán kiềm chuyển hóa (> 24 mmHg): > 24,2 mmol/L (độ nhạy = 84,81; độ đặc hiệu = 88,89; AUC = 0,931)

vSBE trong chẩn đoán toan chuyển hóa (aSBE

< -4 mmol/L): < -4,7 mmol/L (độ nhạy = 76,33;

độ đặc hiệu = 93,46; AUC = 0,921)

vSBE trong chẩn đoán kiềm chuyển hóa (aSBE > 4 mmol/L): > 1,8 mmol/L cho độ nhạy = 100; độ đặc hiệu = 94,7; AUC = 0,992)

Hình 3 Đường cong ROC cho các chỉ số khí máu

Trang 6

Sự hiệu chỉnh: r = 0,91; p< 0,0001)

Sự phân loại R 2 = 0,828; p < 0,0001

Sự hiệu chỉnh: r=0,82; p < 0,0001

Sự phân loại R 2 = 0,679; p < 0,0001

Sự hiệu chỉnh:(r = 0,85; p < 0,0001)

Sự phân loại R 2 = 0,725; p < 0,0001)

Hình 4 Kiểm chứng mô hình của các chỉ số khí máu

BÀN LUẬN

Mối tương quan và mức độ tương đồng

của pHv với pHa trong đánh giá tình

trạng thăng bằng kiềm – toan

Kết quả khảo sát mối tương quan giữa pHv

và pHa cho thấy có mối tương quan rất mạnh

giữa pHv và pHa (r = 0,919; KTC 95% 0,891 -

0,940) và mối tương quan này có ý nghĩa thống

kê (p < 0,0001) (Hình 1A) Kết quả phân tích hồi

quy tuyến tính xác nhận quan hệ tuyến tính và

quy pHa = 0,38 + 0,95 x pHv (R2 = 0,84; p < 0,0001)

cho thấy trung bình pHa tăng 0,95 đơn vị cho

mỗi đơn vị tăng của pHv R2=0,84 cho thấy pHv

giải thích được 84% sự biến thiên của pHa Biểu

đồ Bland-Altman (Hình 2A) cho thấy sự khác

biệt phân bố tương đối ngẫu nhiên, độc lập với

thang đo pH Đa số các trường hợp nằm trong

giới hạn trên và giới hạn dưới của trung bình

khác biệt Trung bình pHv có khuynh hướng

thấp hơn pHa 0,0287 đơn vị (0,0239 – 0,0336)

Qua kết quả ngoại kiểm mô hình tiên đoán pHa

từ pHv (Hình 4A) cho thấy biểu đồ phân tán có

sự tương quan tuyến tính mạnh và có ý nghĩa

thống kê giữa pHa quan sát và pHa dự đoán (r =

0,91; p < 0,0001) nên mô hình cho thấy có độ hiệu

chỉnh tốt R2=0,828 cho thấy pHadự đoán giải

thích được 82,8% sự biến thiên của pHa quan sát,

do đó mô hình cho thấy có sự phân loại tốt

Dùng pHv để thay thế cho pHa trong trong chẩn

đoán toan hoá máu và kiềm hoá máu: tương ứng

với ngưỡng pHa < 7,25 là ngưỡng pHv < 7,24 với

độ nhạy = 92,3%; độ đặc hiệu = 84,2%; diện tích

dưới đường cong AUC = 0,95; KTC 95% của AUC 0,91 – 0,97; tương ứng với ngưỡng pHa < 7,35 là ngưỡng pHv < 7,33 với độ nhạy = 92,2%;

độ đặc hiệu = 83,8%; diện tích dưới đường cong AUC = 0,94; KTC 95% của AUC 0,92 – 0,97; tương ứng với ngưỡng pHa > 7,45 là ngưỡng pHv > 7,40 với độ nhạy = 73,9%; độ đặc hiệu = 97,7%; diện tích dưới đường cong AUC = 0,93; KTC 95% của AUC 0,89 – 0,95 Ở các ngưỡng phân cắt trên, cho thấy diện tích dưới đường cong có độ phân biệt tốt

