1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỉ lệ tầm soát HIV muộn ở sản phụ đến sinh tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Hùng Vương

6 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 308,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định tỉ lệ tầm soát HIV muộn ở các thai phụ đến sinh tại bệnh viện Từ Dũ và bệnh viện Hùng Vương và mối liên quan của việc khám thai (thời điểm khám lần đầu, nơi khám, sự tư vấn của nhân viên y tế về tầm soát HIV) với tỉ lệ tầm soát HIV muộn.

Trang 1

TỈ LỆ TẦM SOÁT HIV MUỘN Ở SẢN PHỤ ĐẾN SINH

TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ VÀ BỆNH VIỆN HÙNG VƯƠNG

Đoàn Trung Hiếu*, Lê Hồng Cẩm** Huỳnh Vĩnh Phạm Uyên**

TÓM TẮT

Mở đầu: Từ 2004, Tổ chức Y tế Thế giới đã bắt đầu sử dụng thuốc kháng retrovirus trong phác đồ phòng

ngừa lây truyền HIV từ mẹ sang con kể từ tuần thứ 28 thai kỳ Qua thời gian, với sự xuất hiện của nhiều loại thuốc thế hệ mới với tính an toàn và hiệu quả đã được nghiên cứu kỹ, thời điểm bắt đầu dùng thuốc của thai phụ được khuyến cáo ngày càng sớm hơn, và hiện nay là khi vừa chẩn đoán dương tính với HIV, bất kể tuổi thai Vì vậy, việc tầm soát HIV sớm trong thai kỳ, nhất là trong 3 tháng đầu, có ý nghĩa quan trọng giúp việc dự phòng được bắt đầu kịp thời và giảm tỉ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con

Mục tiêu: Mục tiêu của nghiên cứu là xác định tỉ lệ tầm soát HIV muộn ở các thai phụ đến sinh tại bệnh

viện Từ Dũ và bệnh viện Hùng Vương và mối liên quan của việc khám thai (thời điểm khám lần đầu, nơi khám,

sự tư vấn của nhân viên y tế về tầm soát HIV) với tỉ lệ tầm soát HIV muộn

Thiết kế NC: Chúng tôi thực hiện nghiên cứu cắt ngang tại khoa Sanh bệnh viện Từ Dũ và bệnh viện Hùng

Vương, với phương pháp chọn mẫu phân tầng 650 thai phụ đến sinh, đủ hồ sơ khám thai để đối chiếu, chưa được chẩn đoán dương tính HIV từ trước khi mang thai, đã được phỏng vấn và thu thập số liệu qua bảng câu hỏi soạn sẵn và hồ sơ khám thai

Kết quả: Từ tháng 11/2015 đến tháng 2/2016, có 44/650 thai phụ tầm soát HIV muộn (sau tuần thứ 14 thai

kỳ), chiếm 6,7% (khoảng tin cậy 95% 4,8-8,7%) 3/4 trong số này là do thai phụ khám thai lần đầu muộn, hoặc hoàn toàn không khám thai; 1/4 còn lại các thai phụ khám thai lần đầu sớm nhưng vẫn bị tầm soát HIV muộn Các thai phụ khám thai lần đầu tại trạm y tế có tỉ lệ tầm soát HIV muộn cao gấp 25-50 lần so với các thai phụ khám thai lần đầu tại bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh hoặc bệnh viện chuyên khoa sản (p<0,001) Các thai phụ khám thai lần đầu tại cơ sở y tế tư nhân có tỉ lệ tầm soát HIV muộn cao gấp 2,09 lần so với các thai phụ khám thai lần đầu tại bệnh viện công (p=0,025)

Kết luận: Tầm soát HIV sớm trong thai kỳ hiện đã chiếm tỉ lệ cao, tuy nhiên còn một số trường hợp tầm soát

muộn, nên cần chú ý tăng cường tầm soát HIV cho thai phụ khám thai tại tuyến y tế cơ sở (trạm y tế) và tại cơ sở

y tế tư nhân

Từ khóa: HIV

ABSTRACT

LATE PREGNANCY HIV SCREENING PREVALENCE ATTENDING LABOUR AT TU DU HOSPITAL

AND HUNG VUONG HOSPITAL

Doan Trung Hieu, Le Hong Cam, Huynh Vinh Pham Uyen

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 21 - No 1 - 2017: 159 - 164

Introduction: Recommendations for the use antiretroviral drugs to prevent mother-to-child transmission

were first issued by WHO in 2004, however this guideline recommended prophylaxis strategies that only focused

on the last trimester of pregnancy The last few years have seen new funding opportunities and a revitalized antiretroviral drugs with highly efficacy and safety, there are considerable efforts to expand programs aimed at

