Bài viết trình bày khảo sát TST và tỷ lệ sử dụng thuốc ức chế bêta trên bệnh nhân bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ ổn định. TST trong NC cao hơn so với tần số tim trên các đối tượng tương tự trong các NC trong nước, tỷ lệ TST đạt mục tiêu theo AHA 2012 còn rất thấp, tỷ lệ sử dụng và liều thuốc ức chế bêta còn thấp so với các nước phát triển.
Trang 1KHẢO SÁT TẦN SỐ TIM VÀ SỰ SỬ DỤNG THUỐC ỨC CHẾ
BÊTA TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH TIM THIẾU MÁU CỤC BỘ ỔN ĐỊNH
Nguyễn Nhật Quỳnh*, Châu Ngọc Hoa*
TÓM TẮT
Mở đầu: Ngày nay, bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ ổn định (BTTMCBOĐ) vẫn là một trong những vấn đề của sức khỏe cộng đồng Gia tăng tần số tim (TST) là một yếu tố nguy cơ mới giúp chỉ điểm tử vong và các biến
cố tim mạch trên BN BTTMCBOĐ Trong thực hành làm sàng, tần số tim (TST) vẫn chưa được quan tâm và sự
sử dụng thuốc ức chế bêta nhằm đạt tần số tim (TST) mục tiêu vẫn chưa đúng mức
Mục tiêu: Khảo sát TST và tỷ lệ sử dụng thuốc ức chế bêta trên BN BTTMCBOĐ
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên BN BTTMCBOĐ tại thời điểm xuất viện ở khoa Nội Tim mạch, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ tháng 12/2013 đến tháng 04/2014
Kết quả: Có 163 BN BTTMCBOĐ tham gia nghiên cứu trong 5 tháng tiến hành đề tài Tần số tim trung bình lúc xuất viện của BN BTTMCBOĐ là 78,6 ± 16,8 (lần/phút) Tỉ lệ BN đạt mục tiêu TST 55-60 lần/phút với điều trị BTTMCBOĐ là 6,8% Tỉ lệ sử dụng thuốc ức chế bêta trên BN BTTMCBOĐ là 50,9% Trong đó, tỉ lệ
sử dụng trong nhóm có tiền căn nhồi máu cơ tim cũ là 59,5% Loại ức chế bêta được sử dụng nhiều nhất là bisoprolol với 90,4% 100% BN trong NC không đạt tới liều đích
Kết luận: TST trong NC cao hơn so với tần số tim trên các đối tượng tượng tự trong các NC trong nước, tỷ
lệ TST đạt mục tiêu theo AHA 2012 còn rất thấp, tỷ lệ sử dụng và liều thuốc ức chế bêta còn thấp so với các nước phát triển
Từ khóa: tần số tim, bệnh tim thiếu máu cục bộ ổn định, thuốc ức chế bêta
ABTRACT
INVESTIGATING HEART RATE AND THE USAGE OF BETA BLOCKER
IN TREATMENT OF STABLE ANGINA PECTORIS
Nguyen Nhat Quynh, Chau Ngoc Hoa * Y Hoc TP Ho Chi Minh *
Supplement of Vol 20 - No 1 - 2016: 133 - 139
Background: Nowadays, stable angina pectoris is still one of public health issues Increasing heart rate is a new predictor of mortality and major cardiovascular events in patient with stable angina pectoris In clinical practice, increasing heart rate in population of stable angina pectoris has not been concerned and the usage of beta blocker in treatment of those patients has not been used adequately
Objectives: To survey heart rate and the percentage of using beta blocker in treatment of stable angina pectoris
Methods: A cross-sectional study was carried out from December 2013 to April 2014 to investigate patients with stable angina pectoris at the time of discharge at the Cardiovascular Department, Nhan Dan Gia Dinh Hospital
Results: 163 patients participated in our study in 5 months The average heart rate at the time of discharge of patients with stable angina pectoris is 78.6 ± 16.8 (pulse/minute) The percentage of patients who achieve heart rate target 55-60 pulse/minute with treatment of stable angina pectoris is 6.8% The beta blocker usage rate
* Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2among these patients is 50.9%, and 59.5% patients had prior myocardial infarction Bisoprolol is the most common type of beta blocker that had been used with percentage of 90.4% 100% patients did not achieve optimal dose of beta blocker
Conclusions: Heart rate of patients with stable angina pectoris was higher than heart rate of those in domestic studies, the percentage of patients who achieve heart rate target of AHA 2012 was still low, the rate of usage and dose of beta blocker was lower than those in developed countries
Key words: heart rate, stable angina pectoris, beta blocker
MỞ ĐẦU
Bệnh mạch vành là bệnh thường gặp tại các
nước phát triển và có xu hướng gia tăng rất
nhanh ở các nước đang phát triển Theo ước tính
tại Hoa Kỳ hiện có khoảng 13 triệu người mắc
bệnh và bệnh mạch vành là nguyên nhân gây tử
vong hàng đầu ở cả nam và nữ giới(11) Trong dân
số có bệnh lý vành mạn, việc đánh giá tiên lượng
là một phần quan trọng trong quản lý bệnh nhân
BTTMCBOĐ Trong các NC mới đây, các yếu tố
nguy cơ mới như tần số tim được chứng minh là
chỉ điểm cho tử vong và các biến cố tim mạch
trên bệnh nhân BTTMCBOĐ(1,3,4,6,12,13,15,20,21,22,24,26,30,31)
Giảm tần số tim giúp cải thiện chức năng mạch
máu, ngừa quá trình xơ vữa trong một số NC
thực nghiệm, từ đó thay đổi một số yếu tố nguy
cơ tiềm năng có thể tác động thay đổi
2012 và Hiệp hội tim Châu Âu 2006 cùng đưa ra
tần số tim mục tiêu trên BN BTTMCBOĐ là 55-60
lần/phút(26,5,11) Ngoài các tác dụng đã biết trên
bệnh lý BTTMCBOĐ, thuốc ức chế bêta còn là
loại thuốc phổ biến nhất trong ba loại thuốc có
tác dụng làm giảm tần số tim hiện nay (cùng với
verapamil và ivabradine) Tuy nhiên, trên thực
tế, việc sử dụng thuốc ức chế bêta trong bệnh lý
mạch vành vẫn còn nhiều hạn chế và kiểm soát
tần số tim vẫn chưa được các bác sĩ lâm sàng
quan tâm NC của tác giả Kinsara và CS (2011)
cho thấy 82,28% BN BTTMCBOĐ tại phòng
khám được sử dụng thuốc ức chế bêta nhưng chỉ
4,2% BN có tần số tim đạt mục tiêu dưới 60
lần/phút(18) Tại Việt Nam chưa có NC về tần số
tim trên đối tượng bệnh nhân BTTMCBOĐ và
việc sử dụng thuốc ức chế bêta nhằm đạt được
tần số tim mục tiêu như thế nào
ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân BTTMCBOĐ nhập khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ tháng 12/2013 đến tháng 04/2014
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên đã và được chẩn đoán BTTMCBOĐ nhập khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Nhân Dân Gia Định
BTTMCBOĐ được định nghĩa bằng 1 trong các tiêu chuẩn sau:
-Có tiền căn bệnh mạch vành được chẩn đoán tại BV
-Tiền căn tái thông mạch vành trên 3 tháng -Tiền căn hội chứng vành cấp trên 3 tháng -Chụp mạch vành có bằng chứng hẹp ít nhất 50% các nhánh mạch vành chính
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân đang có các bệnh cấp tính : hội chứng vành cấp, đợt cấp COPD, cơn hen phế quản cấp, viêm họng cấp…
Bệnh nhân bị Alzheimer hay có rối loạn tâm thần
Bệnh nhân có tiền căn và đang điều trị bệnh
lý tuyến giáp
Bệnh nhân có thai
Bệnh nhân đang sử dụng các thuốc làm tăng hay giảm tần số tim ngoài các thuốc tim mạch như: Aminophyline, Salbutamol, Ipratropium, Isoproterenol, Levothyroxine, Fluxetine, Amitriptyline, Doxepin
