1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xây dựng quy trình khảo sát sự phân tán nhiễm sắc chất của tinh trùng (Sperm Chromatin Dispersion – SCD) dùng trong đánh giá phân mảnh DNA tinh trùng người

6 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 395,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày quy trình SCD với thao tác đơn giản, thời gian thực hiện ngắn, có tiềm năng ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị vô sinh nam cũng như mở ra các hướng nghiên cứu về phân mảnh DNA tinh trùng tại Việt Nam.

Trang 1

XÂY DỰNG QUY TRÌNH KHẢO SÁT SỰ PHÂN TÁN NHIỄM SẮC CHẤT

CỦA TINH TRÙNG (SPERM CHROMATIN DISPERSION - SCD)

DÙNG TRONG ĐÁNH GIÁ PHÂN MẢNH DNA TINH TRÙNG NGƯỜI

Nguyễn Trương Thái Hà*, Nguyễn Thị Thúy An*, Mã Phạm Quế Mai*, Phạm Nguyễn Thảo Trang*,

Hồ Mạnh Tường*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xây dựng quy trình đánh giá phân mảnh DNA tinh trùng

Đối tượng: 70 mẫu tinh dịch của tình nguyện viên nam tuổi từ 18 - 40

Phương pháp nghiên cứu: Các bước xây dựng quy trình gồm khảo sát: mật độ tinh trùng làm tiêu bản,

thành phần dung dịch ly giải, thời gian ly giải và điều kiện biến tính trước ly giải Mẫu tinh dịch xử lý H 2 O 2 2% làm chứng dương Hiệu quả của quy trình sẽ được đối chứng với kết quả từ bộ thuốc thử Halosperm ® G2

Kết quả: Quy trình khảo sát sự phân tán nhiễm sắc chất tinh trùng (Sperm Chromatin Dispersion – SCD)

thực hiện với mật độ tinh trùng dùng làm tiêu bản là 10 6 tinh trùng/ml, sử dụng dung dịch biến tính là HCl 0.08N, một dung dịch ly giải gồm Tris 0.4M, DTT 0.4mM, NaCl 1.5M, SDS 1%, EDTA 50mM, pH 7.5, thuốc nhuộm là DAPI 2µg/ml Hiệu quả của quy trình cho kết quả tương quan dương mạnh (r = 0.97, p < 0.01) khi chạy thống kê SPSS ver.16 với bộ thuốc thử thương mại Halosperm ®

Kết luận: Chúng tôi đã xây dựng thành công quy trình SCD với thao tác đơn giản, thời gian thực hiện

ngắn, có tiềm năng ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị vô sinh nam cũng như mở ra các hướng nghiên cứu về phân mảnh DNA tinh trùng tại Việt Nam

Từ khóa: Halosperm, hỗ trợ sinh sản, SCD, phân mảnh DNA tinh trùng, vô sinh nam

SUMMARY

ESTABLISHING THE PROCEDURE SPERM CHROMATIN DISPERSION (SCD)

FOR DETERMINATION OF HUMAN SPERM DNA FRAGMENTATION

Nguyen Truong Thai Ha, Nguyen Thi Thuy An, Ma Pham Que Mai, Pham Nguyen Thao Trang,

Ho Manh Tuong * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - No 5 - 2016: 82 - 87

Objective: Establish the procedure for determination of human sperm DNA fragmentation

Subjects: 70 semens from male volunteers in ages 18 - 40

Methods: The experiments were surveyed such as the optimal semen dilution for templates, semen dilution,

the concentration of the components in the lysis solution and conditions for human sperm DNA treatment The

H 2 O 2 2% treated semen was used as positive control In addition, DFI was evaluated by both of the established procedure and the halo sperm G2 kit in order to assess correlation between two methods

Result: It is shown that the optimal sperm concentration is 10 6 sperm/ml Samples should be treated in the denaturing solution HCl 0.08N before using lysis solution (Tris 0.4 M, DTT 0.4mM, NaCl 1.5 M, SDS 1 %, EDTA 50 mM, pH 7.5) Sperm DNA was stained by fluorescence dye DAPI 2 µg/ml And DFI can be analyzed

on fluorescence microscopy at 40X The strong positive correlation was observed to both of the improved SCD test and Halosperm kit (r=0.97, P<0.01)

