1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ứng dụng công nghệ ghép tế bào gốc từ mô mỡ và PRP trong điều trị thoái hóa khớp gối

5 78 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 321,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thoái hóa khớp gối là bệnh thoái hóa tiến triển, liên quan đến hệ thống tự miễn và phản ứng viêm. Có 2 yếu tố được đưa ra và không thể tách rời nhau: yếu tố cơ học và yếu tố tế bào. Các yếu tố cơ học được coi là hiện tượng ban đầu của các vết nứt hình sợi và các vi gãy xương do suy yếu collagen. Từ những yếu tố tấn công cơ học đó gây ra sự hoạt hóa và giải phóng enzyme trong quá trình thoái biến chất cơ bản gây ra sự phá hủy sụn khớp và sự tạo khớp bị suy giảm.

Trang 1

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ GHÉP TẾ BÀO GỐC TỪ MÔ MỠ

VÀ PRP TRONG ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA KHỚP GỐI

Nguyễn Đình Phú *, Trần Đặng Xuân Tùng**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề : Thoái hóa khớp gối là bệnh thoái hóa tiến triển, liên quan đến hệ thống tự miễn và phản ứng

viêm Có 2 yếu tố được đưa ra và không thể tách rời nhau: yếu tố cơ học và yếu tố tế bào Các yếu tố cơ học được coi là hiện tượng ban đầu của các vết nứt hình sợi và các vi gãy xương do suy yếu collagen Từ những yếu tố tấn công cơ học đó gây ra sự hoạt hóa và giải phóng enzyme trong quá trình thoái biến chất cơ bản gây ra sự phá hủy sụn khớp và sự tạo khớp bị suy giảm Hậu quả là bề mặt sụn khớp bị mỏng dần, xơ hóa và biểu hiện sàng là đau

và hạn chế vận động khớp Mục tiêu điều trị bằng phương pháp cấy ghép tế bào gốc chính là giảm sự hoạt hóa và giải phóng enzyn gây hủy bề mặt sụn khớp và giúp tái tạo lại bề mặt sụn khớp

Mục tiêu: Chúng tôi đánh giá kết quả điều trị sau 6 tháng bằng phương pháp ghép tế bào gốc ở những bệnh

nhân thoái hóa khớp gối độ 2-3

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 16 bệnh nhân thoái hóa khớp gối độ 2-3 được điều trị bằng

phương pháp nội soi cắt lọc hoạt mạc viêm và bơm tế bào gốc tự thân, được xếp vào nhóm nghiên cứu theo dõi trong 6 tháng, 12 tháng, 18 tháng 16 bệnh nhân thoái hóa khớp gối được điều trị bằng phương pháp nội soi cắt lọc hoạt mạc viêm được xếp vào nhóm đối chứng, theo dõi trong 6 tháng, 12 tháng, 18 tháng Nghiên cứu can thiệp, có đối chứng

Kết quả: tuổi trung bình là 59 ± 3,8 và 59 ± 4,3 lần lượt ở nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng, nữ/nam =

15/3 ở nhóm nghiên cứu và 14/4 ở nhóm đối chứng, thang điểm Womac giảm trung bình 27,39 điểm, thang điểm Lyshom tăng trung bình là 26,6 điểm, so với nhóm đối chứng tương ứng giảm 22,53 điểm và tăng 15,6 điểm

Kết luận: Sau 6 tháng theo dõi, chúng tôi nhận định rằng phương pháp sử dụng tế bào gốc từ mô mỡ và

huyết tương giàu tiểu cầu tự thân trong điều trị thoái hóa khớp gối là phương pháp an toàn, giúp bệnh nhân cải thiện triệu chứng đau, khả năng vận động Tuy nhiên cần làm các nghiên cứu khác với thời gian theo dõi lâu hơn

Từ khóa: tế bào gốc trung mô từ mô mỡ, thoái hóa khớp gối

ABSTRACT

AUTOLOGOUS ADIPOSE STEM CELLS AND PLATELET RICH PLASMA THERAPY FOR PATIENTS

WITH KNEE OSTEOARTHRITIS

Nguyen Dinh Phu, Tran Dang Xuan Tung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 5 - 2015: 230 - 234