Trang 3Bệnh nhân được chẩn đoán suy nút xoang,
block AV độ 3, đặt máy tạo nhịp
Bệnh nhân suy tim NYHA IV
Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào NC
Phương pháp thu thập số liệu
Sau khi nhập viện, BN sẽ được hỏi thăm
bệnh sử và khám lâm sàng, tiến hành phỏng vấn
bảng câu thu thập số liệu, theo dõi diễn tiến
trong quá trình điều trị Khi BS trực tiếp điều trị
cho chỉ định xuất viện, chúng tôi sẽ tiến hành đo
điện tâm đồ để xác định tần số tim.Trước khi
tiến hành đo, chúng tôi giải thích và dặn dò bệnh
nhân nằm nghỉ tại giường trong 5 phút, khi đó
chúng tôi tiến hành đo điện tim Điện tim 12
chuyển đạo sau khi đo xong sẽ được tính tần số
tim dựa vào khoảng trung bình 5 đoạn P-P của 5
chuyển đạo liên tiếp
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Các số liệu được lấy thông qua qua việc hỏi
bệnh sử, tiền căn, hồ sơ sức khỏe, khám lâm sàng
và hồ sơ bệnh án theo mẫu phiếu thu thập số
liệu (phụ lục 2) Nhập số liệu bằng phần mềm
Stata 12.0 for Windows
KẾT QUẢ
Đặc điểm dân số nghiên cứu
Bảng 1: Đặc điểm dân số – xã hội
Biến số Tần số Tỷ lệ (%)
Nhóm tuổi
< 45 3 1,8
45 – 54 21 12,9
55 – 64 46 28,2
≥ 65 93 57,1 Nơi cư trú TP HCM 147 90,2
Tỉnh 16 9,8 Bảo hiểm y tế 148 90,8
Tuổi trung bình của BN trong NC là 67,8
±12,2 (tuổi) và tập trung nhiều nhất ở nhóm tuổi
trên 65 tuổi 70-79 tuổi Giới nữ chiếm đa số với tỉ
số nữ:nam là 1,8:1
Suy tim và bệnh lý van tim là hai bệnh lý tim
mạch đi kèm chiếm tỉ lệ cao nhất (45,4% và
44,8%), tai biến mạch máu não cũ chiếm 5,5%
Biểu đồ 1: Tỉ lệ phần trăm các yếu tố nguy cơ tim mạch
Phần lớn BN được chẩn đoán BTTMCBOĐ dưới 5 năm (40%) 25,8% BN có nhồi máu cơ tim
cũ và 17, 2% BN đã đặt stent mạch vành Số BN
có giảm độ lọc cầu thận trong nghiên cứu là 42
BN, chiếm tỷ lệ 32,9% Tỉ lệ thiếu máu BN BTTMCBOĐ có suy tim chiếm đến 48,6% trường hợp thiếu máu trong NC, trong khi tỷ lệ thiếu máu trong BN vành mạn có bệnh thận mạn chỉ chiếm 20% trường hợp có thiếu máu, trường hợp
BN có kèm cả suy tim và bệnh thận mạn chiếm 10,5% BN thiếu máu
Biểu đồ 2: Tỉ lệ các loại thuốc sử dụng trên BN BTTMCBOĐ
Biểu đồ 3: Số BN theo các nhóm tần số tim khi xuất viện của BN BTTMCBOĐ
>90 l/ph <60 l/ph
9,2%
<60-69 l/ph 22,1%
<70-79 l/ph 27,6%
<80-89 l/ph 24,5%
Trang 4Tần số tim lúc xuất viện của BN BTTMCBOĐ
là 78,6 ± 16,8 lần/phút Tần số tim trung bình ở
nhóm có kèm rung nhĩ cao hơn nhóm không
kèm rung nhĩ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Tương tự, tần số tim trung bình ở nhóm có kèm
suy tim cao hơn nhóm không kèm suy tim và sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê
Biểu đồ 4: Phân bố tần số tim theo sử dụng thuốc ức
chế bêta
Bảng 2: Các liều sử dụng thuốc ức chế bêta
Loại ức chế bêta Bisoprolol (N=75) Metoprolol (N=6)
Liều trung bình 2,6 ± 1,4 mg 45,8 ± 10,2 mg
Liều cao nhất 5 mg 50 mg
Liều thấp nhất 0,6 mg 25 mg
Khi so sánh với liều đích của bisoproplol
theo NC CIBIS 2 là 10 mg và liều đích của
metoprolol theo tác giả Hiajmarson là 200 mg, có
82,8% BN sử dụng dưới 25% liều đích và không
có BN nào sử dụng quá 50% liều đích
BÀN LUẬN
Tần số tim trong dân số nghiên cứu
NC của chúng tôi ghi nhận tần số tim trung
bình trên BN BTTMCBOĐ khi xuất viện là 78,6 ±