Malatesha và cộng sự (11) nghiên cứu trên 95 cặp khí máu động mạch và tĩnh mạch trên 95 bệnh nhân là người trưởng thành tại khoa cấp cứu Kết quả cho thấy giá trị trung bình pHa và pHv lần lượt là 7,384 ± 0,124 mmHg và 7,369 ± 0,120 mmHg với giới hạn tương đồng 95% của chỉ số pH là 0,13 – (-0,1)

Koul và cộng sự (10) nghiên cứu trên 100 cặp khí máu động mạch và tĩnh mạch trên 100 bệnh nhân là người trưởng thành tại khoa hô hấp và nội tổng quát ở Ấn Độ Kết quả cho thấy giá trị trung bình pHa và pHv lần lượt là 7,46 ± 0,56 mmHg và 7,43 ± 0,06 mmHg với giới hạn tương đồng 95% và trung bình khác biệtcủa chỉ số pH hẹp, có thể chấp nhận trên lâm sàng là 0,03, giới hạn thay đổi -0,028 tới 0,088 Có mối tương quan cao (r = 0,88) giữa pHv và pHa, mối tương quan này có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)

Ak và cộng sự nghiên cứu trên 132 cặp khí máu động mạch và tĩnh mạch trên bệnh nhân cơn cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (1) Kết quả cho thấy giá trị trung bình pHa và pHv lần

Trang 7

lượt là 7,405 ± 0,08 mmHg và 7,37 ± 0,07 mmHg,

với trung bình khác biệt là 0,031 ± 0,029 Có mối

tương quan cao (r = 0,934) giữa PaCO2 và PvCO2

Phương trình hồi quy pHa= 1,004 x pHv, R2 = 1

Raoufy và cộng sự nghiên cứu trên 132 cặp

khí máu động mạch và tĩnh mạch trên bệnh

nhân cơn cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

(15) Kết quả cho thấy giá trị trung bình pHa và

pHv lần lượt là 7,37 ± 0,047đơn vị và 7,34 ±

0,04đơn vị, với trung bình khác biệt là 0,026 ±

0,045 Có mối tương quan cao (r = 0,839) giữa

pHa và pHv Phương trình hồi quy pHa= 1,119 +

0,851 x pHv, R2 = 0,668

Brandenburg và cộng sự nghiên cứu trên 44

cặp khí máu động mạch và tĩnh mạch trên 38

bệnh nhân là người trưởng lớn, nghi bị nhiễm

toan Ketoacid do đía tháo đường, nhập khoa cấp

cứu (4) Kết quả cho thấy giá trị trung bìnhpHa và

pHv lần lượt là 7,20 ± 0,14 đơn vị và 7,17 ± 0,13

đơn vị Có mối tương quan rất cao (r = 0,969)

giữa pHa và pHv Phương trình hồi quy pHa=

-0,37 + 1,06 x pHv, R2 = 0,94, p < 0,0001

Như vậy pHv là chỉ số ít xâm lấn hơn pHa

và có thể thay thế tốt cho pHa trong đánh giá

tình trạng kiềm – toan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp

tại khoa hồi sức sơ sinh

Mối tương quan và mức độ tương đồng

của vHCO3- với aHCO3- trong đánh giá

tình trạng thăng bằng kiềm – toan

Kết quả khảo sát mối tương quan giữa

aHCO3- và vHCO3- cho thấy có mối tương quan

rất mạnh giữa aHCO3- và vHCO3- (r = 0,893; KTC

95% 0,865 - 0,916) và mối tương quan này có ý

nghĩa thống kê (p < 0,0001) Kết quả phân tích

hồi quy tuyến tính xác nhận quan hệ tuyến tính

và tỷ lệ thuận giữa aHCO3- và vHCO3- (Hình 1B)