Background: Osteo arthritis (OA) is a cartilage degenerative process, involving the immune system, producing local inflammatory reactions There are two inseparable theory: mechanical theory and cellular theory Mechanics theory is considered as very first injuries that trigger cellular reponses which damage articular cartilage of knee joint The purpose of stem cell treatment is to reduce the activation pro inflammatory cytokines and and the releasing of enzyme that destroy the articular cartilage

Objectives: We are assessment of OA with grade 2-3 with autologous adipose stem cell after 6

* Khoa Chấn thương chỉnh hình, Bệnh Viện Nhân Dân 115, TPHCM

** Bệnh viện Đa khoa Vạn Hạnh , TPHCM

Trang 2

month follow-up

Materials and methods: 16 OA patients with grade 2-3, treated by resecting inflamed synovialis and stem

cell transplantation were classified in trial group with 6 months, 12 months, and 18 months follow-up 16 OA patients with grade 2-3, treated by resecting inflamed synovialis were classified in control group with 6 months,

12 months, and 18 months follow-up Experimental study with case-control

Results: Mean age 59 ± 3.8 and 59 ± 4.3 in trial group and control group respectively, woman/man = 15/3 in

trial group and 14/4 in control group, trial group decreased by 27.39 points in Womac index and increased 26.6 points in Lysholm scale averagely, compared with control group which decreased by 22.53 points and increased by 15.6 points respectively

Conclusion: After 6 months follow-up, we suggest that autologous Adipose tissue-Derived Stem Cell and

Platelet Rich Plasma transplantation in Osteoarthritis treatment is a safe method, help patients improve pain symptoms, movability However, it is needed to do further study with longer follow-up

Keywords: Osteoarthritis, mesenchymal stem cell, adipose stem cell

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thoái hóa khớp gối là bệnh lý thoái hóa mô

liên kết, thường gặp ở dân số lớn tuổi hoặc theo

sau một chấn thương Đặc biệt, bề mặt sụn khớp

bị tổn thương và khả năng tái tạo kém do thiếu

cấu trúc mạch máu trong sụn Mặc dù các

phương pháp điều trị bằng thuốc hay ngoại

khoa hiện nay có thể làm giảm đau nhưng khả

năng phục hồi lại chức năng bình thường của bề

mặt sụn là khó đạt được Bởi vì tế bào gốc trung

mô là tế bào gốc của mô liên kết, trong đó có mô

sụn, nên việc sử dụng tế bào gốc trung mô trong

phục hồi bề mặt sụn khớp được xem như là hợp

lý Ngoài việc biểu hiện các marker của tế bào

gốc thì đặc tính quan trọng là điều biến miễn

dịch và khả năng biệt hóa thành tế bào sụn Hơn

nữa, với cơ chế nội tiết của mình, tế bào gốc

trung mô có thể bảo vệ sụn khớp khỏi việc phá

hủy và tái khởi động các tế bào tiền thân tại chỗ

Tế bào gốc trung mô từ mô mỡ với các tính chất

của một tế bào gốc trung mô còn có ưu điểm là

thuận tiện trong việc thu nhận mô mỡ, ít gây

xâm lấn, số lượng dồi dào hơn so với các vị trí

thu nhận tế bào gốc trung mô khác Từ những

tính chất có khả năng ứng dụng trên lâm sàng,

chúng tôi triển khai nghiên cứu “Đánh giá tính

an toàn và hiệu quả của ghép tự thân hỗn hợp tế

bào gốc trung mô từ mô mỡ và huyết tương giàu

tiểu cầu trong thoái hóa khớp gối”

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

32 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán thoái hóa khớp gối độ II, độ III theo phân độ Kellgren và Lawrence được điều trị tại Bệnh viện Nhân dân (BVND) 115 và Bệnh viện Vạn Hạnh TPHCM được chia thành 2 nhóm: nhóm nghiên cứu (16 BN) và nhóm đối chứng (16 BN) Nhóm nghiên cứu tiến hành phẫu thuật nội soi cắt lọc và bơm

tế bào gốc + huyết tương giàu tiểu cầu vào ổ khớp gối, nhóm đối chứng tiến hành phẫu thuật nội soi cắt lọc đơn thuần

