1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mối liên quan giữa mô mềm mũi - môi - cằm trên phim sọ nghiêng của người Việt bằng phân tích sơ đồ lưới

10 76 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 514,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích sơ đồ lưới nhằm đánh giá các góc độ và tỉ lệ giữa các cấu trúc mô mềm mũi- môi-cằm của người Việt Nam trên phim sọ nghiêng, qua đó ứng dụng trong chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị chỉnh hình.

Trang 1

MỐI LIÊN QUAN GIỮA MÔ MỀM MŨI - MÔI - CẰM

TRÊN PHIM SỌ NGHIÊNG CỦA NGƯỜI VIỆT

BẰNG PHÂN TÍCH SƠ ĐỒ LƯỚI

Lữ Minh Lộc*, Ngô Thị Quỳnh Lan**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích sơ đồ lưới nhằm đánh giá các góc độ và tỉ lệ giữa các

cấu trúc mô mềm mũi- môi-cằm của người Việt Nam trên phim sọ nghiêng, qua đó ứng dụng trong chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị chỉnh hình

Đối tượng và phương pháp: Phim sọ nghiêng của 144 đối tượng (61 nam và 83 nữ, từ 16 đến 25 tuổi)

được chọn lựa.Sơ đồ lưới được xây dựng dựa trên phim sọ nghiêng định vị theo tư thế đầu tự nhiên tùy thuộc vào chiều cao tầng mặt trên và chiều dài nền sọ trước của mỗi đối tượng Xác định vị trí của mỗi điểm chuẩn trong hệ trục tọa độ bằng phần mềm AutoCAD 2010 Qua đó đo đạc các số đo góc, khoảng cách và tỉ lệ theo từng giới Kiểm định T cho 2 mẫu độc lập được sử dụng để so sánh dữ liệu theo giới

Kết quả: Mối liên quan giữa mũi-môi-cằm được thiết lập trong hình chữ nhật có đường chéo đi qua Pn và

Pog’ (Nam có độ dày môi dưới độ dày cằm, chiều cao tầng mặt dướilớn hơn nữ có ý nghĩa với p<0,05, p<0,01 và p<0,001 Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa về các số đo góc vàsố đo tỉ lệ ở hai giới (p>0,05).Góc tạo hợp đường E với mặt phẳng đầu tự nhiên tại vị trí Pnkhông khác biệt theo giới:70,65 o ± 2,9 o Tỉ lệ hình chiếu chiều dài môi trên (Sn-Ls), độ dàymôi đỏ hai môi (Ls-Li) và chiều dài môi dưới (Li-Pog’) lên mặtphẳng đứng dọc đầu tự nhiên là 1: 1,17: 1,27

Kết luận: Các số đo góc và tỉ lệmô mềm mặttrong nghiên cứu này có thể là tiêu chuẩn tham chiếu cho các đối

tượng có sai khớp cắn, giúp xác định vùng bất hài hòa của khuôn mặt

Từ khóa: Phim sọ nghiêng, sơ đồ lưới, mặt phẳng đầu tự nhiên, mũi, môi, cằm

ABSTRACT

MESH DIAGRAM ANALYSIS OF THE PROPORTIONATE RELATIONSHIP AMONG SOFT TISSUE FACIAL STRUCTURES (NOSE-LIP-CHIN) FROM THE VIETNAMESES’ CEPHALOGRAPHS

Lu Minh Loc, Ngo Thi Quynh Lan * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 38 - 47

Objectives: The purpose of this study was to evaluate the proportions and relationships among soft tissue

facial structures (nose- lip- chin) of Vietnamese population, by proportionate mesh diagram analysis typically used for orthodontics diagnosis and treatment planning

Materials and methods: Lateral cephalometric radiographs of 144 subjects (61 males and 83 females, aged

between 16 to 25 years-old) were selected The mesh diagram is constructed on the cephalometric radiograph oriented in the natural head position due to the individual upper facial height and anterior cranial base The location of each landmark in coordinate system was plotted with AutoCAD 2010 software Numerous angles, distances, and ratios were then measured for both genders To compare data between males and females, a Student’s independent t-test was used