Trang 2

preventing mother-to-child transmission, as well as highly active antiretroviral therapy should be started as early

as confirmed HIV infection woman irrespective of gestational age(as soon as possible thereafter).The routine HIV screening should be offered at the first prenatal visit, as the ideal time to initiate treatment of the HIV positive, which can be decrease the rate of vertical transmission

Objective: The purpose of this study was to identified the late HIV screening prevalence of pregnant women

attending labor at Tu Du hospital and Hung Vuong hospital and the correlation between prenatal visit (the first prenatal visit, antenatal care clinic, the approach of the health care provider) and the late HIV screening prevalence of pregnant women

Methods: A cross-sectional study of pregnant women attending labor at the Tu Du hospital and Hung

Vuong hospital During the study period, there were 650 women pregnant in the stratified sampling with full pregnancy health record without confirmed HIV status in pre-pregnancy We collected data via the structured interview questions and pregnancy health record For the primary outcome, we estimated the prevalence of the late HIV screening of pregnant women Late HIV screening in pregnancy is defined as the first HIV test offered after

14 weeks’ gestation, (95% confidence interval) Logistic regression was used to assess the strength of an association between the late HIV screening prevalence and each factor In addition, biases were corrected by statistical evaluation via multivariate normal distribution

Results: Between November 2015 and February 2016, 44 out of 650 pregnant women (6.7%) tested HIV

after 14 weeks’ gestation (95% CI 4.8-8.7) Three in four of these women had a first prenatal appointment late or

no prenatal visit The rest women received late HIV screening despite they accessed early prenatal appointment These women who accessed the first prenatal visit at the health clinic received the pregnancy HIV screening later25-50 times compared with women who accessed at the, district hospital, province hospital, hospital of obstetrics and gynecology (p<0,001) Pregnant women who accessed at the private office were offered HIV test later 2,09 times than who had first visit at the public hospital (p=0,025)

Conclusion: Although, high rate of early pregnancy HIV screening, some pregnant women are received late

screening Health care providers who work at health clinics and private offices require focus on early universal testing HIV for all pregnant women

Key word: HIV: human immunodeficiency virus

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ 2004, Tổ chức Y tế Thế giới đã bắt đầu sử

dụng thuốc kháng retrovirus trong phác đồ

phòng ngừa lây truyền HIV từ mẹ sang con kể

từ tuần thứ 28 thai kỳ Qua thời gian, với sự xuất

hiện của nhiều loại thuốc thế hệ mới với tính an

toàn và hiệu quả đã được nghiên cứu kỹ, thời

điểm bắt đầu dùng thuốc của thai phụ được

khuyến cáo ngày càng sớm hơn, và hiện nay là

khi vừa chẩn đoán dương tính với HIV, bất kể

tuổi thai Vì vậy, việc tầm soát HIV sớm trong

thai kỳ, nhất là trong 3 tháng đầu, có ý nghĩa

quan trọng giúp việc dự phòng được bắt đầu kịp

thời và giảm tỉ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con

Việc tầm soát HIV cho thai phụ tại Việt Nam được nghiên cứu trong thời gian gần đây Theo Cao Thị Thanh Thủy, từ 2007 đến 2014, tỉ lệ thai phụ được tầm soát HIV tại Việt Nam đã tăng từ 8,2% lên đến 67,4%(2) Nguyễn Thị Kim Chi khảo sát tại TPHCM trên nhóm thai phụ nhiễm HIV, ghi nhận tỉ lệ tầm soát HIV trễ lúc chuyển dạ là 50% (2007), giảm dần còn 24% (2011), với các yếu

tố liên quan chính bao gồm: <19 tuổi, thất nghiệp, học vấn thấp, sinh tại bệnh viện đa khoa hoặc bệnh viện quận/huyện (so với nhóm sinh tại bệnh viện chuyên khoa sản), và sinh sống tại tỉnh thành khác (so với nhóm tại TP HCM)(4)