Conclusion: It is believed that the improved SCD test could be applied in male infertility diagnosis as well as

in research on human sperm DNA fragmentation in Viet Nam due to its advantages as simple, suitable cost and

* Trung tâm Nghiên cứu Di truyền và Sức khỏe Sinh sản (CGRH), Khoa Y, Đại học Quốc Gia TP.HCM

Trang 2

short duration

Key word: ART, Halosperm, male infertility, SCD, sperm DNA fragmentation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo nghiên cứu của Schoor và cộng

sự(15), tỷ lệ vô sinh ở các cặp đôi trong độ tuổi

sinh sản là 15 – 20% và ngày càng gia tăng

Do đó, việc phát triển các phương pháp chẩn

đoán vô sinh trong hỗ trợ sinh sản là một

nhiệm vụ rất cần thiết Cho đến nay, phương

pháp chẩn đoán vô sinh nam chủ yếu dựa

trên kết quả tinh dịch đồ theo tiêu chuẩn của

Tổ chức Y tế Thế Giới – WHO 2010 Tuy

nhiên vẫn tồn tại nhiều trường hợp bệnh

nhân bị vô sinh với các chỉ số tinh dịch đồ

nằm trong giới hạn bình thường(17) Các

nghiên cứu gần đây cho thấy phân mảnh

DNA tinh trùng là một trong những nguyên

nhân gây vô sinh(1,15) Nhiều phương pháp

đánh giá sự phân mảnh DNA tinh trùng

người đã ra đời, góp phần không nhỏ vào

việc chẩn đoán và điều trị vô sinh như

phương pháp khảo sát cấu trúc chromatin

tinh trùng – SCSA (Sperm chromatin

structural assay)(4,5) , điện di tế bào đơn –

COMET(3,14), sử dụng chất nhuộm

chromomycin-A3 – CMA3(13), dịch mã đứt

gãy tại chỗ (in situ nick translation assay)(2)…

Trong các phương pháp này, phương pháp

khảo sát sự phân tán nhiễm sắc chất của tinh

trùng - SCD (sperm chromatin dispersion) là

phương pháp có nhiều ưu điểm như đơn

giản, hiệu quả cao và thời gian thực hiện

ngắn(11) Bên cạnh đó, SCD còn có thể kết hợp

với nhiều phương pháp khác như lai huỳnh

quang tại chỗ - FISH (Fluorescent insitu

hybridization) hoặc bổ sung các kháng thể

đặc hiệu để chẩn đoán các bất thường di

truyền ở tinh trùng(7,6,8) Phương pháp SCD

cũng đã được cải tiến thành bộ thuốc thử

thương mại Halosperm®G2(6) với các thành

phần hóa chất pha sẵn, thao tác tiến hành

đơn giản, tuy nhiên giá thành ở Việt Nam lại

khá cao (1.5 triệu đồng/1 xét nghiệm), không

phù hợp để trở thành một chẩn đoán thường quy cho các bệnh nhân vô sinh nam Vì vậy, chúng tôi chọn quy trình SCD với mục tiêu xây dựng và cải tiến quy trình chẩn đoán phân mảnh DNA tinh trùng người phù hợp với điều kiện Việt Nam để trở thành một công cụ xét nghiệm góp phần chẩn đoán và điều trị vô sinh trong hỗ trợ sinh sản

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

70 mẫu tinh dịch từ các tình nguyện viên tham gia nghiên cứu, thu nhận bằng phương pháp thủ dâm tại phòng thí nghiệm của Trung tâm nghiên cứu Di truyền và Sức khỏe Sinh sản (CGRH), Khoa Y, Đại học Quốc Gia thành phố

Hồ Chí Minh Tiêu chuẩn mẫu: có mật độ tối thiểu 107 tinh trùng/ml theo tiêu chuẩn đánh giá mật độ của Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO 2010); thu nhận từ các tình nguyện viên nam trong độ tuổi sinh sản từ 18 – 40 tuổi, không có triệu chứng vô tinh, không mắc các bệnh truyền nhiễm, bệnh hiểm nghèo, bệnh nam khoa, kiêng xuất tinh từ 2-7 ngày