Results: The relationship among nose-lip-chin of soft tissue profile was established in rectangular grid

*Bộ môn CHRM, Khoa Răng Hàm Mặt, ĐH Y Dược, TP Hồ Chí Minh

Trang 2

constructed by the location of Pn and Pog’ The lower lip thickness (p<0.05) and soft tissue chin thickness (p<0.01), the height of lower face (p<0.01) were significantly increased in males compared with females There were no distinct gender differences regarding all angular measurements and facial proportions in vertical, horizontal dimension of the rectangle Angular measurements formed by E-line with natural head position plane: 70.65 o ± 2.9 o Vertical proportions in profile view (defined in natural head plane), Sn-Ls: Ls-Li: Li-Pog’ratio is 1: 1.17: 1.27

Conclusion: The soft tissue values in the present study can be used as standards in comparison of subjects

with malocclusions, and then indicating areas of facial disharmony in the relationship among nose-lip-chin

Keywords: Cephalometric radiograph, Mesh diagram, natural head plane, nose, lip, chin

MỞ ĐẦU

Quan niệm điều trị chỉnh hình ngày nay có

nhiều thay đổi Thẩm mĩ, sự cân đối của khuôn

mặt được đánh giá trước tiên.Genecov(1) nhấn

mạnh: cấu trúc mô mềm mặt và tỉ lệ tương đối

giữa các cấu trúc tạo nên đường nét của khuôn

mặt, là cơ sở để đánh giá sự cân đối và hài hòa

khuôn mặt của một cá thể Vị trí và hình tháicủa

mũi, môi, cằm là những yếu tố chính tạo nên

đường nét khuôn mặt khi nhìn nghiêng

Burston(5) đánh giá vị trí của môi theo chiều

trước-sau qua độ nhô của môi so với đường

thẳng vẽ từ điểm tham chiếu Subnasale đến

Pogonion mô mềm Rickett(9) sử dụng đường E là

đường thẳng đi từ đỉnh mũi đến điểm nhô nhất

của cằm để đánh giá tương quan của ba thành

phần này

Chỉnh hình răng mặt nhằm thay đổi tương

quan răng, xương ổ răng, xương hàm trên và

xương hàm dưới Những thay đổi này có thể ảnh

hưởng ít nhiều đến tương quan mũi, môi cằm

bên trên Do vậy, những số liệu và đặc biệt mối

tương quan về tỉ lệ giữa các thành phần này sẽ

giúp người bác sĩ dễ dàng đánh giá thẩm mỹ của

nét mặt nhìn nghiêng

Nhằm mục đích bổ sung thêm những số liệu

cần thiết để đưa ra tiêu chuẩn hài hòa của khuôn

mặt người Việt, từ đó làm cơ sở định hướng cho

việc chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị chỉnh

hình, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài“ Mối

liên quan giữa mô mềm mũi- môi- cằm trên

phim sọ nghiêng của người Việt trưởng thành

bằng phân tích sơ đồ lưới”

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mẫu nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu gồm phim sọ nghiêng của

144 đối tượng (61 nam và 83 nữ) từ 16-25 tuổi Bao gồm phim của các đối tượng có gương mặt hài hòa trong nghiên cứu của Hồ Thị Thùy Trang(2), phim của các đối tượng là các học sinh thuộc nguồn hồ sơ lưu trữ của nhóm nghiên cứu tham gia chương trình “theo dõi

và chăm sóc răng miệng đặc biệt trong 15 năm (1996-2010)” do bộ Y tế quản lý, được thực hiện tại Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP.HCM và các phim sọ nghiêng chẩn đoán thường quy của bệnh nhân đến khám chỉnh hình tại khu điều trị thuộc Khoa Răng Hàm Mặt, ĐH Y Dược TP.HCM

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Ông bà, cha mẹ là người Việt Nam, dân tộc Kinh

Tuổi từ 16 đến 25 (giai đoạn tuổi xương xác định theo đốt sống cổ từ CS6 trở lên)(3)

