1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả điều trị những trường hợp viêm nội mạc tử cung do vi khuẩn tiết ESBL sau mổ lấy thai

6 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 272,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liệu những trường hợp viêm nội mạc tử cung do vi khuẩn tiết ESBL có cần thiết phải điều trị thuốc kháng sinh carbapenem không? Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo loạt ca. Những trường hợp được chẩn đoán viêm nội mạc tử cung sau mổ lấy thai (MLT) tại bệnh viện Từ Dũ từ 1/5/2017 đến 1/8/2017, với kết quả nuôi cấy sản dịch có vi khuẩn tiết ESBL.

Trang 1

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NHỮNG TRƯỜNG HỢP VIÊM NỘI MẠC TỬ CUNG

DO VI KHUẨN TIẾT ESBL SAU MỔ LẤY THAI

Lê Thị Thu Hà*, Hồng Thành Tài*

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Liệu những trường hợp viêm nội mạc tử cung do vi khuẩn tiết ESBL có cần thiết phải

điều trị thuốc kháng sinh carbapenem không?

Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo loạt ca Những trường hợp được chẩn đoán viêm nội mạc tử cung sau

mổ lấy thai (MLT) tại bệnh viện Từ Dũ từ 1/5/2017 đến 1/8/2017, với kết quả nuôi cấy sản dịch có vi khuẩn tiết ESBL

Kết quả: Trên 80% các vi khuẩn tiết ESBL trong nghiên cứu nhạy với những loại kháng sinh thế hệ mới, phổ

rộng và đắt tiền: Amikacin, Imipenem, Ticarcillin/Clavulanic acid, Meropenem, Piperacillin/Tazobactam, Neltimycin Có 3 trường hợp dùng kháng sinh phù hợp kháng sinh đồ là Piperacillin/Tazobactam phối hợp Amikacin, 7 trường hợp dùng kháng sinh theo kinh nghiệm là Cefotaxim phối hợp Metronidazol và xuất viện trước khi có kết quả nuôi cấy Không có trường hợp nào phải sử dụng Imipenem, Meropenem hoặc Colistin Thời gian sử dụng kháng sinh trong nghiên cứu trung bình là 7 ngày Tất cả các trường hợp đều xuất viện, ổn về lâm sàng và xét nghiệm

Kết luận: Nhiễm vi khuẩn tiết ESBL trong viêm nội mạc tử cung sau mổ lấy thai có thể được điều trị bằng

cách làm sạch buồng tử cung, dùng các kháng sinh theo kinh nghiệm và được theo dõi chặt chẽ Việc dùng các kháng sinh mạnh như Imipenem, Meropenem hoặc Colistin là chưa thực sự cần thiết trong bệnh cảnh này

Từ khóa: Viêm nội mạc tử cung, vi khuẩn tiết ESBL

ABSTRACT

RESULTS OF TREATMENT FOR ENDOMETRITIS CAUSED BY ESBL PRODUCING BACTERIA

AFTER CESAREAN DELIVERY

Le Thi Thu Ha, Hong Thanh Tai * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 106 - 111

Objectives: Should cases of endometritis caused by ESBL producing bacteria be treated with antibiotics

carbapenem?

Methods: Case series 10 cases with diagnosis of endometritis due to ESBL producing organisms after

Cesarean delivery performed at Tu Du hospital from May 01, 2017 to August 01, 2017.