Phương pháp nghiên cứu

BN được thăm khám, chụp X-quang khớp gối hai bình diện thẳng và nghiêng, chẩn đoán xác định dựa trên kết quả X-quang và MRI Những BN được chẩn đoán thoái hóa khớp gối

độ II, độ III theo phân độ Kellgren và Lawrence được tuyển chọn cho nghiên cứu, và chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: nhóm nghiên cứu có 16 BN;

và nhóm đối chứng có 16 BN

Các BN ở nhóm nghiên cứu được điều trị phẫu thuật nội soi khớp gối cắt lọc hoạt mạc viêm và bơm tế bào gốc trung mô từ mô mỡ + huyết tương giàu tiểu cầu vào vị trí khớp gối cần tái tạo Trong khi đó, ở nhóm đối chứng, các BN được điều trị phẫu thuật nội soi khớp gối cắt lọc hoạt mạc viêm

Trang 3

Kỹ thuật

Bệnh nhân được tiền mê, tê tại chỗ vùng

bụng mà dự định hút mỡ BN được tiến hành

hút khoảng 70-100 ml mỡ bằng xylanh 50 ml

Sau đó, mỡ sẽ được vận chuyển về Phòng thí

nghiệm NC&UD Tế bào gốc, Trường ĐHKHTN,

ĐHQG Tp.HCM để tách chiết thu phân đoạn

nền tạo mạch (Stromal vascular fraction – SVF)

có chứa tế bào gốc Việc thu nhận SVF từ mô mỡ

được tiến hành theo bộ kit tách chiết tế bào gốc

mô mỡ (ADSC Extraction kit) do Công ty TNHH

Thế Giới Gen sản xuất Bên cạnh đó, bệnh nhân

còn được thu 20 ml máu ngoại vi để chế tạo

huyết tương giàu tiểu cầu (Platelet rich plasma –

PRP) Việc chế tạo PRP được tiến hành theo

hướng dẫn của kit New-PRP Pro Kit do Công ty

TNHH Thế Giới Gen sản xuất

Trong thời gian thu nhận SVF, bệnh nhân

được gây tê tủy sống, nội soi cắt lọc hoạt mạc

viêm và rửa sạch ổ khớp

Sau khi nhận, toàn bộ SVF chứa tế bào gốc

trung mô, SVF sẽ được hoạt hóa bằng 3 mL PRP

Hỗn hợp này được tiêm vào khớp gối bệnh nhân

sau khi khớp gối đã được rửa và cắt hoạt mạc

viêm

Sau khi điều trị, BN nằm bất động trong

ngày đầu Hạn chế đi lại trong 2 tuần Sau đó cho

đứng dậy tập đi chống hai nạng không tì lên

chân được tiêm SVF và PRP trong 2 tuần tiếp

theo và sau đó bắt đầu tập đi lại tì đè lên chân

làm thủ thuật tăng dần Tì đè chủ động chân đau

sau 8 tuần

KẾT QUẢ

Đặc điểm tế bào học

Chúng tôi thu nhận thành công SVF và PRP

trên 16 BN của nhóm nghiên cứu Kết quả trung

bình thu nhận được là 1.337.194 tế bào/ml mỡ, và

98% tế bào sống Số lượng tế bào thu được trên

mỗi ml mỡ và tỉ lệ tế bào sống là đúng tiêu

chuẩn của bộ kit đưa ra (Bảng 1)

Để chứng minh có sự tồn tại tế bào gốc bên

trong SVF, các mẫu SVF được trích 1 phần nhỏ

để kiểm tra sự tồn tại của tế bào gốc bên trong SVF bằng kĩ thuật dòng chảy tế bào (Flow cytometry) với kháng thể đặc hiệu cho tế bào gốc Kết quả cho thấy, tỉ lệ trung bình tế bào gốc

có trong SVF là 8,21% (Hình 1)

Bảng 1 Đặc điểm tế bào sau khi tách

Đặc điểm tế bào sau khi tách từ mô mỡ

Số lượng tế bào/ml mỡ (tế bào) 1.3 x 106

Hình 1 Sự tồn tại tế bào gốc trong chế phẩm trước

khi ghép

Đặc điểm lâm sàng của nghiên cứu

Như ta thấy trong nghiên cứu có sự tương đồng giữa nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng trong các đặc điểm dịch tễ và lâm sàng