16,8 lần/phút, cao hơn trong NC CLARIFY (2010)
và tác giả Trần Thị Minh Phủ (2005), tương
đương với tác giả Kinsara và CS (2005), và thấp
hơn so với NC REDUCTION (2009)(17,18,25,28)
Các điểm khác biệt này có thể được giải thích
như sau: NC CLARIFY thu thập tần số tim nền
trên BN ngoại trú và loại các trường hợp nhập
viện vì nguyên nhân tim mạch trong vòng 3
tháng Tác giả Kinsara và CS tiến hành NC đa
trung tâm, quan sát cắt ngang khảo sát tần số tim
trên BN BTTMCBOĐ, có tần số tim tương tự với
BN trong NC của chúng tôi tại thời điểm xuất viện NC REDUCTION có tần số tim cao hơn do khảo sát trong điều kiện thực hành lâm sàng ở phòng khám hàng ngày với nhiều bệnh phối hợp, nhiều thuốc tương tác, đáng ghi nhận là COPD chiếm 33,4%, hen phế quản 13,4%, bệnh động mạch ngoại biên 15%, vốn là các chống chỉ định tương đối của thuốc ức chế bêta Đồng thời dân số trong NC có tỉ lệ sử dụng giãn phế quản dạng hít 28,6%, theophyline và levothyrox uống lần lượt chiếm 9,1% và 6,8%, đây là các thuốc làm tăng tần số tim Đây là lý do tần số tim trong
NC của chúng tôi thấp hơn do đã loại bỏ các trường hợp sử dụng các loại thuốc có ảnh hưởng đến tần số tim ra khỏi NC(17,18,25,28)
Tỉ lệ tần số tim dưới 60 lần/phút trong điều trị bệnh tim thiếu máu cục bộ ổn định
Trong NC của chúng tôi, tỉ lệ BN BTTMCBOĐ có tần số tim lúc xuất viện trong giai đoạn ổn định đạt mục tiêu dưới 60 lần/phút
là 9,2%, thấp hơn so với NC CLARIFY (2010), và cao hơn so với NC của Kinsara và CS (2011), do thiết kế NC của chúng tôi có vài điểm khác biệt(18,25):
Số liệu nền của NC CLARIFY (2012) như
đã đề cập ở phần trên, là số liệu cắt ngang mô
tả nhưng có tỉ lệ BN BTTMCBOĐ đã được điều trị tái tưới máu trên 3 tháng là rất cao (72,1% so với chúng tôi là 17,2%) đã góp phần làm tăng khả năng gắng sức và tưới máu cơ tim, qua đó làm giảm tần số tim Đồng thời do trên đối tượng đã từng có biến cố tim mạch, ức chế bêta được chứng minh hiệu quả cải thiện
dự hậu nên tỉ lệ sử dụng thuốc ức chế bêta sử dụng đến 75,1% trước NC, cũng có tác dụng làm giảm tần số tim và tăng tỉ lệ tần số tim đạt mục tiêu cao hơn chúng tôi NC Kinsara và CS (2011) là NC cắt ngang khảo sát tần số tim trên
BN BTTMCBOĐ và các thuốc sử dụng, tương
tự với chúng tôi, nhưng có tỉ lệ tần số tim đạt
Trang 5mục tiêu thấp hơn là có thể là do NC có tiêu
chuẩn lấy mẫu các trường hợp có tiền căn nhồi
máu cơ tim cũ/can thiệp mạch vành nhưng
không nói rõ sau bao nhiêu tháng, đồng thời
NC này loại trừ các BN suy tim(18,25) Theo như
khuyến cáo của AHA (2012) và ESC (2006), tần
số tim mục tiêu là 55-60 lần/phút, tỷ lệ đặt mục
tiêu trong NC của chúng tôi là 6,8% Chúng tôi
không tìm ra được các NC tham chiếu có
thống kê chỉ số này để so sánh, tuy nhiên tỷ lệ
này ghi nhận tình hình kiểm soát tần số tim
theo đúng khuyến cáo vẫn còn rất hạn chế
Tỉ lệ sử dụng thuốc ức chế bêta trong
nghiên cứu
Theo ghi nhận trong NC, chúng tôi nhận
thấy tỉ lệ sử dụng thuốc ức chế bêta thấp hơn
so với các NC khác, sở dĩ có sự khác biệt về tỉ
lệ nêu trên là do sự khác biệt về mức độ và
thời điểm đưa ra khuyến cáo
EUROASPIRE III (2009) cho thấy sự cải thiện
rõ rệt tỉ lệ sử dụng thuốc ức chế bêta tại các
nước Châu Âu trong 8 năm (từ 66% lên 80%)
Năm 2006 ESC chính thức khuyến cáo ức chế
bêta là thuốc thuộc chỉ định loại 1 (bắt buộc