Hình 1: Phân loại phân mảnh tinh trùng, hình ảnh

của Halosperm (a) và SCD (b)

Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên quy trình tham khảo của

Trang 3

Fernández và cộng sự(7,6), chúng tôi xây dựng

và cải tiến quy trình SCD theo điều kiện ở Việt

Nam, với các thí nghiệm: độ pha loãng tinh

dịch, nồng độ các thành phần trong dung dịch

ly giải, thời gian ly giải và điều kiện biến tính

trước ly giải, mỗi nghiệm thức tiến hành lặp lại

đồng thời trên 3 mẫu tinh dịch đại diện cho 3

nhóm phân mảnh tinh trùng: (1) Không phân

mảnh: DFI <15%, (2) Phân mảnh mức độ nhẹ:

DFI 15 – 30%, (3) Phân mảnh nặng: >30%(11)

được đánh giá bằng bộ thuốc thử thương mại

Halosperm® G2 (Halotech DNA, Madrid,

Spain), bộ thuốc thử được phát triển dựa theo

nguyên tắc và quy trình thực hiện của phương

pháp SCD của Férnandez và cộng sự năm

2005(6) Cách đánh giá DFI: Phân tích kết quả

của tối thiểu 200 tế bào trên kính hiển vi huỳnh

quang Olympus BX-53, Nhật, độ phóng đại

40X, kết quả hình ảnh được phân tích bằng

chương trình phân tích hình ảnh Image J, đo độ

rộng vòng sáng quanh đầu tinh trùng (r) và

đường kính nhỏ nhất của đầu tinh trùng (d)

Phân loại như sau: r ≥ d: halo lớn (hình 1-1a, b),

1/3d ≤ r < d: halo trung bình (hình 1-2a, b), r <

1/3d: halo nhỏ (hình 1-3a, b), r = 0: không có

halo (hình 1-4a, b), thoái hóa (degradation):

không có halo và bắt màu yếu (hình 1-5a, b)

Trong đó, trường hợp 1, 2 là những tinh trùng

không bị phân mảnh DNA và trường hợp 3, 4,

5 là những tinh trùng bị phân mảnh DNA Chỉ

số phân mảnh DNA tinh trùng (DNA

Fragmentation Index – DFI) được xác định dựa

vào công thức sau: DFI = (Số tinh trùng bị phân

mảnh DNA/ tổng số tinh trùng đếm được) x

100% Ngoài điều kiện khảo sát, các bước tiến

hành thực hiện theo quy trình tham khảo Mẫu

tinh dịch tươi được xử lý H2O2 2%, ủ trong tối

trong 10 phút dùng làm chứng dương để đánh

giá khả năng ly giải (H2O2 là tác nhân oxy hóa

làm cho DNA tinh trùng bị phân mảnh, sau xử

lý DFI ≈100%, toàn bộ tinh trùng không có halo

hay chỉ có halo nhỏ) Mẫu bị âm tính giả khi

DFI của chứng dương nhỏ hơn 90%, mẫu bị

dương tính giả khi có DFI cao hơn DFI của

Halosperm ở cả 3 nhóm

Xác định nồng độ pha loãng tinh dịch

Pha loãng tinh dịch trong dung dịch PBS về mật độ 105 tinh trùng/ml, 106 tinh trùng/ml và

107 tinh trùng/ml Mẫu sau pha loãng được trộn trong agarose có điểm đông thấp (low melting agarose) 1% theo tỷ lệ 25 µl mẫu với 50 µl gel rồi trải toàn bộ lên lam kính Đậy phiến kính 24

x 60 mm Ghi nhận số lượng tinh trùng trung bình thu được trên 1 vi trường trên vật kính 40X của kính hiển vi huỳnh quang Olympus

