1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát giá trị của vi đạm niệu trong dự đoán tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

6 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 379,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổn thương thận cấp (TTTC) là một biến chứng thường gặp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết (NKH). Ngày càng có nhiều chỉ dấu sinh học giúp dự đoán sớm TTTC trên bệnh nhân NKH trong đó có Albumin niệu. Ở trong nước, lĩnh vực này chưa được nghiên cứu sâu và có hệ thống vì thế chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm đánh giá vai trò của Albumin niệu trong dự đoán TTTC ở bệnh nhân NKH.

Trang 1

KHẢO SÁT GIÁ TRỊ CỦA VI ĐẠM NIỆU TRONG DỰ ĐOÁN

TỔN THƯƠNG THẬN CẤP Ở BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN HUYẾT

Nguyễn Lý Minh Duy *, Trương Ngọc Hải**

TÓM TẮT

Mở đầu: Tổn thương thận cấp (TTTC) là một biến chứng thường gặp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

(NKH) Ngày càng có nhiều chỉ dấu sinh học giúp dự đoán sớm TTTC trên bệnh nhân NKH trong đó có Albumin niệu Ở trong nước, lĩnh vực này chưa được nghiên cứu sâu và có hệ thống vì thế chúng tôi thực hiện

đề tài này nhằm đánh giá vai trò của Albumin niệu trong dự đoán TTTC ở bệnh nhân NKH

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân NKH không có TTTC nhập

khoa Hồi Sức Tích Cực (HSTC) bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 10/2016 đến tháng 05/2017 theo tiêu chuẩn của hội Hồi Sức Cấp Cứu (Society of Critical Care Medicine: SCCM) năm 2016 và tiêu chuẩn AKIN 2006 Phương pháp nghiên cứu: Đoàn hệ tiến cứu Bệnh nhân được lấy nước tiểu để xét nghiệm tỷ lệ Albumin niệu/Creatinin niệu (Albumin to Creatinin Ratio: ACR) trong vòng 24 giờ từ khi được chẩn đoán NKH Bệnh nhân được theo dõi về thời gian xuất hiện TTTC, thời gian thở máy, thời gian nằm khoa HSTC, và tỷ lệ tử vong

Kết quả: Có 39 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh được đưa vào nghiên cứu Điểm APACHE II và

SOFA lần lượt là 16,49 ± 4,48 và 6,33 ± 2,31 16 bệnh nhân xuất hiện TTTC và 23 bệnh nhân không có TTTC ACR có khả năng dự đoán TTTC với diện tích dưới đường cong AUC = 0,701, KTC 95% (0,52 - 0,88), p = 0,03 Ngưỡng cắt 221,78 mg/g cho độ nhạy 62,50 % và độ đặc hiệu 82,61 % Nhóm ACR ≥ 221,78 mg/g có nguy cơ TTTC gấp 7,92 lần so với nhóm ACR < 221,78 mg/g; KTC 95 % (1,8-34,74) p = 0,007 Tỷ lệ TTTC cao hơn ở nhóm ACR ≥ 221,78 mg/g, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê từ ngày thứ 3 với p = 0,006 Tỷ lệ tử vong, thời gian thở máy, thời gian nằm HSTC cao hơn có ý nghĩa ở nhóm có ACR trên ngưỡng cắt với p lần lượt là 0,018; 0,046; 0,038

Kết luận: ACR có giá trị khá trong dự đoán TTTC trên bệnh nhân nhiễm khuẩn nhập khoa HSTC ACR có

liên quan đến thời gian thở máy, thời gian nằm hồi sức và tỷ lệ tử vong trên bệnh nhân NKH nhập khoa HSTC

Từ khóa: Tổn thương thận cấp, Nhiễm khuẩn huyết, Albumin niệu/Creatinin niệu (ACR)

ABSTRACT

DETERMINING THE PREDICTIVE ABILITY OF ALBUMINURIA FOR ACUTE KIDNEY INJURY IN SEPTIC PATIENTS

Nguyen Ly Minh Duy, Truong Ngoc Hai

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 39 - 44

Introduction: Acute Kidney Injury (AKI) is a common complication related to sepsis More and more

biomarkers have been studied for early predicting AKI in septic patients including albuminuria Though reported for recent years in developed countries, this issue has yet been studied in population in VietNam Therefore, we did

the research to determine whether albuminuria could predict AKI in septic patients