phải dùng cho BN trừ trường hợp có chống
chỉ định) Sức ảnh hưởng của khuyến cáo 2006
và chính cộng đồng chính trong NC của ESC
là Châu Âu, đồng thời là đối tượng khảo sát
trong NC EUROASPIRE III là nguyên nhân tỉ
lệ sử dụng thuốc ức chế bêta tăng vọt NC
CLARIFY, NC REALITY đều khảo sát cắt
ngang việc thực hành lâm sàng tại phòng
khám ngoại trú trong quản lý bệnh lý
BTTMCBOĐ, đây là 2 công trình NC đa quốc
gia, riêng NC CLARIFY được thực hiện ở 45
quốc gia, trên BN ổn định nên rất có ý nghĩa
trong việc đại diện cho dân số mạch vành trên
thế giới NC REALITY có thiết kế NC tương tự
thực hiện tại 2 nước Thụy Sỹ và Latvia cho thấy tỉ lệ sử dụng thuốc ức chế bêta rất cao, 2
NC này nhằm khảo sát tần số tim và đáp ứng giảm tần số tim với sự sử dụng ức chế bêta gần như tối ưu trong lâm sàng Sự khác biệt về
vị trí địa lý và các hướng dẫn lâm sàng của mỗi châu lục thể hiện rõ khi NC Kinsara thực hiện tại Ai Cập và Ả Rập có kết quả không cao như các NC tại Châu Âu NC CLARIFY khi khảo sát nhiều quốc gia thuộc nhiều châu lục cũng có kết quả tỉ lệ sử dụng không cao như ở khảo sát riêng khu vực Châu Âu(2,9,19,25)
Tại Việt Nam, NC của tác giả Võ Thị Dễ (2009) trên 514 BN đã đặt can thiệp mạch vành tại BV Chợ Rẫy và BV Đại học Y Dược TPHCM ghi nhận 90,9% BN được sử dụng thuốc ức chế bêta khi xuất viện, NC của tác giả
Hồ Tấn Thịnh (2012) khảo sát trên 174 BN mạch vành đã đặt can thiệp tại Viện Tim, ghi nhận tỉ lệ sử dụng ức chế bêta là 71,3%, số liệu
từ 2 NC này cao hơn so với NC của chúng tôi,
có thể giải thích vì lý do sau: tác giả NC trên đối tượng BN mạch vành sau can thiệp, đối tượng này được nhiều khuyến cáo mạnh mẽ hơn về việc sử dụng thuốc ức chế bêta trong điều trị, trong khi nhóm BN sau can thiệp trong NC của chúng tôi chỉ chiếm 17,2%(16,18)
KẾT LUẬN
Qua NC 163 trường hợp BN BTTMCBOĐ tại Khoa Tim mạch BV Nhân Dân Gia Định, chúng tôi nhận thấy tần số tim trung bình lúc xuất viện của BN BTTMCBOĐ là 78,6 ± 16,8 (lần/phút) cao hơn so với các NC trong nước Tỉ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu tần số tim 55-60 lần/phút với điều trị BTTMCBOĐ là 6,8% còn rất thấp so với thế giới Trong khi đó, tỉ lệ sử dụng thuốc ức chế bêta trên BN BTTMCBOĐ chỉ đạt 50,9%, tỉ lệ sử dụng trong nhóm có tiền căn nhồi máu cơ tim cũ
Trang 6là 59,5% Loại ức chế bêta được sử dụng nhiều
nhất là bisoprolol với 90,4% và 100% BN trong
NC không đạt tới liều đích
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Arnold JM, Fitchett DH, Howlett JG, Lonn EM & Tardif JC
(2008) Resting heart rate: a modifiable prognostic indicator of
cardiovascular risk and outcomes? Can J Cardiol 2008 May;24
Suppl A:3A-8A
2 Balode I, Jagere S, Mintale I, Narbute I, Zakke I, Latkovskis G, et
al (2010) Current state of angina treatment in the outpatient
population and heart rate monitoring survey in Latvia (RELITY
LATVIA) Paper presented at the Proceedings of the Latvian
Academy of Sciences Section B Natural, Exact, and Applied
Sciences
3 Barrios V, Escobar C, Bertomeu V, Murga N, de Pablo C & Asan
E (2009) High heart rate: More than a risk factor Lessons from a
clinical practice survey International Journal of Cardiology, 137(3),
292-294
4 Borer JS (2008) Heart rate: from risk marker to risk factor