BX – 53 tại mỗi nồng độ pha loãng tương ứng

Xác định nồng độ các chất trong dung dịch ly giải

Theo quy trình của Fernández(7,6) và một số quy trình khác(11,12) nồng độ các chất trong dung dịch ly giải có sự thay đổi là DTT trong dung dịch ly giải 1 và NaCl trong dung dịch ly giải 2, nồng độ Tris 0.4M, SDS 1%, EDTA 50mM không có sự thay đổi nên chúng tôi khảo sát để tìm ra nồng độ DTT và NaCl tối ưu

Nồng độ DTT trong dung dịch ly giải 1

Theo một số quy trình SCD cải tiến của các nghiên cứu khác(10,12) và cả Fernández cũng cho rằng nồng độ DTT trong dung dịch ly giải từ 0,1 mM đến 2 M(9) Mặt khác, chi phí DTT khi mua ở Việt Nam quá cao, đây là thành phần khiến cho giá thành của xét nghiệm SCD cao,

do đó nồng độ DTT được khảo sát ở mức thấp nhất là 0.2 mM, 0.4 mM, 0.6 mM, 0.8 mM

Nồng độ NaCl trong dung dịch ly giải 2

Tham khảo nồng độ NaCl một số quy trình khác(9,10), thực hiện khảo sát khoảng nồng độ từ

1 M đến 2 M, với nồng độ thực hiện 1 M, 1.5 M,

2 M

Cải tiến dung dịch ly giải

Nhận thấy 2 dung dịch ly giải trong quy trình tham khảo: dung dịch 1 (L1) Tris 0.4 M, DTT 0.8 M, SDS 1%, EDTA 50 mM, pH 7.5, dung dịch 2 (L2) Tris 0.4 M, NaCl 2 M, SDS 1%

pH 7.5 có các thành phần Tris 0.4 M, SDS 1% tương tự và tác dụng tương tự, đồng thời tham

Trang 4

khảo quy trình SCD cải tiến khác chỉ có một

dung dịch ly giải(9,10,12) nên chúng tôi tiến hành

cải tiến dung dịch ly giải và thực hiện các loạt

thí nghiệm so sánh hiệu quả ly giải: (1) Xử lý

tinh trùng trong cả 2 dung dịch ly giải 1 và 2

theo như quy trình tham khảo, ký hiệu L1L2;

(2) tinh trùng chỉ được xử lý trong dung dịch ly

giải 1, ký hiệu là L1; (3) tinh trùng chỉ được xử

lý trong dung dịch ly giải 2, ký hiệu là L2; (4)

tinh trùng xử lý trong dung dịch ly giải 2 có bổ

sung DTT 0.4 mM và EDTA 50 mM trong 30

phút, ký hiệu L2DTT

Khảo sát thời gian ngâm ly giải

Đánh giá hiệu quả ly giải khi ngâm dung

dịch ly giải trong 10 phút, 20 phút, 30 phút

Khảo sát điều kiện biến tính trước ly giải

Đánh giá sự cần thiết ngâm dung dịch biến

tính trước ly giải Tiến hành so sánh hiệu quả ly

giải khi không thực hiện và thực hiện ngâm

dung dịch biến tính HCl 0.08 N trước khi ngâm

dung dịch ly giải

Kiểm tra hiệu quả quy trình cải tiến

Thực hiện đánh giá tương quan theo ý nghĩa thống kê tỷ lệ phân mảnh DNA tinh trùng – DFI xác định bằng quy trình SCD cải tiến và bộ thuốc thử thương mại Halosperm®

G2 trên cỡ mẫu là 50 mẫu tinh dịch ở cả 3 nhóm mức độ phân mảnh bằng phần mềm thống kê SPSS ver16

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Xác định nồng độ pha loãng tinh dịch

Chọn mật độ 106 tinh trùng/ml, vì trung bình có 12 - 20 tinh trùng/vi trường phù hợp để quan sát và phân tích kết quả tối thiểu 400 tinh trùng/mẫu ở vật kính 40X trên kính hiển vi huỳnh quang (mật độ 105 tinh trùng/ml chỉ có 2 – 5 tinh trùng/vi trường gây khó khăn khi đếm tối thiểu 400 tinh trùng), không có hiện tượng tinh trùng chồng lên nhau (mật độ 107 tinh trùng/ml có trên 50 tinh trùng/vi trường, tinh trùng có hiện tượng chồng lên nhau dễ gây sai lệch đánh giá kết quả) (Hình 2)