Patient and Method: Patient: Septic patients without AKI on entry to the ICU of Cho Ray Hospital were

enrolled from October 2016 to May 2017 Method: Prospective cohort study Urinary Albumin to Creatinin Ratio (ACR) was measured in 24 hours within the time of enrollment Patients were then followed up for the development of AKI, ventilator days, ICU length of stay and hospital mortality

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Lý Minh Duy ĐT: 0932922837 Email: drnguyenlyminhduy@gmail.com

Trang 2

Results: A total of 39 septic patients were enrolled, of whom 13 developed AKI and 26 did not The area

under the curve of ACR in predicting AKI within 7 days of admission was 0,701 (95 % confidence interval [95% CI] 0.52 – 0.88; p = 0.03) with the sensitivity and the specificity of 62.50 % and 82.61 %, respectively at the cutoff of 221.78 mg/g AKI’s risk in those having ACR above cutoff was 7.92 times higher than those not (95% CI, 1.8-34.74; p = 0.007) The difference in AKI rate between the higher and lower ACR group reached statistically significant at day three of enrollment (p = 0.006) The mortality rate, length of invasive ventilation and ICU stay in the higher ACR group were more significant (p = 0.018, p = 0.046, p = 0.038, respectively)

Conclusion: ACR can fairly predict AKI in septic patients with AUC = 0.701 and is associated with

mortality rate, the length of invasive ventilation and ICU stay

Key words: Acute kidney injury, Sepsis, Albumin to Creatinin Ratio (ACR)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tổn thương thận cấp (TTTC) là hội chứng

với đa nguyên nhân và đa cơ chế Trong số

nguyên nhân đó NKH là nguyên nhân hàng

đầu Trong nghiên cứu của Uchino và cộng sự

khoảng 50 % nguyên nhân TTTC tại khoa Hồi

Sức là do NKH(12) Bệnh nhân vừa NKH vừa

TTTC có tỷ lệ tử vong rất cao với tỷ lệ tử vong

nội viện và tỷ lệ tử vong trong Hồi Sức tăng tới

20-30 %( 1 ) Ngày càng có nhiều chỉ dấu sinh học

giúp dự đoán sớm TTTC trên bệnh nhân NKH

trong đó có Albumin niệu Ở trong nước, lĩnh

vực này chưa được nghiên cứu sâu và có hệ

thống vì thế chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm

đánh giá vai trò của Albumin niệu trong dự

đoán TTTC ở bệnh nhân NKH

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân nhập khoa Hồi Sức bệnh viện

Chợ Rẫy từ tháng 10/2016 đến tháng 05/2017 có

NKH theo tiêu chuẩn 2016 của SCCM(2)

Không có TTTC theo tiêu chuẩn AKIN

2006(6)

Được sự đồng ý tham gia nghiên cứu của

thân nhân bệnh nhân

Tiêu chuẩn loại trừ

Tuổi < 18

Tiền căn có bệnh lý thận (TTTC, suy thận

mạn, mạch máu thận, bệnh lý cầu thận, ống

thận, mô kẽ thận)

Nhiễm khuẩn vùng niệu dục

Bệnh nhân nặng đang hấp hối

Thời gian nằm viện < 48 giờ, thời gian nằm Hồi Sức < 24 giờ

Mang thai

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu, từ tháng 10/2016 đến tháng 05/2017, phương pháp lấy mẫu thuận tiện, liên tục