Không có tiền sử điều trị chỉnh hình răng mặt

Không có dị dạng hàm mặt

Tương quan xương hàm hạng I

Mức độ chen chúc, thiếu chỗ: ≤ 4mm

Nét mặt nhìn nghiêng (đo trên phim sọ nghiêng) chấp nhận được (môi trên: -0,9 ± 1,63

mm và môi dưới: 0,83 ± 1,56 mm so với đường thẩm mỹ E khi đánh giá qua phim sọ nghiêng)(2)

Trang 3

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả và phân tích

Phương pháp đo đạc trên phim

Kỹ thuật chụp phim

Các đối tượng nghiên cứu được chụp phim

theo mặt phẳng tham chiếu Frankfort

Tất cả các phim và hình được chụp bởi một

kỹ thuật viên nhiều kinh nghiệm tại bộ môn tia

X, Khoa Răng Hàm Mặt, ĐHYD TP HCM

Các phim đạt yêu cầu nghiên cứu được vẽ nét và scan vào máy vi tính Chuẩn hóa hình ảnh đã được scan theo tỉ lệ 1/1 so với bản vẽ nét

Để chuyển đổi từ mặt phẳng Frankfort thành mặt phẳng đầu tự nhiên, áp dụng công thức(6)

Na’Sn-mp đầu tự nhiên=0,665×Na’Sn-mp Frankfort – 0,347×Pog’’Pn-mp Frankfort+55,488

Xác định các điểm chuẩn

Điểm Gla’ (Glabella mô mềm): điểm nhô ra

nhất của mô mềm trán

Điểm Na’ (Nasion mô mềm): điểm sau nhất

của mô mềm vùng khớp trán-mũi theo mặt

phẳng dọc giữa

Điểm Pr (Pronasale): điểm trước nhất trên

đỉnh mũi

Điểm Sn (Subnasale): điểm giao nhau ngay

dưới chân mũi và môi trên, nằm trên mặt phẳng

dọc giữa

Điểm Ls (Labrale superius): điểm nhô trước

nhất của đường viền môi trên, nằm trên mặt

phẳng dọc giữa

Điểm Sto (Stomion): rãnh giữa môi trên và

môi dưới

Điểm Li (Labrale inferius): điểm nhô trước

nhất của đường viền môi dưới trên mặt phẳng

dọc giữa

Điểm B’ (supramentale): rãnh môi cằm

Điểm Pog’ (Pogonion mô mềm): điểm trước

nhất của mô mềm vùng cằm trên mặt phẳng dọc

giữa

N hay Na (Nasion): điểm trước nhất trên

đường khớp trán mũi theo mặt phẳng dọc giữa

S (Sella): là điểm giữa hố yên, nằm trên mặt

phẳng dọc giữa Đây là điểm cấu trúc

ANS (Anterior Nasal Spine): điểm gai mũi

trước trên mặt phẳng dọc giữa

Thiết lập sơ đồ lưới(4,6)

Chiều cao tầng mặt trên (Na-ANS) và chiều

dài nền sọ trước (Na-S) được dùng để xác định

tứ giác “lõi” trong sơ đồ lưới Na được xem là điểm chuẩn chính trong sơ đồ này:

- Tứ giác “lõi” (hình 2) gồm:

Đường thẳng đứng thứ nhất đi qua Na (đường thẳng này vuông góc với mặt phẳng Frankfort hoặc mặt phẳng ngang thật sự)

Đường ngang thứ nhất đi qua Na (đường này vuông góc với đường (1))

Đường ngang thứ hai (3) đi qua ANS và song song với đường (2)

Đường thẳng đứng thứ hai (4) song song với đường (1) đi qua S’(S’được xác định với khoảng cách NS’=NS)

- Tứ giác “lõi” có 4 cạnh: cạnh ngang và cạnh đứng được chia thành hai phần bằng nhau Kích thước của ½ cạnh ngang là a và ½ cạnh đứng là b