Bảng 2 Đặc điểm lâm sàng của BN

Đặc điểm Nhóm nghiên cứu Nhóm đối chứng

Giới: Nam

Nữ

3

15

4

14

Vị trí đau: Trái Phải

6

10

8

8 Thời gian đau 3,6 ± 1,2 năm 3,1 ± 0,9 năm Phân độ: II

III

5

11

6

10

Kết quả theo dõi sau 6 tháng

Sau 6 tháng theo dõi, cả hai nhóm đều có

sự diễn tiến lâm sàng tốt, không xuất hiện các

Trang 4

biến chứng sau mổ đều có sự cải thiện về mặt

lâm sàng

Bảng 3 Kết quả điều trị sau 6 tháng

Bảng điểm Nhóm nghiên cứu Nhóm đối chứng

VAS

Trước PT

Sau 6 tháng

1,6

3

1,4 2,7 Tuy nhiên qua thống kê sự tăng giảm của các

thang điểm đánh giá lâm sàng, ta thấy sự cải

thiện tốt hơn ở nhóm có bơm tế bào gốc sau

phẫu thuật nội soi Với thang điểm Womac giảm

trung bình 27, 39 điểm so cới mức giảm trung

bình là 22,53 điểm ở nhóm chứng Đồng thời

thang điểm Lyshom cũng có độ tăng tương ứng,

trung bình là 26,6 điểm ở nhóm nghiên cứu so

với 15,6 điểm ở nhóm chứng

Trong nghiên cứu chúng tôi rất chú trọng

tính an toàn của phương pháp có bơm tế bào gốc

sau mổ so với chỉ phẫu thuật đơn thuần Chúng

tôi theo dõi các tai biến, biến chứng của toàn quá

trình thực hiện thủ thuật có thể xảy ra cho bệnh

nhân Chúng tôi theo dõi: tình trạng sốc, dấu

hiệu nhiệm trùng tại khớp sau tiêm, tại vùng lấy

mở và các dấu hiệu toàn thân khác Không có

trường hợp nào báo các có các biến chứng cấp

tính trên

BÀN LUẬN

Đây là một trong những nghiên cứu can

thiệp, có đối chứng đầu tiên tại nước ta ứng

dụng công nghệ tế bào gốc trong điều trị thoái

hóa khớp gối Do đó, tiêu chí an toàn được đề

cập đầu tiên Với số mẫu là 16 bệnh nhân trong

lô nghiên cứu, chúng tôi chưa ghi nhận bất kỳ

trường hợp nào xảy ra biến cố bất lợi hay biến cố

bất lợi nghiêm trọng tính đến thời điểm 6 tháng

Đây là phương pháp ghép tự thân, tế bào gốc

được tách ra từ bệnh nhân, hoạt hóa bằng huyết

tương giàu tiểu cầu của chính bệnh nhân và

ghép lại cho bệnh nhân Thời gian thao tác in

vitro của tế bào chỉ khoảng vài tiếng với thao tác

tối thiểu

Báo cáo cũng đánh giá bước đầu về hiệu quả của phương pháp Các số liệu về thang điểm WOMAC, LYSHOM và thang điểm đau VAS đều cải thiện ở các bệnh nhân tham gia nghiên cứu Và sự cải thiện này ở nhóm có bơm tế bào gốc nổi trội hơn so với nhóm đối chứng Tuy nhiên, về mặt hình ảnh học chúng tôi chưa ghi nhận được sự tái tạo sụn hay các phục hồi sụn khớp tương tự Điều này cũng có thể do đây chỉ

là báo cáo cắt ngang tại thời điểm 6 tháng, bệnh nhân cần thêm thời gian để theo dõi