Trang 3

Hiện tại TPHCM chưa có nghiên cứu nào

khảo sát về tỉ lệ tầm soát HIV trong thai kỳ

trên dân số phụ nữ mang thai nói chung,

chúng tôi quyết định thực hiện đề tài này,

nhằm xác định tỷ lệ thai phụ tầm soát HIV

muộn và các yếu tố liên quan

Trong nghiên cứu, chúng tôi sẽ chọn mốc

tầm soát HIV muộn là khi tuổi thai ≥14 tuần, vì 3

lý do sau: (1) Hiện nay việc tầm soát HIV được

khuyến khích thực hiện càng sớm càng tốt, tốt

nhất trong 3 tháng đầu, ngay ở lần khám thai

đầu tiên Chọn thời điểm muộn hơn sẽ tạo cảm

giác trì hoãn cho cả bác sĩ lâm sàng lẫn thai phụ

(2) Khi việc tầm soát được thực hiện trong 3

tháng đầu, thời gian điều trị ARV nếu thai phụ

nhiễm HIV sẽ dài nhất, giúp đạt hiệu quả ức chế

nồng độ vi-rút tốt nhất, làm giảm tỉ lệ lây truyền

HIV mẹ-con (3) Các nghiên cứu gần đây nhất

cũng có xu hướng chọn thời điểm 14 tuần để làm

mốc phân chia sớm/muộn cho việc tầm soát

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định tỉ lệ tầm

soát HIV muộn ở các thai phụ đến sinh tại bệnh

viện Từ Dũ và bệnh viện Hùng Vương và mối

liên quan của việc khám thai (thời điểm khám

lần đầu, nơi khám, sự tư vấn của nhân viên y tế

về tầm soát HIV) với tỉ lệ tầm soát HIV muộn

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu cắt ngang tại

khoa Sanh bệnh viện Từ Dũ và bệnh viện Hùng

Vương, trong thời gian từ tháng 11/2015 đến

tháng 2/2016

Cỡ mẫu được ước lượng theo công thức tính

cỡ mẫu nhằm ước lượng tỉ lệ, với xác suất sai

lầm loại 1 la 0,05 và độ sai số ước tính là 0,04 Cỡ

mẫu tối thiểu cần thiết là 601 thai phụ

Chúng tôi chọn mẫu theo phương pháp

phân tầng, được 650 thai phụ thỏa tiêu chuẩn

chọn mẫu bao gồm đủ hồ sơ khám thai để đối

chiếu và chưa được chẩn đoán dương tính HIV

từ trước khi mang thai

Những thai phụ này được phỏng vấn và thu thập số liệu qua bảng câu hỏi soạn sẵn và hồ sơ khám thai Chúng tôi tính tỉ lệ tầm soát HIV muộn dựa vào thời điểm 14 tuần thai, với độ tin cậy 95%, và xác định mối liên quan giữa tỉ lệ tầm soát HIV muộn với từng yếu tố bằng phương pháp hồi quy đơn biến, loại trừ các yếu tố gây nhiễu bằng hồi quy đa biến

KẾT QUẢ

Đặc điểm dịch tễ học của dân số nghiên cứu được trình bày trong bảng 1

Bảng 1 Đặc điểm dân số nghiên cứu

(N=650)

Tỉ lệ (%)

Tuổi

Nơi cư trú

Nghề nghiệp

Nghề nghiệp chồng (n=634)

Số con hiện có

Học vấn

Trang 4

Đặc điểm Tần số

(N=650)

Tỉ lệ (%)

Một số

thói

quen

trong

thai kỳ

Chất

kích thích

Trong tổng số 650 thai phụ, có 44 thai phụ

tầm soát HIV muộn (sau tuần thứ 14 thai kỳ),

chiếm 6,7% (khoảng tin cậy 95% 4,8-8,7%) 3/4

trong số này (33 trường hợp) là do thai phụ

khám thai lần đầu muộn hoặc hoàn toàn không

khám thai; 1/4 các trường hợp còn lại là các thai

phụ khám thai lần đầu sớm nhưng vẫn bị tầm

soát HIV muộn Số liệu cụ thể được trình bày

trong bảng 2

Bảng 2 Đặc điểm về nơi khám thai, thời điểm khám

thai và thời điểm tầm soát HIV

Nơi khám thai

lần đầu

(N=650)

Phòng khám tư,

Khám thai muộn

(n=646)

Lý do

khám muộn/

không khám thai

(n=33)

Nghĩ rằng không cần

Không có thời gian

Được tầm soát HIV

khi chẩn đoán

có thai

(N=650)

Thời điểm

tầm soát HIV

(N=650)

Chúng tôi thực hiện phân tích hồi quy đơn biến giữa tỉ lệ tầm soát HIV muộn với các biến số độc lập bao gồm yếu tố dịch tễ và yếu tố của việc khám thai, và tìm được 8 biến số có giá trị P<0,2, bao gồm: (1) tuổi, (2) nghề nghiệp của thai phụ

và (3) của chồng, (4) tình trạng hôn nhân, (5) học vấn, các thói quen (6) hút thuốc và (7) uống rượu, (8) nơi khám thai lần đầu