Hình 2 Tứ giác lõi của sơ đồ lưới Jacobson A (2006) Radiographic Cephalometry from basics to videoimaging (4)

(1)

Trang 4

Hình 1 Các điểm mốc Jacobson A (2006) Radiographic Cephalometry from basics to 3-D imaging, 2 nd ed, by Quintessence Publishing Co, Inc (4)

- Từ tứ giác “lõi”, vẽ một đường thẳng đứng

phía trước và một đường thẳng đứng phía sau

tứ giác với khoảng cách là a; vẽ một đường

ngang phía trên và ba đường ngang phía dưới tứ

giác với khoảng cách là b Như vậy sơ đồ lưới

gồm có 5 đường thẳng đứng đánh số từ 1-5 và 7

đường ngang đánh theo thứ tự A, B, C, D, E, F,

G, và khối sọ-mặt sẽ được nằm trong một sơ đồ

lưới gồm 24 ô hình chữ nhật bằng nhau (hình 2) một hệ thống lưới được phát triển để bao quanh các thành phần của hệ thống sọ mặt và từ

đó thiết lập một hệ trục tọa độ theo hai chiều trong không gian

- Chọn góc tọa độ là góc trên bên phải của từng ô chữ nhật nhỏ trong sơ đồ lưới (để thuận tiện cho việc đo đạc) Xác định tọa độ các điểm

Trang 5

chuẩn trong hệ trục tọa độ nhỏ này (gồm hai giá

trị hoành độ và tung độ) bằng cách chiếu vuông

góc lên hai cạnh góc vuông của hình chữ nhật

nhỏ Giá trị điểm chuẩn được tính theo tỉ lệ các

cạnh của hình chữ nhật nhỏ

Từ Pn, Pog’ vẽ các đường thẳng song song

với trục hoành và trục tung của sơ đồ lưới, ta

được hình chữ nhật bao phủ các thành phần môi, đỉnh mũi và phần nhô nhất của cằm Vẽ lần lượt các hình chiếu của các điểm Sn, Ls, Sto, Li, B’trên hai cạnh của hình chữ nhật

Hình 3 Sơ đồ lưới gồm 24 ô chữ nhật bằng nhau Điểm Pn có giá trị (X%, Y%) trong hệ trục tọa độ là hai cạnh

góc vuông của hình chữ nhật có chứa điểm Pn

Hình 4 (a): hình chữ nhật đi qua Pn, Pog’ với cạnh ngang song song với mặt phẳng đầu tự nhiên (b): góc giữa

mặt phẳng đầu tự nhiên và đường E: i; góc mũi môi (Pn-Sn-Ls): ii; góc môi-cằm (Li-B’-Pog’): iii(c): cạnh dài Ls: khoảng cách từ Ls đến cạnh ngắn hình chữ nhật (kí hiệu Ls-y); cạnh ngắn Ls: khoảng cách từ Ls đến cạnh dài hình chữ nhật (kí hiệu Ls-x)

Trang 6

Dùng phần mềm SPSS tìm mối tương quan

giữa các điểm tham chiếu, hình chiếu của các

điểm trên mô mềm trong hình chữ nhật vừa tạo

trên 2 nhóm nam và nữ người Việt có nét mặt

hài hòa

Sử dụng kiểm định Student T-test trong SPSS

16.0 để so sánh giá trị tọa độ và vị trí tỉ lệ của các

điểm chuẩn trên mô mềm giữa nam và nữ Khác

biệt có ý nghĩa khi p<0,05

KẾT QUẢ

Các số đo kích thước chiều dài và chiều rộng

của hình chữ nhật giữa nam và nữ có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê Cạnh dài của hình chữ

nhật của nam dài hơn của nữ hay chiều dài tầng

dưới mặt của nam dài hơn nữ (p<0,001) Cạnh

ngắn của hình chữ nhật của nữ ngắn hơn của

nam (p<0,01) hay mũi nam nhô cao về phía trước hơn nữ khi nhìn nghiêng trong mối tương quan

mũi-cằm (Bảng 1)