Tác dụng giảm đau trong nhóm nghiên cứu liên quan trực tiếp đến vai trò của SVF chứa tế bào gốc (adipose derived stem cells – ADSC) và PRP Thật vậy, trong các nghiên cứu trước PRP được báo cáo là ức chế con đường NFκB, do đó ngăn cản việc cảm ứng các gen mục tiêu NFκB(9) Tác động giảm đau và giảm viêm cũng liên quan đến vai trò của nhiều thành phần các chất tăng trưởng có trong PRP PRP chứa nhiều loại cytokine như HGF, PDGF, IGF, TGF-β, EGF và FGF(1;4) HGF được biết là một yếu tố kích thích các chất ức chế NFκB(2); làm giảm các yếu tố gây viêm IL-6; và tăng yếu tố chống viêm IL-10(2) Tác động chống viêm và giảm đau cũng có vai trò từ các chất được sản xuất từ tế bào ADSC trong SVF ADSC đã được chứng minh là sản xuất nhiều yếu tố quan trọng trong giảm đau và chống viêm như HGF, VEGF, NGF, EGF, FGF, and TGF-β(6;8;10)

Tác động có lợi của việc ghép SVF và PRP trong điều trị thoái hoá khớp cũng được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu lâm sàng ở nhiều quốc gia Trong nghiên cứu gần đây, Jo và cs(5)

cũng tiến hành quy trình tương tự trên 18 bệnh nhân; sau 6 tháng, các bệnh nhân cũng cải thiện đáng kể điểm WOMAC(5) Trong nghiên cứu trước đó, Pak (2011) cũng báo cáo có sự cải thiện đáng kể của bệnh nhân thoái hoá khớp được ghép SVF sau 12 tháng theo dõi(7)

Kết quả nghiên cứu được công bố gần đây của nhóm tác giả Bùi Hồng Thiên Khanh, ĐHYD Tp.HCM cũng cho thấy việc ghép SVF và PRP có

Trang 5

sự cải thiện đáng kể điểm Lysholm sau 6 tháng

và có sự dày lên của sụn khớp.

KẾT LUẬN

Sau 6 tháng theo dõi, chúng tôi nhận định

rằng phương pháp sử dụng tế bào gốc từ mô mỡ

và huyết tương giàu tiểu cầu tự thân trong điều

trị thoái hóa khớp gối là phương pháp an toàn,

giúp bệnh nhân cải thiện triệu chứng đau, khả

năng vận động Tuy nhiên cần làm các nghiên

cứu khác với thời gian theo dõi lâu hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

plasma preparation for regenerative medicine: optimization

and quantification of cytokines and growth factors Stem cell

research & therapy 4, 67

Maroni P, and Desiderio MA (2010) Molecular basis of

antiinflammatory action of platelet-rich plasma on human

chondrocytes: mechanisms of NF-kappaB inhibition via HGF

Journal of cellular physiology 225, 757–766

(2010) Hepatocyte growth factor modulates interleukin-6

production in bone marrow derived macrophages:

implications for inflammatory mediated diseases PloS one 5,

e15384

and the platelet activator calcium chloride both influence the

growth factor content of platelet-rich plasma (PRP):

overlooked biochemical factors that could influence PRP

treatment British journal of sports medicine

Shim H, Shin JS, Shin IS, et al (2014) Intra-articular injection

of mesenchymal stem cells for the treatment of osteoarthritis of the knee: A proof-of-concept clinical trial Stem cells (Dayton, Ohio)

Ludlow JW, Stricker DM, Potiny S, Green P, et al (2007) Cytokine profile of human adipose-derived stem cells:

pro-inflammatory factors Journal of cellular physiology 212, 702–

709

osteonecrosis and human cartilage in knee osteoarthritis with autologous adiposetissue- derived stem cells: a case series Journal of medical case

Adipose tissue derived stem cells secretome: soluble factors and their roles in regenerative medicine Current stem cell research & therapy 5, 103–110

Weinans H, Bernsen MR, and van Osch GJ (2011) Platelet-rich plasma releasate inhibits inflammatory processes in osteoarthritic chondrocytes The American journal of sports medicine 39, 2362–2370

DM, Duong TD, Nguyen TD, Le VT, et al (2013) Activated platelet-rich plasma improves adipose-derived stem cell transplantation efficiency in injured articular cartilage Stem cell research & therapy 4, 91

Ngày nhận bài báo: 07/04/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 24/04/2015 Ngày bài báo được đăng: 20/10/2015

Ngày đăng: 15/01/2020, 06:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w