Phương trình hồi quy aHCO3- = 1,90 + 0,88 x

vHCO3- (R2 = 0,8; p < 0,0001) cho thấy trung bình

aHCO3- tăng 0,88 mmHg cho mỗi mmHg tăng

của vHCO3- R2=0,8 cho thấy vHCO3- giải thích

được 80% sự biến thiên của aHCO3- Biểu đồ

Bland-Altman (Hình 2B.) cho thấy sự khác biệt

phân bố ngẫu nhiên, độc lập với thang đo

aHCO3- Đa số các trường hợp nằm trong giới hạn trên và giới hạn dưới của trung bình khác biệt Trung bình vHCO3- có khuynh hướng cao hơn aHCO3- 0,7mmol/L (-3,9 tới 5,3) Qua kết quả ngoại kiểm mô hình tiên đoán aHCO3- từ vHCO3- (Hình 4B.) cho thấy biểu đồ phân tán có sự tương quan tuyến tính mạnh và có ý nghĩa thống kê giữa aHCO3- quan sát và aHCO3- dự đoán (r = 0,82; p < 0,0001) nên mô hình cho thấy

có độ hiệu chỉnh tốt R2=0,68 cho thấy aHCO3- dự đoán giải thích được 68% sự biến thiên của aHCO3- quan sát, do đó mô hình cho thấy có sự phân loại khá Vì hệ số tương quan (r) và hệ số xác định (R2) trong mẫu kiểm chứng thấp hơn trong mẫu nghiên nghiên cứu, nên chúng tôi đề xuất nghiên cứu khác với cỡ mẫu lớn hơn để

3-ở dân số suy hô hấp sơ sinh Dùng vHCO3- để thay thế cho aHCO3- trong trong chẩn đoán toan chuyển hoá và kiềm chuyển hoá: tương ứng với ngưỡng aHCO3- < 20 mmol/L là ngưỡng vHCO

3-< 20,2 mmol/L với độ nhạy = 77,27%; độ đặc hiệu

= 91,58%; diện tích dưới đường cong AUC = 0,90; KTC 95% của AUC 0,86 – 0,93; tương ứng với ngưỡng aHCO3- > 24 mmol/L là ngưỡng vHCO

3-> 24,2 mmol/L với độ nhạy = 84,81%; độ đặc hiệu

= 88,89%; diện tích dưới đường cong AUC = 0,93; KTC 95% của AUC 0,90 – 0,96 Ở các ngưỡng phân cắt trên, cho thấy diện tích dưới đường cong có độ phân biệt rất tốt

Malatesha và cộng sự (11) nghiên cứu trến 95 cặp khí máu động mạch và tĩnh mạch trên 95 bệnh nhân là người trưởng thành tại khoa cấp cứu Kết quả cho thấy giá trị trung bình aHCO

3-và vHCO3- lần lượt là 23,58 ± 8,86 mmHg và 24,32

± 9,43 mmHg với giới hạn tương đồng 95% của chỉ số pH là 4,3 – (-5,8)

Kelly và cộng sự (7) nghiên cứu trến 246 cặp khí máu động mạch và tĩnh mạch trên 246 bệnh nhân là người trưởng thành tại khoa cấp cứu Kết quả cho thấy giá trị trung bình aHCO3- và vHCO3- lần lượt là 23,58 ± 8,86 mmol/L và 24,32 ± 9,43 mmol/L với giới hạn tương đồng 95% của chỉ số HCO3- là 4,3 tới -5,8

Trang 8

Koul và cộng sự (10) nghiên cứu trên 100 cặp

khí máu động mạch và tĩnh mạch trên 100 bệnh

nhân là người trưởng thành tại khoa hô hấp và

nội tổng quát ở Ấn Độ Kết quả cho thấy giá trị

trung bình aHCO3- và vHCO3- lần lượt là 27,98 ±

6,23 mmol/L và 28,84 ± 6,68 mmHg với giới hạn

tương đồng 95% và trung bình khác biệt của chỉ

số HCO3- hẹp, có thể chấp nhận trên lâm sàng là

(-5,1) - 3,4 và (-0,9) Có mối tương quan kém (r =

0,32) giữa aHCO3- và vHCO3-, mối tương quan

này có ý nghĩa thống kê (p = 0,0012)