Số đo các góc mũi- môi, góc môi-cằm và góc mặt phẳng đầu tự nhiên và đường E không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ Đặc biệt số đo góc mặt phẳng đầu tự nhiên và đường E gần như giống nhau giữa nam và nữ (70,65 độ) và độ lệch chuẩ cũng tương đương nhau (Bảng 2)

Vị trí các điểm tham chiếu theo chiều ngang hay chiều trước- sau khi xét theo mặt phẳng đầu

tự nhiên gần như giống nhau, trừ các vị trí môi dưới và đỉnh mũi của nam nhô ra trước so với

nữ có ý nghĩa thống kê (Bảng 3)

Bảng 1 Các số đo khoảng cách chiều dài và chiều rộng của hình chữ nhật (đơn vị tính: mm)

Bảng 2 Các số đo góc mũi-môi (Pn-Sn-Ls), góc môi cằm (Li-B’-Pog’), góc mặt phẳng đầu tự nhiên và đường E

(đơn vị tính: độ)

biệt

Góc mp đầu tự nhiên

và đường E

Bảng 3 Độ dài hình chiếu các điểm Sn, Ls, M, Li, B’, Pog’ lên cạnh đứng (chiều dài) hình chữ nhật (đơn vị tính:

mm)

Bảng 4 Độ dài hình chiếu các điểm Sn, Ls, M, Li, B’, Pn lên cạnh ngang (chiều rộng) hình chữ nhật (đơn vị tính:

mm)

Trang 7

Li chiều dọc 43,40 4,60 45,34 4,24 41,98 4,36 0,000 ***

Vị trí các điểm tham chiếu theo chiều đứng

khi đánh giá theo mặt phẳng đầu tự nhiên gần

như khác nhau có ý nghĩa giữa nam và nữ, trừ

các vị trí chân mũi Sn (p>0,05) Như vậy, các

điểm tham chiếu trên mô mềm của tầng mặt dưới của nam nằm ở vị trí thấp hơn so với nữ, hay tầng mặt dưới của nam dài hơn nữ (Bảng 4)

Bảng 5 Tỉ lệ các điểm chuẩn theo cạnh ngang (chiều rộng) và cạnh đứng (chiều dài) của hình chữ nhật trong

phân tích sơ đồ lưới

Khi xét về tỉ lệ của độ dài các hình chiếu của

các điểm tham chiếu lên cạnh ngắn và cạnh dài

của hình chữ nhật, bảng kết quả cho thấy: tất cả

các điểm tham chiếu đều không thấy sự khác

biệt giữa nam và nữ Điều này hoàn toàn khác

biệt với kết quả từ bảng 4 Như vậy, có sự khác

biệt giữa sử dụng các số đo và sử dụng tỉ lệ để

đánh giá mức độ hài hòa của các cá thể Nét mặt nhìn nghiêng là một tổng thể, có được do sự kết hợp về vị trí của các điểm tham chiếu, do đó không thể sử dụng các số đo riêng lẽ để đánh giá từng thành phần mũi, hay môi, cằm, mà chúng

ta cần phải đánh giá sự tương quan giữa chúng với nhau (số đo tỉ lệ)

Bảng 6 Độ dài và tỉ lệ hình chiếu của môi trên, môi dưới và cằm trong tương quan cạnh đứng hình chữ nhật

p

Mức khác biệt

TB ĐLC TB ĐLC TB ĐLC

Khi đánh giá tầng mặt dưới theo chiều đứng,

ngoại trừ Pog’-Li, độ dài các hình chiếu Ls-sn,

Li-Ls và Pog’-Sn đều có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê giữa nam và nữ (p<0,01) Tuy nhiên,

khi đánh giá về mặt tỉ lệ trên trục đứng Pog’-Sn, các tỉ lệ này hoàn toàn giống nhau giữ nam và