Results: More than 80% of ESBL secretion bacteria in this study are susceptible to new generation broad

spectrum antibiotics: Amikacin, Imipenem, Ticarcillin/Clavulanic acid, Meropenem, Piperacillin/Tazobactam, Neltimycin There were 3 cases of suitable antibiotics: Piperacillin/Tazobactam plus Amikacin, 7 cases of empirical antibiotics: Cefotaxime combined with Metronidazole, these cases were discharged before culture results There is

no need to use Imipenem, Meropenem or Colistin The average time of antibiotic use in the study was 7 days All cases were discharged, clinically and paraclinically stable

Conclusion: Endometritis due to ESBL producing bacteria after cesarean delivery can be treated by cleaning

the uterus, using empirical antibiotics and being monitored closely The use of antibiotics such as Imipenem,

Trang 2

Keywords: Endometritis, extended-spectrum beta-lactamase producing bacteria

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vi khuẩn tiết men ESBL đã được phát hiện

tại các bệnh viện ở Úc hơn 10 năm qua Những

vi khuẩn này hầu như tìm thấy ở những bệnh

nhân nặng đã nhập viện trong thời gian dài, đặc

biệt là ở các đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICUs)

Việc sử dụng các thiết bị y tế xâm lấn và kháng

sinh phổ rộng có khuynh hướng định vị và bị

nhiễm những vi khuẩn này(8)

Menbeta-lactamases phổ rộng ESBLs

(Extended-spectrum beta-lactamases) là những

enzyme mà chúng có khả năng kháng các kháng

sinh phổ rộng, bao gồm các cephalosporin thế hệ

thứ 3, quinolones và aminoglycisides Nhiễm

trùng do sinh vật tiết men ESBL là 1 vấn đề

nghiêm trọng, đó là kháng thuốc kháng sinh làm

tỷ lệ tử vong cao cũng như gia tăng chi phí khi

điều trị Hầu hết các nghiên cứu trước đây về

vấn đề nhiễm vi khuẩn tiết men ESBL cho thấy

vi khuẩn chỉ nhạy với carbapenem, đây là loại

kháng sinh mới, đắc tiền, dùng để dành cho

những trường hợp nhiễm khuẩn nặng Nếu sử

dụng thường xuyên có nguy cơ kháng thuốc

Mặc dù nhiễm khuẩn do vi khuẩn tiết

ESBL ngày càng gia tăng trong dân số sản

khoa, nhưng những vấn đề liên quan đến

ESBL vẫn còn chưa được quan tâm đúng mức

trong thực hành sản khoa Hiện nay, có khá

nhiều bàn cãi về chẩn đoán và điều trị ở

những trường hợp nhiễm trùng hậu sản do

nhiễm vi khuẩn tiết ESBL Câu hỏi nghiên

cứu: Liệu những trường hợp viêm nội mạc tử

cung do vi khuẩn tiết ESBL có cần thiết phải

điều trị thuốc kháng sinh carbapenem không?

ĐỐI TƯỢNG -PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả loạt ca

Đối tượng nghiên cứu

Những trường hợp được chẩn đoán viêm nội mạc tử cung sau mổ lấy thai (MLT) tại bệnh viện Từ Dũ từ 1/5/2017 đến 1/8/2017

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán viêm nội mạc tử cung sau MLT tại viện, được cấy sản dịch

và được điều trị tại bệnh viện Từ Dũ trong khoảng thời gian nghiên cứu

Kết quả nuôi cấy sản dịch có vi khuẩn tiết ESBL

Tiêu chuẩn loại trừ

Không có kết quả nuôi cấy

Các biến số được ghi nhận: tuổi mẹ, thời gian nằm viện, loại kháng sinh điều trị, kết quả nuôi cấy (loại vi khuẩn tiết ESBL, nhạy và đề kháng kháng sinh), kết quả điều trị

KẾT QUẢ

Trong thời gian nghiên cứu gồm 314 trường hợp được chẩn đoán viêm nội mạc tử cung với biểu hiện sốt, bạch cầu cao và sản dịch hôi Tất cả những trường hợp này được dùng kháng sinh điều trị, cấy sản dịch, hút buồng tử cung

Kết quả nuôi cấy vi khuẩn dương tính 56 trường hợp (17,8%), trong đó có 10 trường hợp dương tính với vi khuuẩn tiết ESBL, chiếm 3,1% (10/314) trong số trường hợp viêm nội mạc tử cung và 17,8% (10/56) trong số mẫu cấy dương tính Kết quả như sau:

Trang 3

Bảng 1 Những kháng sinh nhạy với vi khuẩn tiết ESBL mức độ cao

Trường hợp VK tiết ESBL Trường hợp nhậy cảm

Amik Chlor Imipe Ticar/Acid Merope Colistin Pipera/Tazo Neltimycin

2 E.Coli ++ ++ ++ ++ ++ - - ++

3 E.Coli + ++ - - - ++ + -

4 E.Coli ++ ++ ++ ++ ++ ++ ++ ++ 5 E.Coli + - ++ ++ ++ ++ ++ ++ 6 E.Coli + ++ ++ ++ ++ ++ ++ ++ 7 E.Coli ++ ++ ++ ++ ++ ++ ++ ++ 8 Enterobac ++ ++ + ++ ++ ++ ++ ++ 9 Enterobac ++ ++ ++ ++ ++ ++ ++ + 10 Sta.Aureus - + ++ ++ ++ - ++ ++ Enterobacteria, Staphylococus.aureus Amikacin, Chloramphenicol, Imipenem, Ticarcillin/Clavulanic acid, Meropenem, Colistin, Piperacillin/Tazobactam, Neltimycin Bảng 2 Những kháng sinh nhạy với vi khuẩn tiết ESBL mức độ trung bình thấp Loại kháng sinh ** Augmentin Doxycyclin Ofloxacin Ciproflo Levoflo Gentamycin Tobramycin 1 E.Coli - ++ - - - - -

2 E.Coli - - - ++ ++

3 E.Coli + - - - -

4 E.Coli + ++ - - ++ - ++

5 E.Coli - ++ - - - ++ -

6 E.Coli + - - - - ++ -

7 E.Coli + ++ ++ ++ ++ ++ ++ 8 Enterobac - ++ - ++ - ++ - 9 Enterobac - - ++ ++ ++ - ++

10 Sta.Aureus ++ ++ ++ - - - -

Enterobacteria, Staphylococus.aureus ** Augmentin, Doxycyclin, Ofloxacin, Ciprofloxacin, Levofloxacin, Gentamycin, Tabramycin Bảng 3 Những kháng sinh kháng với vi khuẩn tiết ESBL Loại Kháng sinh ** Bactr Cefta Cefota Cefuro Cefepi Ceftri Cefope Cefacl Clinda Vanco Ampi Peni 1 E.Coli - ++ - - - -

2 E.Coli - - - -

3 E.Coli - - - -

4 E.Coli - - - -

5 E.Coli - - - -

6 E.Coli - - - -

7 E.Coli ++ - - - -

8 Enterobac ++ - - - -

9 Enterobac - - - -

10 Sta.Aureus - - ++ ++ ++ ++ ++ - - - - -

Enterobacteria, Staphylococus.aureus

** Bactrim, Ceftazidine, Cefotaxim, Cefuroxim, Cefepine, Ceftriaxone, Cefoperazone, Cefaclor, Clidamycin, Vancomycin,

Ampicillin, Penicillin

Trang 4

Bảng 4 Kháng sinh được dùng và kết quả điều trị

VK KS được dùng

ban đầu

Chuyển đổi KS Số ngày

điều trị KS

Số ngày nằm viện

Kết quả điều trị

1 E.Coli Cefotaxim (3N) Piper/Ta (8N) +

Amikacin (8N)

2 E.Coli Cefotaxim (6N) + Metro

(3N)

3 E.Coli Cefotaxim (5N)

+ Amikacin (5N) + Metro (4N)

5 E.Coli Cefotaxim (2N) Piper/Ta (8N) +

Amikacin (8N) + Metro (8N)

7 E.Coli Cefotaxim (6N)

+ Gent (5N) + Metro (5N)

8 Enterobac Vicizolin (6N)

+ Metro (3N)

9 Enterobac Cefotaxim (5N) Piper/Ta (5N) +

Amikacin (5N) + Metro (8N)