Ak và cộng sự nghiên cứu trên 132 cặp khí

máu động mạch và tĩnh mạch trên bệnh nhân

cơn cấp của bệnh phổi tắc nghẽnmạn tính (1) Kết

quả cho thấy giá trị trung bình aHCO3- và

vHCO3- lần lượt là 27,2 ± 4,7mmol/L và 28,6 ± 4,7

mmHg, với trung bình khác biệt là -1,39 ± 1,81

Có mối tương quan cao (r = 0,908) giữa aHCO

3-và vHCO3- Phương trình hồi quy aHCO3- = 0,951

x vHCO3-, R2 = 0,996

Raouty và cộng sự nghiên cứu trên 132 cặp

khí máu động mạch và tĩnh mạch trên bệnh

nhân cơn cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

(15) Kết quả cho thấy giá trị trung bình aHCO3- và

vHCO3- lần lượt là 30,41 ± 4,16 mmHg và 32,29 ±

4,06 mmol/L, với trung bình khác biệt là -1,88 ±

4,06 Có mối tương quan cao (r = 0,728) giữa

aHCO3- và vHCO3- Phương trình hồi quy

aHCO3- = 6,892 + 0,725 x vHCO3-, R2 = 0,627

Brandenburg và cộng sự nghiên cứu trên 44

cặp khí máu động mạch và tĩnh mạch trên 38

bệnh nhân là người trưởng lớn, nghi bị nhiễm

toan Ketoacid do đái tháo đường, nhập khoa cấp

cứu (4) Kết quả cho thấy giá trị trung bình

aHCO3- và vHCO3- lần lượt là 11,0 ± 6,0 mmol/L

và 12,8 ± 5,5 mmol/L Có mối tương quan rất cao

(r = 0,954) giữa aHCO3- và vHCO3- Phương trình

hồi quy aHCO3- = -2,38 + 1,04 x vHCO3-, R2 = 0,91;

p < 0,0001

Như vậy vHCO3- là chỉ số ít xâm lấn hơn

aHCO3- và có thể thay thế tốt cho pHa trong

đánh giá tình trạng kiềm – toan ở trẻ sơ sinh suy

hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh

Mối tương quan và mức độ tương đồng của vSBE với aSBE trong đánh giá tình trạng thăng bằng kiềm – toan

SBE là chỉ số kiềm dư trong dịch ngoại bào, trong thực tế lâm sàng hay được dùng để giúp chẩn đoán nhanh rối loạn toan kiềm chuyển hoá

và giúp tính toán lượng bicarbonate cần bù trong các trường hợp toan chuyển hoá (7) Kết quả khảo sát mối tương quan giữa aSBE và vSBE cho thấy có mối tương quan rất mạnh giữa aSBE và vSBE (r = 0,927; KTC 95% 0,905 - 0,945) và mối tương quan này có ý nghĩa thống kê (p < 0,0001) Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính xác nhận quan hệ tuyến tính và tỷ lệ thuận giữa aSBE và vSBE.Phương trình hồi quy aSBE = -0,686 + 0,905

x vSBE (R2= 0,8601; p < 0,0001; r = 0,927; p < 0,0001) cho thấy trung bình aSBE tăng 0,9052 mmol/L cho mỗi 1 mmol/L tăng của vSBE

R2=0,8601 cho thấy vSBE giải thích được 86,01%

sự biến thiên của aSBE (Hình 1C) Biểu đồ Bland-Altman (Hình 2C) cho thấy sự khác biệt phân bố ngẫu nhiên, độc lập với thang đo aSBE Đa số các trường hợp nằm trong giới hạn trên và giới hạn dưới của trung bình khác biệt Trung bình vSBE

có khuynh hướng cao hơn aSBE 0,32 mmol/L (0,11 tới 0,54) Qua kết quả ngoại kiểm mô hình tiên đoán aSBE từ vSBE (hình 4C.) cho thấy biểu

đồ phân tán có sự tương quan tuyến tính mạnh

và có ý nghĩa thống kê giữa aSBE quan sát và aSBE dự đoán (r = 0,85 (0,74 – 0,92), p < 0,0001) nên mô hình cho thấy có độ hiệu chỉnh tốt