nữ

Trang 8

BÀN LUẬN

Phân tích mô mềm, về cơ bản là những ghi

nhận những đường nét mô mềm quan sát được

bằng mắt thông qua việc thăm khám bệnh nhân

Theo Moorrees(6), để đánh giá mức độ hài hòa

của nét mặt nhìn nghiêng, đầu của các cá thể

phải được chuẩn hóa ở cùng một tư thế Theo tác

giả, đầu được định hướng làm mặt phẳng tham

chiếu đầu tự nhiên có nhiều ưu điểm nhất khi

đánh tính thẩm mỹ của nét mặt nhìn nghiêng

Mặc dù, chưa có sự thống nhất nét mặt nhìn

nghiêng như thế nào là lý tưởng, tuy nhiên các

tác giả Steiner(10), Ricketts(9), Merrifield(7) đã đưa

ra những đường tham chiếu giúp đánh giá mức

độ hài hòa của nét mặt nhìn nghiêng như đường

S, E Các đường tham chiếu này vẫn được sử

dụng đến ngày nay Theo các tác giả này, sự

thăng bằng của mặt theo chiều trước sau phụ

thuộc các thành phần mũi, môi, cằm khi nhìn

nghiêng

Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi xây

dựng một hình chữ nhật (hình 2) bao quanh mũi,

môi, cằm được vẽ từ đỉnh mũi (Pn) và cằm

(Pog’), với các cạnh song song và vuông góc với

mặt phẳng đầu tự nhiên Mối tương quan về số

đo, góc độ, tỉ lệ giữa các thành phần này trên những cá thể có nét mặt bình thường sẽ giúp cho chúng ta có thể đánh giá mức độ hài hòa của các

cá thể chính xác, và dễ dàng hơn

Đường E (đường thẩm mỹ theo Ricketts) là đường thẳng đi qua 2 điểm Pn và Pog’, đã được Ricketts(9) đã sử dụng để đánh giá mối tương quan của mũi, môi, cằm khi nhìn nghiêng Theo nghiên cứu của Hồ Thị Thùy Trang(2) , trên nhóm người Việt có nét mặt hài hòa, vị trí của môi trên

so với đường E là -0,9 ± 1,69 và môi dưới 0,83 ± 1,56 khi đánh giá qua phim sọ nghiêng Dựa vào giá trị này, các bác sĩ chỉnh hình sẽ cố gắng thay đổi độ nhô của môi cho phù hợp với vị trí của mũi và cằm Tuy nhiên, khi một trong hai thành phần mũi hay cằm quá nhô hay quá lùi, nếu can thiệp để thay đổi độ nhô của môi cho phù hợp có thể gây ra hậu quả nghiêm trong về thẩm mỹ cho tầng mặt dưới hay tổng thể nét mặt nhìn nghiêng Trong trường hợp này, đôi khi chúng ta cần phải chỉnh sữa độ nhô của cằm hay mũi cho phù hợp với hai thành phần còn lại

Merrifield(7) đã sử dụng góc Z là góc hợp bởi mặt phẳng Frankfort và và đường thẳng đi qua Pog’ và điểm nhô nhất của môi trên hay môi dưới Theo tác giả, về mặt lý tưởng, môi trên nên

Hình 3 Hình chiếu của Sn-Ls, Ls-Li

và Li-Pog’ lên cạnh dài của hình chữ nhật hay mặt phẳng đứng dọc đầu tự nhiên

Ls

Sn

Li

Pog’

Hình chiếu của Sn-Ls Hình chiếu của Ls-Li Hình chiếu của Li-Pog’