Bệnh nhân nhập khoa Hồi Sức thỏa tiêu chuẩn nhận bệnh không có tiêu chuẩn loại trừ được lấy Creatinin huyết thanh Nếu độ lọc cầu thận ≥ 60 ml/phút/1,73 m2 da theo công thức MDRD bệnh nhân sẽ được chúng tôi lấy nước tiểu làm xét nghiệm tính ACR trong vòng 24 giờ Albumin niệu được định lượng bằng phương pháp đo miễn dịch độ đục với thuốc thử của hãng SPINREACT Mẫu thử được phân tích bằng máy BS 300 với bước sóng 540 nm Kết quả thu được nồng độ Albumin niệu đơn vị mg/l Creatinin niệu được định lượng bằng phương pháp động lực học dựa trên tốc độ của phản ứng đổi màu Thuốc thử sử dụng của hãng BIOLABO Máy phân tích mẫu thử là máy BMS 300 với bước sóng 490 nm Kết quả thu được nồng độ Creatinin nước tiểu đơn vị mg/dl Từ đó tính tỷ

số ACR đơn vị mg/g Bệnh nhân sẽ được theo dõi thể tích nước tiểu mỗi 8 giờ, Creatinin mỗi 48 giờ cho đến khi bệnh nhân hồi phục chuyển khỏi khoa, sau 7 ngày, hoặc khi bệnh nhân thỏa tiêu

Trang 3

chuẩn TTTC của AKIN 2006 Ghi nhận tỷ lệ

TTTC, phần trăm thời gian thở máy (thời gian

thở máy/thời gian nằm viện), phần trăm thời

gian nằm hồi sức (thời gian nằm hồi sức/thời

gian nằm viện), tỷ lệ tử vong trong thời gian nằm viện

Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0

KẾT QUẢ

Đặc điểm nhóm nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm nhóm không tổn thương thận cấp và tổn thương thận cấp

KTTTC (N* = 23) TTTC (N* = 16) Trị số p

Ngõ vào nhiễm

khuẩn

0,217

* N: số lượng

Có 39 bệnh nhân thoả tiêu chuẩn chọn bệnh

được đưa vào nghiên cứu Điểm APACHE II và

SOFA lần lượt là 16,49 ± 4,48 và 6,33 ± 2,31 16

bệnh nhân xuất hiện TTTC và 23 bệnh nhân

không có TTTC Không có sự khác biệt về phân

bố giới, tuổi, tỷ lệ đái tháo đường tuýp 2 (ĐTĐ2),

ngõ vào nhiễm khuẩn, thang điểm SOFA giữa 2

nhóm TTTC và không tổn thương thận cấp

(KTTTC) Điểm APACHE II, ACR, tỷ lệ tử vong,

phần trăm thời gian thở máy, phần trăm thời

gian nằm hồi sức ở nhóm KTTTC khác biệt có ý

nghĩa so với nhóm TTTC (Bảng 1)

ACR dự đoán tổn thương thận cấp

Đường cong ROC

ACR dự đoán TTTC với diện tích dưới

đường cong AUC = 0,701, KTC 95 % từ 0,52

đến 0,88 với p = 0,03 Ngưỡng cắt tốt nhất

được xác định qua chỉ số Youden là 221,78

mg/g (Biểu đồ 1)

Với ngưỡng cắt này, chúng tôi chia nhóm

nghiên cứu thành 2 nhóm: nhóm ACR trên

ngưỡng cắt (ACR+) khi ACR ≥ 221,78 mg/g,

nhóm ACR dưới ngưỡng cắt (ACR-) khi ACR < 221,78 mg/g (Bảng 2)

Biểu đồ 1: Đường cong ROC của ACR trong dự

đoán tổn thương thận cấp

Ngưỡng cắt = 221,78 mg/g cho độ nhạy 62,50%; độ đặc hiệu 82,61%; giá trị tiên đoán dương 71,43%; giá trị tiên đoán âm 76,00%; tỷ số khả dĩ dương 3,59; tỷ số khả dĩ âm 0,45 Từ bảng

Trang 4

2 x 2 tính được tỷ số số chênh OR = 7,92 KTC

95% (1,8-34,74) p = 0,007

Bảng 2: Bảng 2 x 2 giá trị ACR trong dự đoán tổn

thương thận cấp

Số lượng (N) ACR + ACR -

Thời gian xuất hiện tổn thương thận cấp

Theo dõi 2 nhóm bệnh nhân có ACR+ và

ACR- và ghi nhận tỷ lệ TTTC theo thời gian Sự

khác biệt tỷ lệ TTTC giữa 2 nhóm ACR+ và ACR-

bắt đầu có ý nghĩa thống kê từ ngày thứ 3 với p =

0,006 (Biểu đồ 2)