R2=0,725 cho thấy aSBE dự đoán giải thích được 72,5% sự biến thiên của aSBE quan sát, do đó mô hình cho thấy có sự phân loại tốt Dùng vSBE để thay thế cho aSBE trong trong chẩn đoán toan chuyển hoá và kiềm chuyển hoá: tương ứng với ngưỡng aSBE < -4 mmol/L là ngưỡng vSBE < -4,7 mmol/L với độ nhạy = 76,33%; độ đặc hiệu = 93,46%; diện tích dưới đường cong AUC = 0,921; KTC 95% của AUC 0,885 – 0,948; tương ứng với ngưỡng aSBE > 4 mmol/L là ngưỡng vSBE > 1,8 mmol/L với độ nhạy = 100%; độ đặc hiệu = 94,7%; diện tích dưới đường cong AUC = 0,992; KTC 95% của AUC 0,975 – 0,999 Ở các ngưỡng

Trang 9

phân cắt trên, cho thấy diện tích dưới đường

cong có độ phân biệt rất tốt (Hình 3C)

Như vậy vSBE là chỉ số ít xâm lấn hơn aSBE

và có thể thay thế tốt cho aSBE trong đánh giá

tình trạng kiềm – toan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp

tại khoa hồi sức sơ sinh

Những điểm mạnh của nghiên cứu chúng

tôi: (1) Khác với một số nghiên cứu khác trước

đây dùng mẫu máu động mạch hóa hay mẫu

máu tĩnh mạch trung ương (12), (14), nghiên cứu của

chúng tôi dùng mẫu máu tĩnh mạch ngoại biên

để đánh giá khí máu tĩnh mạch cho thấy tính

linh động cao hơn và dễ dàng áp dụng hơn tại

các tuyến có kỹ thuật và tài nguyên còn hạn chế;

(2) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở trẻ sơ

sinh suy hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh (là

nghiên cứu đầu tiên thực hiện ở trẻ sơ sinh) bổ

sung thêm vào kết quả và củng cố cho kết luận

của các nghiên cứu trước đây ở trẻ em và người

lớn là có thể dùng khí máu tĩnh mạch ngoại biên

ước tính tương đối chính xác cho kết quả khí

máu động mạch ở dân số sơ sinh suy hô hấp tại

khoa hồi sức sơ sinh; (3) Phân tích cả về tương

quan, hồi qui, độ tin cậy qua biểu đồ

Bland-Altman, và ngoại kiểm mô hình tiên đoán mô

hình tiên đoán Tuy nhiên, kết quả các chỉ số khí

máu tĩnh mạch và các chỉ số bão hoà oxy máu

không thể thay thế hoàn toàn cho kết quả các chỉ

số khí máu động mạch

Nghiên cứu của chúng tôi có một số hạn chế

đó là (1) lấy được phần lớn các mẫu khí máu tại

khoa hồi sức sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng I chứ

không lấy được tất cả các mẫu ở tất cả các bệnh

nhân được chỉ định lấy khí máu động mạch, bởi

vì bệnh nhân được lấy mẫu thuận tiện và chủ

yếu trong giờ hành chính; (2) ngưỡng pH < 7 ít

bệnh nhân? và vì vậy không thể ước tính sự

tương đồng và độ tin cậy của pH ở giá trị

ngưỡng thấp này

KẾT LUẬN

Các chỉ số khí máu tĩnh mạch (pHv, vHCO

3-và vSBE)tương quan rất mạnh và tương đồng

tốt với các chỉ số khí máu động mạch tương ứng

(pHa, aHCO3- và aSBE) Do đó, các chỉ số khí máu tĩnh mạch có thể thay thế tốt cho các chỉ số tương ứng của khí máu động mạch; đặc biệt trong trường hợp không lấy được khí máu động mạch hay phải lấy khí máu nhiều lần trong quá trình theo dõi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ak A, Ogun CO, Bayir A, Kayis SA, Koylu R (2006)