Trang 9

tiếp xúc với đường này, còn môi dưới có thể tiếp

xúc hoặc lui sau nhẹ Số đo trung bình của góc

này là 80o ± 9o Số đo trung bình của góc Z có độ

lệch chuẩn khá cao, nên khi sử dụng số đo góc

này làm giá trị tham chiếu cho các chẩn đoán vị

trí bình thường của môi và cằm của một cá thể sẽ

gặp nhiều khó khăn

Trong nghiên cứu của chúng tôi, góc hợp bởi

mặt phẳng đầu tự nhiên và đường E có giá trị

trung bình là 70,65o ± 2,9o Gíá trị góc này cũng

tương đương nhau giữa nam và nữ có nét mặt

hài hòa Vậy đây là một trị số vững ổn, có ý

nghĩa trong chẩn đoán sự hài hòa của nét mặt

nhìn nghiêng Để đánh giá mức độ hài hòa khi

nhìn nghiêng, thông thường, chúng ta xác định

đường E, rồi đánh giá vị trí môi xem có bình

thường hay không, nếu bất thường thì cố gắng

điều trị chỉnh hình hay phẫu thuật để đưa vị trí

môi về trị số bình thường so với đường E Trong

trường hợp cằm quá lui sau, công việc điều

chỉnh môi trên và dưới theo đường E sẽ làm tăng

độ lồi của mặt, dẫn đến thiếu sự hài hòa tổng thể

giữa các tầng mặt Do đó việc xác định góc giữa

đường E và mặt phẳng đầu tự nhiên sẽ cho một

ý tưởng về vị trí tương đối của độ nhô của mũi

và cằm, sau khi kết hợp với giá trị trung bình

giữa vị trí môi và đường E, ta sẽ đưa ra một chẩn

đoán phù hợp về vị trí của mũi, môi, cằm ở cá

thể đó Từ đó, một điều trị chỉnh hình thông

thường nhằm thay đổi độ nhô của răng để thay

đổi độ nhô của môi, hay một phẫu thuật cắt

cằm,… sẽ được quyết định

Góc mũi môi (Pn-Sn-Ls) giống nhau ở nam

và nữ, có số đo xấp xỉ 113o, hay mối tương quan

giữa môi trên và vị trí đỉnh mũi giữa nam và nữ

không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Mũi,

môi của nam luôn ở vị trí ra trước so với nữ, do

đó, số đo này cho ta thấy hình ảnh của môi trên

và mũi của nam chính là hình ảnh tịnh tiến ra

trước của hai thành phần này của nữ Số đo góc

môi cằm (Li-B’-Pog’) tương tự như số đo góc mũi

môi không có sự khác biệt giữa nam và nữ Tuy

nhiên, độ lệch chuẩn của hai số đo này quá lớn 9

độ (góc mũi môi), 13 độ (góc môi cằm), nên các

giá trị này khó có thể sử dụng làm các trị số tham chiếu cho chẩn đoán, lập kế hoạch điều trị

Từ kết quả bảng 6, các số đo kích thước như khoảng cách từ chân mũi đến môi trên (Ls-Sn) khác biệt có ý nghĩa thông kê giữa nam và nữ,

độ dầy của môi trên và môi dưới ở nam nhiều hơn ở nữ (p<0,01), chiều dài tầng mặt dưới

Pog’-Sn có sự khác biệt giữa nam và nữ Tuy nhiên, khi so sánh các khoảng cách nói trên với chiều dài cạnh đứng hình chữ nhật, kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nam và nữ trong các tỉ lệ (a), (b) và (c) hay mặc dù môi trên dầy hơn ở nam so với nữ khi phân tích số đo nhưng khi so sánh theo tỉ lệ các thành phần của khuôn mặt theo chiều đứng thì cá thể nam không có sự khác biệt với nữ Điều này nhấn mạnh rằng: các số đo kích thước có thể giúp so sánh giữa cá thể này và cá thể khác, tuy nhiên sẽ

có thể sai lầm khi dùng để đánh giá sự hài hòa giữa các thành phần trong cùng một cá thể Khi thực hiện phép tính tỉ lệ giữa 3 nhóm (a), (b), (c) ở bảng 6, chúng tôi tìm được một tỉ lệ đặc biệt giữa 3 thành phần này: (a): (b): (c) = 1: 1,17: 1,27 Sự khác nhau giữa nam và nữ không có ý nghĩa thống kê ở tỉ lệ này cho thấy đây là một tỉ

lệ vững ổn trên cấu trúc mô mềm mặt người Việt

có nét mặt bình thường Tỉ lệ này rất hữu ích trong việc định lại ví trí lí tưởng của môi trên và môi dưới dựa trên mối tương quan theo chiều đứng của hình chữ nhật Đồng thời giúp xác định chiều dài bình thường của môi trên Sn-Ls trên mỗi cá thể, từ đó các bác sĩ lâm sàng có thể xác định môi trên của cá thể là ngắn hay dài hơn bình thường, nhằm giúp đánh giá nguyên nhân cười hở lợi là do môi trên cá thể ngắn hay cá thể