Biểu đồ 2: Thời gian xuất hiện tổn thương thận cấp

trên 2 nhóm ACR

ACR và kết cục lâm sàng khác

Bảng 3: ACR và kết cục lâm sàng khác

BÀN LUẬN

Đặc điểm nhóm nghiên cứu

Có 39 bệnh nhân thoả tiêu chuẩn chọn bệnh

được đưa vào nghiên cứu Điểm APACHE II và

SOFA lần lượt là 16,49 ± 4,48 và 6,33 ± 2,31 thấp

hơn số liệu của tác giả đã từng nghiên cứu về

NKH tại khoa Hồi Sức bệnh viện Chợ Rẫy (Bảng

4) vì tiêu chuẩn nhận bệnh của chúng tôi không

bao gồm bệnh nhân có tiền căn bệnh thận trước

đó và độ lọc cầu thận nhập khoa Hồi Sức tính

trong khi đó chức năng thận là một trong những

thành tố của thang điểm SOFA và APACHE II

Bảng 4: Điểm SOFA và APACHE II trong các

nghiên cứu về nhiễm khuẩn huyết tại bệnh viện

Chợ Rẫy

Tác giả Năm SOFA APACHE II

P.T.N.Thảo(9) N = 234 2010 10,67 ± 3,56 22,75 ± 8,89

P.T.N.Thảo(10) N = 65 2011 12,67 ± 3,56 21,75 ± 8,89

H.Q.Đại(4) N = 43 2011 10,42 ± 3,40 18,12 ± 6,78

P.T.N.Thảo(11) N = 123 2013 10,60 ± 3,60 23,30 ± 8,30

Chúng tôi N = 39 2017 6,33 ± 2,31 16,49 ± 4,48

16 bệnh nhân xuất hiện TTTC và 23 bệnh nhân không có TTTC Chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt về phân bố giới, tuổi giữa

2 nhóm TTTC và KTTTC Điều này cũng tương

tự với nghiên cứu của Plataki năm 2011 (N = 390)(8) và Neyra(7) năm 2014 (N = 423)

chúng tôi không khác biệt giữa 2 nhóm khác với nghiên cứu của Zhang tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 chiếm tỷ lệ khá cao 29,76% Đây là yếu tố gây nhiễu cho kết quả nghiên cứu bởi theo Yokoyama( 13 ) cho thấy có đến 27% bệnh nhân có Albumin niệu hoặc Protein niệu dù cho

độ lọc cầu thận ≥ 60 ml/phút/1,73 m2 da

Trong nghiên cứu của Plataki( 8 ) nhiễm khuẩn

ổ bụng là một yếu tố dự đoán độc lập TTTC OR

= 1,98 KTC 95 % (1,04-3,89) p = 0,04 với lý giải nhiễm khuẩn ổ bụng liên quan đến việc chậm kiểm soát nguồn nhiễm khuẩn Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có sự khác biệt giữa 2 nhóm khi NKH xuất phát từ đường tiêu hóa hay không từ đường tiêu hóa Sự khác biệt cho thấy