10 Sta.Aureus Cefotaxim (6N)

+ Metro (3N)

Enterobacteria, Staphylococus.aureus

Piperacillin/Tazobactam, Metronidazol, Gentamycin 3N: 3 ngày

BÀN LUẬN

Escherichia coli là thành viên của gia đình

Enterobacteriaceae, đã được báo cáo là một trong

những tác nhân chính gây nhiễm trùng niệu

dục(6) Đây là 1 trong những yếu tố chính để

những nhà lâm sàng tham vấn và kê toa kháng

sinh trong thực hành hiện tại

Trong nghiên cứu chúng tôi thu nhận 10

mẫu cấy sản dịch dương tính với vi khuẩn tiết

ESBL, trong đó có 7 trường hợp nhiễm E Coli, 2

trường hợp nhiễm Enterobacter và 1 trường hợp

nhiễm Staphylococcus aureus

Khoảng trên 80% các vi khuẩn tiết ESBL

trong nghiên cứu nhạy với những loại kháng

sinh thế hệ mới, phổ rộng và đắt tiền: Amikacin,

Imipenem, Ticarcillin/Clavulanic acid,

Meropenem, Piperacillin/Tazobactam,

Neltimycin (Bảng 1) Kết quả này phù hợp với

các nghiên cứu về chủng vi khuẩn tiết ESBL của

các tác giả khác(4,3)

Khoảng 90% vi khuẩn tiết ESBL nhạy với Chloramphenicol, tuy nhiên đây là loại kháng sinh không sử dụng cho những bà mẹ đang cho

bé bú vì nguy cơ cho trẻ Theo nghiên cứu của Havelka và cs trên những bé bú mẹ có điều trị bằng Chloramphenicol, cho thấy 10%, 25% và 90% bé bị nôn sau cử bú nếu mẹ dùng liều 1,2 và 3g mỗi ngày (tương ứng) Ngoài ra, bé còn bị chứng đầy hơi, chướng bụng và ngủ lịm khi mẹ dùng thuốc này Chloramphenicol đã được phân vào nhóm C theo phân loại của FDA(2,7)

Hầu hết các vi khuẩn tiết ESBL trong nghiên cứu kháng với cephalosporines thế hệ thứ 3, quinolone và aminoglycosides Khoảng 60% trường hợp nhạy với Doxycyclin, 50% nhạy với Augmentin và Gentamycin, 40% nhạy với Tobramycin (Bảng 2)

Doxycyclin là kháng sinh được khuyến cáo không nên sử dụng dài ngày hoặc lập lại ở bà mẹ cho bé bú vì nguy cơ nhuộm màu men răng và tích tụ thuốc trong mô xương của bé Việc dùng

Trang 5

doxycyclin ngắn hạn từ 5 – 7 ngày có thể được

chấp nhận vì nồng độ thuốc trong sữa mẹ thấp

và canxi trong sữa mẹ ức chế phần nào sự hấp

thụ thuốc(1,7)

Các kháng sinh như Cefepine, Cefaclor,

Ampicillin, Bactrim, Clidamycin, Vancomycin,

Cefoperazone, Penicillin, Ceftriaxone kháng

hoàn toàn với vi khuẩn tiết ESBL (Bảng 3)

Tất cả các bệnh nhân được mổ lấy thai đều

được dùng kháng sinh (dự phòng hoặc điều trị)