Hình 2: Hình chụp vi trường từ camera trên kính hiển vi huỳnh quang độ phóng đại 40X của mẫu nhuộm DAPI

có nồng độ tinh dịch lần lượt là 10 7 tinh trùng/ml , 10 6 tinh trùng/ml , 10 5 tinh trùng/ml

Xác định nồng độ các chất trong dung dịch

ly giải

Khảo sát nồng độ DTT tối ưu 0.2 mM, 0.4

mM, 0.6 mM, 0.8 Mm

Xét chứng dương: ở nồng độ 0.2 mM, 0.4

mM và 0.6 mM các mẫu đều cho kết quả DFI

100%, nồng độ 0.8mM các mẫu bị âm tính giả

vì chỉ cho kết quả DFI < 50% Xét kết quả DFI

của các mẫu: ở nồng độ 0.2 mM kết quả từ quy

trình SCD của mẫu bị dương tính giả, tỷ lệ DFI

>50% ở cả 3 nhóm DFI Ở nồng độ 0.4 mM và 0.6 mM kết quả DFI của mẫu tương đương với Halosperm ở 3 nhóm DFI Chọn nồng độ DTT

0.4 mM để tiết kiệm hóa chất

Khảo sát nồng độ NaCl tối ưu 1M, 1.5M, 2M

Xét chứng dương: ở cả ba nồng độ tất cả các mẫu đều cho kết quả DFI 100% Xét kết quả DFI của các mẫu: ở nồng độ NaCl 1 M kết quả