Trang 5

sự chuyển biến trong việc cố gắng kiểm soát

nguồn nhiễm khuẩn trên bệnh nhân NKH của

các bác sĩ lâm sàng, điều được nhấn mạnh trong

hướng dẫn của SSCM 2012 và 2016

Trong nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy

có sự khác biệt thang điểm APACHE II giữa 2

nhóm APACHE II tiên đoán TTTC đã được

chứng minh trong nghiên cứu của Chawla( 3 ), tác

giả nhận thấy trong thang điểm APACHE II

không bao gồm Creatinin cứ tăng 5 điểm nguy

cơ TTTC tăng 22% với p = 0,002 Nghiên cứu của

Plataki( 8 ) trong mô hình hồi quy đa biến cũng cho

thấy thang điểm APACHE III là yếu tố tiên đoán

độc lập TTTC trên bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn

OR = 4,09 KTC 95% (1,62-10,6) p = 0,003

Bệnh nhân TTTC đi kèm với tỷ lệ tử vong

cao, trong nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân

TTTC có tỷ lệ tử vong lên đến 81,25 % khác biệt

có ý nghĩa thống kê với nhóm KTTTC p < 0,0001

do đó thời gian nằm Hồi Sức, thời gian thở máy

không phản ánh được độ nặng của bệnh và kết

cục trên 2 nhóm, việc dùng tỷ lệ phần trăm thời

gian bệnh nhân thở máy và tỷ lệ phần trăm thời

gian bệnh nhân nằm Hồi Sức trên tổng thời gian

nằm viện phản ánh độ nặng của bệnh và cho

thấy có sự khác biệt rõ giữa 2 nhóm

ACR dự đoán tổn thương thận cấp

Trong nghiên cứu của chúng tôi, ACR dự

đoán TTTC với diện tích dưới đường cong AUC

= 0,701 Ngưỡng cắt tốt nhất được xác định qua

chỉ số Youden là 221,78 mg/g ACR có khả năng

dự đoán TTTC trên bệnh nhân NKH cũng được

đường cong ROC có AUC = 0,86, ngưỡng cắt 143

mg/g Ngưỡng cắt trong nghiên cứu của chúng

tôi cao hơn so với của Zhang(14) do đó có độ nhạy

thấp hơn (62,5 % với 91,7 %) tuy nhiên độ

chuyên cao hơn (79,2 % với 82,6 %) Sự khác biệt

có thể do thời điểm lấy mẫu của nhóm nghiên

cứu chúng tôi trễ hơn so với Zhang Có 74,36 %

bệnh nhân được nhận vào nghiên cứu được

chuyển lên từ tuyến trước và thời gian từ lúc lấy

mẫu định lượng tỷ số Albumin niệu/Creatinin

niệu đến khi phát hiện TTTC trong nghiên cứu của chúng tôi có trung vị là 2 ngày, thấp hơn nghiên cứu của Zhang có trung vị là 4 ngày Chúng tôi tiến hành chia nhóm nghiên cứu thành 2 nhóm ACR+ và ACR- ghi nhận thời gian xuất hiện TTTC và nhận thấy đến ngày thứ 3 tỷ

lệ TTTC giữa 2 nhóm khác nhau có ý nghĩa

năm 2014 trên 423 bệnh nhân NKH tại khoa Hồi Sức cũng đưa ra kết luận sự xuất hiện mới của Albumin niệu trên que nhúng có tương quan với TTTC vào ngày thứ 3 trên mô hình hồi quy logistic đơn biến OR = 1,91 KTC 95 % (1,27-2,86)

p = 0,002 và trên mô hình hồi quy logistic đa biến với OR = 1,87 KTC 95 % (1,21-2,89) p = 0,005

ACR và kết cục lâm sàng khác

Trong nghiên cứu của chúng tôi nhóm bệnh nhân ACR+ có tỷ lệ tử vong cao hơn nhóm ACR- Tuy nhiên dù bệnh nhân có ACR+ hay ACR- khi bệnh nhân có TTTC đều đi kèm với tỷ lệ tử vong rất cao (80% ở nhóm ACR+ và 83,33% ở nhóm ACR-) do đó việc phát hiện sớm TTTC trên bệnh nhân NKH đóng vai trò quan trọng làm giảm tỷ lệ tử vong

Tỷ lệ phần trăm thời gian bệnh nhân thở máy và nằm Hồi Sức trên nhóm bệnh nhân có ACR+ nhiều hơn so với nhóm bệnh nhân có ACR- có ý nghĩa thống kê với p = 0,046 và p = 0,038 Trong nghiên cứu của Honarmand(5) trên

60 bệnh nhân chấn thương nhập khoa Hồi Sức cũng cho thấy khi ACR > 100 mg/g nguy cơ bệnh nhân có thời gian thở máy trên 7 ngày gấp 8 lần

so với nhóm bệnh nhân có ACR < 100 mg/g

KẾT LUẬN

ACR có giá trị khá trong dự đoán TTTC trên bệnh nhân nhiễm khuẩn nhập khoa HSTC với diện tích dưới đường cong AUC = 0,701 Ngưỡng cắt là 221,78 mg/g cho độ nhạy 62,50 %;