European Heart Journal Supplements, 10(suppl F), F2-F6
5 Committee M, Gibbons RJ, Abrams J, Chatterjee K, Daley J,
Deedwania PC, et al (2003) ACC/AHA 2002 Guideline Update
for the Management of Patients With Chronic Stable Angina
Summary Article: A Report of the American College of
Cardiology/American Heart Association Task Force on Practice
Guidelines (Committee on the Management of Patients With
Chronic Stable Angina) Circulation, 107(1), 149-158
6 Cooney MT, Vartiainen E, Laakitainen T, Juolevi A, Dudina A &
Graham IM (2010) Elevated resting heart rate is an independent
risk factor for cardiovascular disease in healthy men and
women American heart journal, 159(4), 612-619 e613
7 Cucherat, M & Borer, J S (2011) Reduction of resting heart rate
with antianginal drugs: review and meta-analysis Am J Ther,
19(4), 269-280
8 Daly CA, Clemens F, Sendon JL, Tavazzi L, Boersma E, Danchin
N, et al (2010) Inadequate control of heart rate in patients with
stable angina: results from the European heart survey Postgrad
Med J 2010 Apr;86(1014):212-7 doi: 10.1136/pgmj.2009.084384
9 EUROASPIRE II Study Group (2001) Lifestyle and risk factor
management and use of drug therapies in coronary patients
from 15 countries; principal results from EUROASPIRE II Euro
Heart Survey Programme Eur Heart J 2001 Apr;22(7):554-72
10 Feldman D, Elton TS, Menachemi DM & Wexler RK (2010)
Heart rate control with adrenergic blockade: clinical outcomes in
cardiovascular medicine Vasc Health Risk Manag 2010 Jun
1;6:387-97
11 Fihn SD, Gardin JM, Abrams J, Berra K, Blankenship JC, Dallas
AP, et al (2012) 2012 ACCF/AHA/ACP/AATS/PCNA/SCAI/STS
Guideline for the diagnosis and management of patients with
stable ischemic heart disease: a report of the American College of
Cardiology Foundation/American Heart Association Task Force
on Practice Guidelines, and the American College of Physicians,
American Association for Thoracic Surgery, Preventive
Cardiovascular Nurses Association, Society for Cardiovascular
Angiography and Interventions, and Society of Thoracic
Surgeons J Am Coll Cardiol 2012 Dec 18;60(24):e44-e164 doi:
10.1016/j.jacc.2012.07.013 Epub 2012 Nov 19
12 Fox K, Borer JS, Camm AJ, Danchin N, Ferrari R, Lopez Sendon
JL, et al (2007) Resting heart rate in cardiovascular disease J Am
Coll Cardiol, 50(9), 823-830
13 Fox K, Ford I, Steg PG, Tendera M, Robertson M & Ferrari R (2008) Heart rate as a prognostic risk factor in patients with coronary artery disease and left-ventricular systolic dysfunction (BEAUTIFUL): a subgroup analysis of a randomised controlled
trial The Lancet, 372(9641), 817-821
14 Fox K, Ford I, Steg PG, Tendera M, Robertson M & Ferrari R (2009) Relationship between ivabradine treatment and cardiovascular outcomes in patients with stable coronary artery disease and left ventricular systolic dysfunction with limiting angina: a subgroup analysis of the randomized, controlled
BEAUTIFUL trial Eur Heart J 2009 Oct;30(19):2337-45 doi:
10.1093/eurheartj/ehp358 Epub 2009 Aug 31
15 Greenland P, Daviglus ML, Dyer AR, Liu K, Huang CF, Goldberger JJ, et al (1999) Resting heart rate is a risk factor for cardiovascular and noncardiovascular mortality: the Chicago
Heart Association Detection Project in Industry Am J Epidemiol,