Riêng về nơi khám thai lần đầu, khi chia 2 nhóm cơ sở y tế công (gồm trạm y tế, BV Quận/Huyện, BV Tỉnh, BV chuyên khoa sản)

và cơ sở y tế tư nhân, chúng tôi nhận thấy các thai phụ khám thai lần đầu tại cơ sở y tế tư nhân có tỉ lệ tầm soát HIV muộn cao gấp 2,09 lần so với các thai phụ khám thai lần đầu tại

cơ sở y tế công (p=0,025)

Chúng tôi đưa 8 yếu tố này vào phân tích hồi quy đa biến nhằm kiểm soát các yếu tố gây nhiễu hoặc đồng tác lên tỉ lệ tầm soát HIV muộn (bảng 3)

Sau khi phân tích đa biến, chúng tôi nhận thấy chỉ có yếu tố nghề nghiệp và nơi khám thai lần đầu liên quan đến tỉ lệ tầm soát HIV muộn Thai phụ làm nội trợ có tỉ lệ tầm soát HIV muộn thấp nhất Những thai phụ làm nghề kinh doanh và công nhân viên chức lần lượt có tỉ lệ tầm soát HIV muộn bằng 24,6 lần (P=0,004) và 10,5 lần (P=0,039) so với thai phụ làm nội trợ.Những thai phụ có chồng làm nghề kinh doanh có tỉ lệ tầm soát HIV muộn bằng 0,05 lần

so với những thai phụ không có chồng (P=0,037) Các thai phụ khám thai lần đầu tại trạm y tế

có tỉ lệ tầm soát HIV muộn cao gấp 25-50 lần so với các thai phụ khám thai lần đầu tại bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh hoặc bệnh viện chuyên khoa sản (p<0,001)

Bảng 3 Phân tích đa biến các yếu tố liên quan đến tầm soát HIV muộn

Tuổi

Trang 5

Đặc điểm Sớm (n=606) (%) Muộn (n=40) (%) OR (*) KTC 95% P (**)

Nghề nghiệp

Tình trạng chồng

Trình độ học vấn

Nơi khám thai lần đầu

(*) OR hiệu chỉnh (**) Logistic regression đa biến

BÀN LUẬN

Đa số thai phụ trong nghiên cứu (93,2%) đều

được tầm soát HIV sớm trước 14 tuần của thai

kỳ Số thai phụ không được tầm soát trong thai

kỳ, mà chỉ đến khi vào chuyển dạ mới được tầm

soát rất ít, chỉ chiếm 1,4%

Bảng 4 So sánh thời điểm tầm soát HIV giữa các

nghiên cứu

Thời điểm

tầm soát

Tần số (%)

<14 tuần 14-34 tuần >34 tuần Chuyển dạ

Nhìn chung, thời điểm tầm soát của thai phụ

trong nghiên cứu của chúng tôi sớm hơn so với

đó Điều này được ghi nhận là do chương trình phòng chống lây truyền HIV mẹ-con được áp dụng liên tục từ 2004 đến nay đã có hiệu quả, giúp tỉ lệ tầm soát sớm tăng dần lên theo thời gian Chương trình tầm soát và điều trị HIV cho thai phụ cũng thay đổi theo khuynh hướng ngay sau khi phát hiện thai phụ có thai

Qua nghiên cứu chúng tôi thấy có mối liên quan giữa thai phụ làm các nghề kinh doanh và công nhân viên với tầm soát HIV muộn so với thai phụ làm nội trợ tăng lên lần lượt 24,7 lần (KTC 95% 2,83-214,6) và 10,5 lần (KTC 95% 1,13-98,3) Các nhóm nghề còn lại cũng liên quan đến tầm soát HIV muộn nhưng sự khác biệt không

có ý nghĩa thống kê Kết quả này không thống nhất với kết quả của N.T.K.Chi (phụ nữ thất nghiệp tăng nguy cơ tầm soát muộn 1,21 lần)(4)