có sự tăng trưởng quá mức xương ổ răng hàm trên Trên cơ sở đó các bác sĩ phẫu thuật sẽ đưa

ra phương pháp điều trị thích hợp

KẾT LUẬN

Thẩm mỹ của nét mặt nhìn nghiêng phụ thuộc rất nhiều vào mối tương quan theo chiều trước sau của mũi-môi-cằm Các phân tích về số

đo của các cấu trúc sọ mặt giúp người nghiên

Trang 10

cứu có thể so sánh giữa cá thể này với cá thể

khác Tuy nhiên để đánh giá sự hài hòa của các

thành phần này trên một khuôn mặt thì phân

tích so sánh theo tỉ lệ và số đo các góc có nhiều

ưu điểm hơn Theo kết quả nghiên cứu trên, đối

với những cá thể có nét mặt hài hòa được chọn,

về mặt số đo kích thước, chiều dài tầng mặt dưới,

độ nhô cao của mũi ở nam lớn hơn nữ Tuy

nhiên, góc hợp bởi mặt phẳng đầu tự nhiên và

đường thẫm mỹ E lại tương đương nhau 70,65o±

2,9o Bên cạnh đó, tỉ lệ đặc biệt ổn định của các

hình chiếu chiều dài môi trên (Sn-Ls), độ dầy hai

môi (Ls-Li) và chiều dài môi dưới (Li-Pog’) lên

phẳng đứng dọc đầu tự nhiên là 1: 1,17: 1,27, sẽ

giúp các nhà nhân trắc học, bác sĩ phẫu thuật,

chỉnh hìnhcó thêm nhiều dữ liệu tham chiếu cho

những đánh giá mức độ hài hòa của khuôn mặt

nhìn nghiêng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Genecov JS, Sinclair PM, Dechow PC (1990) “Development of

the nose and soft tissue profile”, Angle Orthodontist, 60(3),

pp.191-198

2 Hồ Thị Thùy Trang, Hoàng Tử Hùng (2000) “Những đặc

trưng của khuôn mặt hài hòa qua ảnh chụp và phim sọ

nghiêng: nghiên cứu trên sinh viên ĐH Y Dược TP.HCM”,

Tạp chí Y học TP.HCM, tập 4

3 Hồ Thị Thùy Trang, Hoàng Tử Hùng (2013) “Xác định giai đoạn trưởng thành xương đốt sống cổ bằng phương pháp định lượng: nghiên cứu trên phim sọ nghiêng độ tuổi 7-18

tuổi”, Tạp chí Y học TP.HCM, tập 17 (2), tr.223

4 Jacobson A (1995),“Radiographic Cephalometry from basics to

videoimaging” By Quintessence Publising Co, Inc, pp.175-215

5 Legan HL, Burstone CJ (1980) Soft tissue cephalometric

analysis for orthognathic surgery J Oral Surg; 38:744-751

6 Lữ Minh Lộc, Ngô Thị Quỳnh Lan (2015) “Khảo sát mối tương quan giữa hai mặt phẳng đầu tự nhiên và Frankfort

trong phân tích sơ đồ lưới” Tạp chí Y học TP.HCM, tập 19 (2),

tr.316

7 Merrifield LL (1966) “The profile line as an aid in critically

evaluating facial esthetics” Am J orthod; 52:804-822

8 Moorees CFA, Lebret L (1962) “The mesh diagram and

cephalometrics” The Angle Orthodontics, 32, pp.214-231

9 Ricketts RM (1961), “Cephalometric analysis and synthesis”

Angle Orthod; 31:141-156

10 Steiner CC (1960) “The use of cephalometrics as an aid to

planning and assessing orthodontic treatment” Am J

orthod;46: 721- 735

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/02/2018 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 06:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w