"Prediction of arterial blood gas values from venous blood gas values in patients with acute exacerbation of chronic

obstructive pulmonary disease", Tohoku J Exp Med, 210 (4), pp

285-290

2 Angus DC, Linde-Zwirble WT, Clermont G (2001)

"Epidemiology of neonatal respiratory failure in the United

States: projections from California and New York", Am J Respir

Crit Care Med, 164 (7), pp 1154-1160

3 Bilan N, Behbahan AG, Khosroshahi AJ (2008) "Validity of venous blood gas analysis for diagnosis of acid-base imbalance in children admitted to pediatric intensive care

unit", World J Pediatr, 4 (2), pp 114-117

4 Brandenburg MA, Dire DJ (1998) "Comparison of arterial and venous blood gas values in the initial emergency department

evaluation of patients with diabetic ketoacidosis", Ann Emerg

Med, 31 (4), pp 459-465

5 Chu YC, Chen CZ, Lee C H, Chen CW, Chang HY, Hsiue TR (2003) "Prediction of arterial blood gas values from venous blood gas values in patients with acute respiratory failure

receiving mechanical ventilation", J Formos Med Assoc, 102 (8),

pp 539-543

6 Doherty EG, Simmon CF (2008), "Fluid and Electrolyte Management" In: Cloherty JP, Eichenwald EC, Stark AR (eds) Manual of Neonatal Care, LWW, Philadelphia, pp

107-109

7 Kelly AM, McAlpine R, Kyle E (2001) "Venous pH can safely replace arterial pH in the initial evaluation of patients in the

emergency department", Emerg Med J, 18 (5), pp 340-342

8 Kirubakaran C, Gnananayagam JE, Sundaravalli EK (2003)

"Comparison of blood gas values in arterial and venous

blood", Indian J Pediatr, 70 (10), pp 781-785

9 Kornhauser MS (2005), "Blood Gas Interpretation" In: Spitzer

AR (eds) Intensive Care of The Fetus & Neonate, Elsevier Mosby, pp 523-537

10 Koul PA, Khan U H, Wani AA, Eachkoti R, Jan RA, Shah S, et

al (2011) "Comparison and agreement between venous and arterial gas analysis in cardiopulmonary patients in Kashmir

valley of the Indian subcontinent", Ann Thorac Med, 6 (1), pp

33-37

11 Malatesha G, Singh NK, Bharija A, Rehani B, Goel A (2007)

"Comparison of arterial and venous pH, bicarbonate, PCO2

and PO2 in initial emergency department assessment", Emerg

Med J, 24 (8), pp 569-571

12 Middleton P, Kelly AM, Brown J (2006) "Agreement between arterial and central venous values for pH, bicarbonate, base

excess, and lactate", Emerg Med J, 23, pp 622–624

13 No authors listed (1997) "Economic outcome for intensive care

of infants of birthweight 500-999 g born in Victoria in the post surfactant era The Victorian Infant Collaborative Study

Group", J Paediatr Child Health, 33 (3), pp 202-208

Trang 10

14 Phillips B., Peretz D I (1969) "A comparison of central venous

and arterial blood gas values in the critically ill", Ann Intern

Med, 70 (4), pp 745-749

15 Raoufy MR, Eftekhari P, Gharibzadeh S, Masjedi MR (2009)

"Predicting Arterial Blood Gas Values from Venous Samples

in Patients with Acute Exacerbation Chronic Obstructive

Pulmonary Disease Using Artificial Neural Network", J Med

Syst

16 Walsh MC, Bauer RE (1994) "Severe respiratory failure in

neonates: mortality and morbidity rates and

neurodevelopmental outcomes", J Pediatr, 125 (1), pp 104-110

17 Walton DM (2002), "Arterial Puncture" In: Mhairi G MacDonald, Jayashree Ramasethu (eds) Atlas of Procedures

in Neonatology Lippincott Williams & Wilkins

Ngày nhận bài báo: 15/02/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 28/02/2017 Ngày bài báo được đăng: 05/04/2017

Ngày đăng: 15/01/2020, 07:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w