Sự khác biệt này có thể do đối tượng trong

Trang 6

nên tình trạng hôn nhân và cuộc sống gia đình

của họ không hoàn toàn ổn định, nên thai phụ

không có đủ điều kiện để tiếp cận đầy đủ các

dịch vụ y tế Ngược lại, chúng tôi nghiên cứu

trên phụ nữ đến sinh bình thường, gần như toàn

bộ trong số đó đã kết hôn, nên làm nội trợ không

được xem như là thất nghiệp hoàn toàn, mà vẫn

có điều kiện để tiếp cận các dịch vụ y tế Mặt

khác, so với những thai phụ làm một nghề cụ thể

khác, thai phụ nội trợ có nhiều thời gian hơn

trong việc chăm sóc sức khoẻ trong thai kỳ, nên

giúp làm giảm tỉ lệ tầm soát HIV muộn

Ngoài nghề nghiệp của thai phụ, nghiên cứu

của chúng tôi còn có ghi nhận thêm ảnh hưởng

của nghề nghiệp chồng thai phụ, trong đó nhóm

nghề kinh doanh và công nhân viên chức làm

giảm tỉ lệ tầm soát muộn khá đáng kể, còn 0,05

và 0,07 lần Điều này cho thấy có thể nghề

nghiệp của chồng có liên quan đến các kiến thức

về chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho phụ nữ, trong

đó nhóm kinh doanh và công nhân viên chức

tiếp xúc được với nhiều nguồn thông tin hơn (so

với nhóm thất nghiệp, nông dân, công nhân), từ

đó có kiến thức tốt hơn, và góp phần giúp đỡ cho

người phụ nữ có hành vi đúng về chăm sóc sức

khoẻ sinh sản như đi khám thai sớm và tầm soát

HIV sớm Tuy nhiên, chúng tôi chưa tìm thấy

những nghiên cứu khác có xem xét ảnh hưởng

của nghề nghiệp của chồng lên tỉ lệ tầm soát HIV

muộn của thai phụ, và kết quả trong nghiên cứu

này cũng chưa thực sự rõ ràng, nên cần thêm

những nghiên cứu khác với cỡ mẫu lớn hơn để

có thể đánh giá chính xác

Theo nghiên cứu của chúng tôi, thai phụ

khám thai lần đầu tại các cơ sở y tế từ tuyến

quận trở lên hoặc các cơ sở y tế tư nhân đều có tỉ

lệ tầm soát HIV muộn giảm từ 8 đến 50 lần so

với thai phụ khám thai tại trạm y tế, với P<0,05

Tỉ lệ này thấp nhất khi thai phụ khám thai lần

đầu tại bệnh viện tuyến tỉnh hoặc bệnh viện

chuyên khoa sản Điều này được giải thích là vì

tại các bệnh viện tuyến trên, đã có quy trình khám thai chuẩn cho mọi thai phụ đến khám và

có đủ cơ sở vật chất để thực hiện việc xét nghiệm tại chỗ Do đó, thai phụ khám thai lần đầu sớm tại những nơi này, sau khi được chẩn đoán có thai thì sẽ được tầm soát HIV sớm Trong khi đó, tại các trạm y tế, vì thiếu nhân lực có chuyên môn (bác sĩ đa khoa hoặc bác sĩ sản khoa), nên

dù thai phụ có khám thai sớm, thì cũng chưa chắc được chỉ định tầm soát sớm, hay nếu có chỉ định thì cũng phải làm xét nghiệm ở một nơi khác, từ đó góp phần gây ra sự chậm trễ trong việc tầm soát HIV

KẾT LUẬN

Tầm soát HIV sớm trong thai kỳ hiện đã chiếm tỉ lệ cao, tuy nhiên còn một số trường hợp tầm soát muộn, nên cần chú ý tăng cường tầm soát HIV cho thai phụ khám thai tại tuyến y tế cơ

sở (trạm y tế) và tại cơ sở y tế tư nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y Tế, Báo cáo số 145/BC-BYT Công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2015 và các nhiệm vụ trọng tâm năm 2016

2 Cao Thị Thanh Thủy (2015) Can thiệp Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con ở trẻ dưới 18 tháng tuổi được làm xét nghiệm PCR tại 29 tỉnh, 2010- 2012: Hội nghị khoa học quốc gia

về phòng chống HIV/AIDS lần thứ VI

3 Fitz Harris LF, Taylor AW, Zhang F, Borkowf CB, Arthur BC,

et al (2014), "Factors associated with human immunodeficiency virus screening of women during pregnancy, labor and

delivery, United States, 2005-2006".Matern Child Health J, 18 (3),

pp 648-56

4 Nguyễn Thị Kim Chi, Phạm Thị Hải Ly, Tiêu Thị Thi Vân, Nguyễn Quốc Chinh, Vũ Thị Nhung, et al (2015), Xét nghiệm HIV trễ lúc chuyển dạ, tại Tp HCM 2007-2011, Hội nghị khoa học quốc gia về HIV/AIDS lần thứ 6

5 Nguyen TT, Gammeltoft T, Rasch V (2011), "Early uptake of HIV counseling and testing among pregnant women at different levels of health facilities experiences from a

community-based study in Northern Vietnam".BMC Health

Serv Res, 11, pp 29

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/12/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 06:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w