149(9), 853-862
16 Hồ Tấn Thịnh (2012) Nghiên cứu đáp ứng tiểu cầu bằng xét nghiệm chức năng tiểu cầu trong điều trị bệnh lý mạch vành
Luận văn Thạc sĩ Y học
17 Kaster R, Kaehler J & Meinertz T (2009) Treatment of stable angina pectoris by ivabradine in every day practice: The
REDUCTION Study American Heart Journal, 158(4), e51-e57
18 Kinsara AJ, Najm HK, Anazi MA & Tamim H (2011) Resting heart rate in patients with ischemic heart disease in Saudi Arabia
and Egypt Journal of the Saudi Heart Association, 23(4), 225-232
19 Kotseva K, Wood D, De Backer G, De Bacquer D, Pyorala K & Keil U (2009) EUROASPIRE III: a survey on the lifestyle, risk factors and use of cardioprotective drug therapies in coronary
patients from 22 European countries Eur J Cardiovasc Prev
10.1097/HJR.0b013e3283294b1d
20 Orso F, Baldasseroni S & Maggioni AP (2009) Heart Rate in
Coronary Syndromes and Heart Failure Progress in
Cardiovascular Diseases, 52(1), 38-45
21 Perret-Guillaume C, Joly L & Benetos A (2009) Heart Rate as a
Risk Factor for Cardiovascular Disease Progress in Cardiovascular
Diseases, 52(1), 6-10
22 Ruiz Ortiz M, Romo E, Mesa D, Delgado M, Ogayar C, Castillo
JC, et al (2010) Prognostic value of resting heart rate in a broad population of patients with stable coronary artery disease:
prospective single-center cohort study Rev Esp Cardiol, 63(11),
1270-1280
23 Schwartz JB, Jackson G, Kates RE & Harrison DC (1981) Long-term benefit of cardioselective beta blockade with once-daily
atenolol therapy in angina pectoris American Heart Journal,
101(4), 380-385
24 Seccareccia F, Pannozzo F, Dima F, Minoprio A, Menditto A, Lo Noce C, et al (2001) Heart rate as a predictor of mortality: the
MATISS project Am J Public Health 2001 Aug;91(8):1258-63
25 Steg PG, Ferrari R, Ford I, Greenlaw N, Tardif JC, Tendera M, et
al (2012) Heart rate and use of beta-blockers in stable
outpatients with coronary artery disease PLoS One
2012;7(5):e36284 doi: 10.1371/journal.pone.0036284 Epub 2012 May 3
26 Tardif JC (2009) Heart rate as a treatable cardiovascular risk
factor Br Med Bull 2009;90:71-84 doi: 10.1093/bmb/ldp016 Epub
2009 May 27
Trang 727 Task Force Members, et al (2013) 2013 ESC guidelines on the
management of stable coronary artery disease: the Task Force on
the management of stable coronary artery disease of the
European Society of Cardiology European Heart Journal, 34,
2949–3003
28 Trần Thị Minh Phủ (2005) Khảo sát đặc điểm lâm sàng và cận
lâm sàng của bệnh suy mạch vành mạn ở người phụ nữ có tuổi
Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y dược TP.HCM
29 Võ Thị Dễ (2009) Nghiên cứu sự tuân thủ điều trị của bệnh
nhân động mạch vành đã được can thiệp Luận văn Tiến sĩ Y học,
Đại học Y dược TP.HCM
30 Woodward M, Webster R, Murakami Y, Barzi F, Lam TH, Fang
X, et al (2012) The association between resting heart rate,
cardiovascular disease and mortality : evidence from 112,680
men and women in 12 cohorts European Journal of Preventive
Cardiology
31 Zhang GQ & Zhang W (2009) Heart rate, lifespan, and
mortality risk Ageing Research Reviews, 8(1), 52-60
Ngày nhận bài báo: 20/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 23/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 15/02/2016