độ đặc hiệu 82,61% Nhóm bệnh nhân với ACR ≥ 221,78 mg/g có 7,92 lần nguy cơ tổn thương thận cấp và có tỷ lệ tổn thương thận cấp cao hơn nhóm bệnh nhân có ACR dưới ngưỡng cắt sau 3 ngày theo dõi ACR có liên quan đến thời gian

Trang 6

thở máy, thời gian nằm hồi sức và tỷ lệ tử vong

trên bệnh nhân NKH nhập khoa HSTC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bagshaw S M, George C, Bellomo R (2008), "Early acute

kidney injury and sepsis: a multicentre evaluation" Critical

Care, 12 (2), pp.47-55

2 Bone R C, Balk R A, Cerra F B, Dellinger R P, Fein A M, et al

(1992), "Definitions for sepsis and organ failure and guidelines

for the use of innovative therapies in sepsis" CHEST, 101 (6),

pp.1644-1655

3 Chawla L S, Seneff M G, Nelson D R, Williams M, Levy H, et

al (2007), "Elevated plasma concentrations of IL-6 and

elevated APACHE II score predict acute kidney injury in

patients with severe sepsis" Clinical Journal of the American

Society of Nephrology, 2 (1), pp.22-30

4 Huỳnh Quang Đại (2011), "Ứng dụng thang điểm SOFA trong

tiên lượng tử vong bệnh nhân nhiễm trùng huyết nặng tại

khoa Hồi Sức Cấp Cứu" Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 15 (2),

tr.74-78

5 Honarmand A, Safavi M, Baghery K, Momayezi A (2009),

"The association of microalbuminuria and duration of

mechanical ventilation in critically ill trauma patients" Ulus

Travma Acil Cerrahi Derg, 15 (1), pp.12-18

6 Mehta R, Kellum J, Shah S, Molitoris B, Ronco C, et al (2007),

"Acute Kidney Injury Network: report of an initiative to

improve outcomes in acute kidney injury" Critical Care, 11 (2),

pp.31-38

7 Neyra J A, Manllo J, Li X, Jacobsen G, Yee J, et al (2014),

"Association of de novo dipstick albuminuria with severe

acute kidney injury in critically ill septic patients" Nephron

Clinical Practice, 128 (3-4), pp.373-380

8 Plataki M, Kashani K, Cabello Garza J, Maldonado F, Kashyap

R, et al (2011), "Predictors of acute kidney injury in septic

shock patients: an observational cohort study" Clinical Journal

of the American Society of Nephrology, 6 (7), pp.1744-1751

9 Phạm Thị Ngọc Thảo (2010), "Đặc điểm bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết điều trị tại khoa Hồi Sức Cấp Cứu bệnh viện

Chợ Rẫy" Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 14 (2), tr.348-353

10 Phạm Thị Ngọc Thảo (2011), "Giá trị tiên lượng của các

Cytokine ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết" Tạp chí Y học TP

Hồ Chí Minh, 15 (2), tr.68-73

11 Phạm Thị Ngọc Thảo (2013), "Giá trị tiên lượng của các Cytokine TNF-α, IL-6, IL 10 ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

nặng" Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 17 (2), tr.7-14

12 Uchino S, Kellum J A, Bellomo R, Doig G S, Morimatsu H, et

al (2005), "Acute renal failure in critically ill patients: a

multinational, multicenter study" JAMA, 294 (7), pp.813-818

13 Yokoyama H, Sone H, Oishi M, Kawai K, Fukumoto Y, et al (2008), "Prevalence of albuminuria and renal insufficiency and associated clinical factors in type 2 diabetes: the Japan Diabetes Clinical Data Management study (JDDM15)"

Nephrology Dialysis Transplantation, 24 (4), pp.1212-1219

14 Zhang Z, Lu B, Ni H, Sheng X, Jin N (2013),

"Microalbuminuria can predict the development of acute

kidney injury in critically ill septic patients" Journal of Nephrology, 26 (4), pp.724-730

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 06:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w