Trang 5

từ quy trình SCD của mẫu bị dương tính giả, tỷ

lệ DFI >50% ở cả 3 nhóm DFI, nồng độ 1.5 M và

2 M các mẫu đều cho kết quả tương đương

giữa quy trình SCD và Haosperm Để tiết kiệm

hóa chất chọn nồng độ NaCl tối ưu là 1.5 M

Cải tiến dung dịch ly giải

Xét chứng dương: cả 4 nghiệm thức đều

cho kết quả DFI 100% Xét kết quả DFI của các

mẫu: ở mẫu chỉ sử dụng L1 hoặc L2 nhận thấy

mẫu không ly giải, 100% tinh trùng không có

halo, hình thái đầu không nở to Mẫu ly giải

L1L2 và L2DTT trong 30 phút cho kết quả DFI

tương đương Halosperm Vậy dung dịch

L2DTT có tác dụng tương tự với việc sử dụng 2

dung dịch ly giải, xét về mặt hóa chất và thao

tác thì tiện lợi hơn nên sử dụng dung dịch ly

giải kết hợp cho các bước thí nghiệm tiếp theo

Kiểm tra thời gian ly giải mẫu trong dung

dịch L2DTT

Xét chứng dương: cả 3 thời gian, tất cả các

mẫu đều cho kết quả DFI 100% Xét kết quả

DFI của các mẫu: mẫu thực hiện ly giải với

dung dịch L2DTT 30 phút và 20 phút cho kết

quả DFI tương đương với bộ thuốc thử

Halosperm®, để tiết kiệm thời gian thực hiện

chọn thời gian ngâm ly giải là 20 phút

Khảo sát điều kiện biến tính trước ly giải

Xét chứng dương: mẫu không xử lý biến

tính ngâm trong HCl 0.08 N trong 7 phút và có

xử lý biến tính đều cho kết quả DFI 100% Xét

kết quả DFI của các mẫu: mẫu không xử lý biến

tính bị dương tính giả cho DFI là 100%, mẫu xử

lý biến tính cho kết quả DFI tương đương với

bộ thuốc thử Halosperm® Cần xử lý biến tính

tinh trùng trước ly giải để biến tính DNA tinh

trùng, bộc lộ các đứt gãy

Quy trình SCD cải tiến

Phủ một lớp gel LMA 1% mỏng lên bề mặt

lam kính, để khô ở nhiệt độ phòng Pha loãng

mẫu tinh dịch trong phosphate buffered saline

- PBS đến mật độ 106 tinh trùng/ml Cho 25 µl

tinh dịch pha loãng vào 50µl gel LMA 1% ở

37oC trộn đều và nhỏ toàn bộ lên lam kính, đậy phiến kính 24 x 60 mm lên trên để gel dàn đều Đặt lam mẫu vào tủ 4oC trong 5 phút Tháo bỏ phiến kính Ngâm lam mẫu vào dung dịch HCl 0,08N, trong 7 phút ở nhiệt độ phòng Chuyển lam mẫu ngâm vào dung dịch ly giải cải tiến, thành phần: Tris 0.4 M, DTT 0.4 mM, NaCl 1.5

M, SDS 1%, EDTA 50 mM, pH 7.5, trong 20 phút ở 22oC Rửa lam mẫu trong TBE 1X trong

5 phút Lần lượt rửa lam mẫu trong EtOH 70%, 90% và 100% trong 2 phút/lần rửa Để lam kính mẫu khô hoàn toàn ở nhiệt độ phòng, trải đều

100 µl thuốc nhuộm DAPI 2 µg/ml lên lam mẫu, ủ tối trong 20 phút Lắc rửa lam kính mẫu trong TBE 1X, để khô tự nhiên khoảng 20 phút trong tối Phân tích tối thiểu 200 tế bào trên lam mẫu trên kính hiển vi huỳnh quang vật kính 40X, tính DFI theo công thức

Kiểm tra hiệu quả của quy trình SCD mới xây dựng

Đánh giá tương quan kết quả DFI giữa quy trình SCD và bộ thuốc thử Halosperm® cho kết quả tương quan dương mạnh có ý nghĩa thống

kê với r = 0.97, p < 0.001 (Biểu đồ 1)

Biểu đồ 1 Mối tương quan chỉ số DFI giữa quy trình SCD cải tiến và bộ thuốc thử Halosperm

KẾT LUẬN

Nhóm nghiên cứu phân mảnh tinh trùng thuộc trung tâm Nghiên cứu Di truyền và Sức khỏe Sinh sản (CGRH) đã thành công trong việc xây dựng quy trình SCD chẩn đoán phân mảnh DNA tinh trùng người Với các ưu điểm

Trang 6

như thao tác đơn giản, thời gian thực hiện

ngắn, chi phí hóa chất thấp (chỉ khoảng 1/5 so

với giá thành nhập khẩu bộ thuốc thử

Halosperm), lại cho hiệu quả tương đương,

quy trình SCD có tiềm năng trở thành một xét

nghiệm thường quy giúp đánh giá phân mảnh

DNA tinh trùng, cùng với tinh dịch đồ góp

phần chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn cho

các bệnh nhân vô sinh nam Bên cạnh đó, hiện

tại ở Việt Nam, các nghiên cứu về phân mảnh

DNA tinh trùng vẫn chưa có nhiều công bố Do

đó, với quy trình SCD cải tiến chúng tôi có thể

mở ra thêm nhiều hướng nghiên cứu về phân

mảnh DNA tinh trùng ứng dụng vào các kỹ

thuật hỗ trợ sinh sản trong nước như IUI, ICSI

hay trữ lạnh, cũng như tìm ra mối tương quan

giữa phân mảnh với tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ phôi

tốt, tỷ lệ sinh sống … góp phần nâng cao tỷ lệ

thành công của các chu trình hỗ trợ sinh sản

cho bệnh nhân vô sinh hiếm muộn

Lời cảm ơn: Chân thành cám ơn ThS BS Hồ Mạnh Tường đã

tạo điều kiện cũng như tìm nguồn tài trợ kinh phí cho việc thực

hiện nghiên cứu Cảm ơn các anh chị em trong Trung tâm

Nghiên cứu Di truyền và Sức khỏe Sinh sản đã hỗ trợ về thời

gian, thiết bị để nghiên cứu được hoàn thành Cám ơn các anh

chị kỹ thuật viên hỗ trợ sinh sản ở các bệnh viện Vạn Hạnh, Mỹ

Đức, An Sinh đã đóng góp các ý kiến chuyên môn trong lĩnh

vực hỗ trợ sinh sản Cảm ơn các bạn tình nguyện viên đã sẵn

sàng tham gia cung cấp nguồn mẫu cho nghiên cứu Và cuối

cùng cảm ơn chị Mai, chị An, bé Trang đã bỏ nhiều thời gian,

công sức cùng tôi thực hiện nghiên cứu này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Agarwal A, Saleh RA (2002) Role of oxidants in male