Và một trong những nguyên nhân làm kết quả

nuôi cấy thấp là do đã được dùng kháng sinh

trước đó Kết quả nuôi cấy thường được trả về

khoa lâm sàng từ 5 đến 7 ngày sau, trong thời

gian này, các bác sĩ lâm sàng chọn lựa kháng

sinh điều trị dựa vào kinh nghiệm là chính

Theo tổng quan từ thư viện Cochrane 2015(5),

Clindamycin kết hợp Gentamycin là kháng sinh

được xem là lựa chọn đầu tay trong điều trị viêm

nội mạc tử cung trong nhiễm khuẩn hậu sản

Lựa chọn khác trong điều trị viêm nội mạc tử

cung là Cephalosporin thế hệ thứ 3 kết hợp

Metronidazole Tuy nhiên, theo bảng 3 cho thấy

nhiễm khuẩn do vi khuẩn tiết ESBL thì kháng

với các loại kháng sinh này

Trong 10 trường hợp nghiên cứu trên đều

được sử dụng kháng sinh điều trị từ đầu Loại

kháng sinh thường dùng nhất là Cefotaxim

(90%), đây là Cephalosporin thế hệ thứ 3 Kháng

sinh thường dùng phối hợp là metronidazole

(chiếm 70%) Có 3 trường hợp (30%) chuyển đổi

sang kháng sinh mạnh hơn là

Piperacillin/Tazobactam phối hợp Amikacin

Thời gian sử dụng kháng sinh trong nghiên

cứu trung bình là 7 ngày (5 đến 11 ngày), trong

đó 3 trường hợp chuyển đổi kháng sinh có tổng

thời gian sử dụng kháng sinh là 10 – 11 ngày 7

trường hợp còn lại có thời gian sử dụng kháng

sinh là 5 – 6 ngày

Tất cả các trường hợp đều xuất viện ổn về

hợp xuất viện (70%) trước khi có kết quả kháng sinh đồ

Đặc biệt trong nghiên cứu có 3 trường hợp dùng kháng sinh phù hợp kháng sinh đồ, 7 trường hợp không phù hợp với kháng sinh đồ,

cả 7 trường hợp này đều xuất viện ổn trước khi

có kết quả nuôi cấy

Không có trường hợp nào phải sử dụng Imipenem, Meropenem hoặc Colistin Đây là những kháng sinh mạnh, phổ kháng khuẩn hẹp và chỉ dùng trong những trường hợp nhiễm khuẩn nặng, khi dùng những kháng sinh này phải thông qua hội chẩn khoa Mặc

dù trên kết quả nuôi cấy kháng sinh, hầu hết trường hợp vi khuẩn tiết ESBL đều nhạy với các loại kháng sinh như Imipenem, Meropenem và Colistin Và theo khuyến cáo của các chuyên gia về hồi sức cấp cứu là khi có nhiễm khuẩn do vi khuẩn tiết ESBL là phải điều trị những kháng sinh đặc biệt này

KẾT LUẬN

Nhiễm vi khuẩn tiết ESBL trong viêm nội mạc tử cung sau mổ lấy thai có thể được điều trị bằng cách làm sạch buồng tử cung, dùng các kháng sinh theo kinh nghiệm và được theo dõi chặt chẽ Việc dùng các kháng sinh mạnh như Imipenem, Meropenem hoặc Colistin là chưa thực sự cần thiết trong bệnh cảnh này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

and Lactation, 5th ed, pp 120- 135 Williams & Wilkins publishers, Philadelphia, PA

chloramphenicol in newborn infants” Cesk Pediatr, 27:pp.31-3

the infectious disease specialist” Médecine et Maladies Infectieuses,

46(1):pp.10-13

Enterobacteriaceae (ESBL-PE) – Data of a prospective traveller

study” Travel Medicine and Infectious Disease, 16:pp.23-30

regimens for postpartum endometritis” Cochrane Database Syst

Trang 6

pneumoniae and Proteus mirabilis in Okinawa prefecture,

Japan” Journal of Infection and Chemotherapy, 22(5):pp.281-286

Academy of Pediatrics Committee on Drugs: Transfer of drugs

and other chemicals into human milk” Pediatrics, 84:pp.924-36

extended-spectrum β-lactamase-producing bacteria detected in

social insurance hospitals throughout Japan” Journal of Infection and Chemotherapy, 22(6):pp.395-399

Ngày nhận bài báo: 01/10/2017 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 27/10/2017 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 06:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w