infertility: rationale, significance, and treatment Urol Clin

North Am, 29: 817-27

2 Agarwal A, Tsarev I, Erenpresis J, Sharma R (2012) Sperm

chromatin assessment Textbook of Assisted Reproductive

75-95

3 Enciso M, Sarasa J, Agarwal A, Fernandez JL, Gosalvez J

(2009) A two-tailed Comet assay for assessing DNA damage

in spermatozoa Reprod Biomed Online, 18: 609-16

A (2006) Sperm chromatin structure and male fertility:

biological and clinical aspects Asian J Androl, 8: 11-29

structure assay is useful for fertility assessment Methods in

Cell Science, 22: 169 – 189

6 Fernández JL, Muriel L, Goyanes V, Segrelles E, Gosálvez J,

Enciso M, LaFromboise M, De Jonge C (2005) Simple

determination of human sperm DNA fragmentation with an

improved sperm chromatin dispersion test Fertil Steril, 84:

833-842

Alvarez JG (2003) The sperm chromatin dispersion test: a simple method for the determination of sperm DNA

fragmentation J Androl, 24: 59–66

8 García-Peiró A, Martínez-Heredia J, Oliver-Bonet M, Abad

C, Amengual MJ, Navarro J, Jones C, Coward K, Gosálvez J, Benet J (2011) Protamine 1 to protamine 2 ratio correlates with dynamic aspects of DNA fragmentation in human

sperm Fertil Steril, 95: 105–109

determination of DNA fragmentation in animal sperm cell

European patent application, EP1710320A1: 1–30

10 Gutiérrez R, Bécquer P, Pandolfi A, Cuevillas G, Pupo J, Hernández EW, Riverón G, Pereira N, Cuétara E (2007) DNA damage measurement using a modified protocol of

sperm chromatin dispersion test Pharmacologyonline, 1:

14-19

11 Kazim RC, Jeanine TG, Marie L, Christopher JDJ, Douglas

TC (2006) Comparison of Chromatin Assays for DNA

Fragmentation Evaluation in Human Sperm Journal of

Andrology, 27: 1, 53 – 59

12 Li-hong Z,Yi Q,Ke-hua W,Qiuju W, Guozhen T, Lei-guang

W (2010) Measurement of sperm DNA fragmentation using bright-field microscopy: comparison between sperm chromatin dispersion test and terminal uridine nickend

labeling assay Fertility and Sterility, 94: 3, 1027 – 1032

13 Manicardi GC, Bianchi PG, Pantano S, Azzoni P, Bizzaro D, Bianchi U (1995) Presence of endogenous nicks in DNA of ejaculated human spermatozoa and its relationship to

chromomycin A3 accessibility Biol Reprod, 52: 864 - 7

14 Ribas – Maynou, Garcia, Abad (2012) Alkaline and neutral comet assay profiles of sperm DNA damage in clinical

groups Hum Reprod, 27(3): 652 - 8

15 Schoor RA (2002) Prostatitis and male infertility: evidence

and links Curr Urol Rep, 3(4): 324 - 329

16 Tomlinson MJ, White A, Barratt CLR, Bolton AE, Cooke ID (1992) The removal of morphologically abnormal sperm forms by phagocytes: a positive role for seminal leukocytes

Hum Repord, 7(4): 517 - 522

17 Zini A, Kamal K, Phang D, Willis J, Jarvi K (2001a) Biologic variability of sperm DNA denaturation in infertile men

Urology, 58, 258 - 261

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 05/09/2016 Ngày bài báo được đăng: 10/10/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 06:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w