1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tình trạng răng khôn hàm dưới mọc lệch, ngầm ở các dạng hình thái mặt theo chiều trước sau

7 80 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 424,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định và so sánh tỉ lệ cũng như hình thái mọc lệch, ngầm của răng khôn hàm dưới ở các dạng hình thái mặt theo chiều trước sau.

Trang 1

TÌNH TRẠNG RĂNG KHÔN HÀM DƯỚI MỌC LỆCH, NGẦM

Ở CÁC DẠNG HÌNH THÁI MẶT THEO CHIỀU TRƯỚC SAU

Đinh Thị Thanh Thủy*, Nguyễn Thị Bích Lý**

TÓM TẮT

Mở đầu: Răng khôn hàm dưới mọc lệch, ngầm gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức

khỏe và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Quá trình mọc răng khôn hàm dưới là một quá trình phức tạp phụ thuộc vào nhiều yếu tố Từ lâu, sự phát triển không đầy đủ của khoảng hậu hàm đã được xem là một trong các nguyên nhân dẫn đến sự mọc lệch, ngầm của răng khôn hàm dưới Kích thước của khoảng trống này có liên quan đến quá trình tăng trưởng của hệ thống sọ mặt theo chiều trước sau

Mục tiêu: Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định và so sánh tỉ lệ cũng như hình thái mọc lệch, ngầm

của răng khôn hàm dưới ở các dạng hình thái mặt theo chiều trước sau.

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được tiến hành trên mẫu thuận tiện gồm 90 phim sọ nghiêng và

90 phim toàn cảnh của bệnh nhân đến khám và điều trị tại khoa Răng Hàm Mặt – Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh Các biến số gồm số đo góc ANB được xác định trên phim sọ nghiêng nhằm phân loại bệnh nhân thành

ba nhóm hình thái mặt khác nhau theo phân tích Steiner: hạng I, hạng II và hạng III; tỉ lệ và hình thái mọc lệch, ngầm của răng khôn hàm dưới được nhận định trên phim toàn cảnh dựa trên phân loại của Pell – Gregory và Winter

Kết quả: tỉ lệ mọc lệch, ngầm của răng khôn hàm dưới thấp nhất ở nhóm hạng III (76,67%) và cao hơn ở

nhóm hạng I và II (cùng bằng 83,30%), sự khác biệt giữa các nhóm là không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Hình thái mọc thường gặp nhất ở cả 3 nhóm là vị trí II, A Ở vị trí II, nhóm hạng III chiếm tỉ lệ thấp nhất và nhiều nhất

là nhóm hạng I Tại vị trí A, hạng III chiếm đa số và ít nhất là hạng II Hướng mọc lệch gần là phổ biến nhất ở nhóm hạng I và II; trong khi đó, ở nhóm hạng III là hướng mọc thẳng đứng (p<0,05)

Kết luận: Trong phạm vi giới hạn của nghiên cứu, có thể kết luận rằng, tỉ lệ mọc lệch, ngầm của răng khôn

hàm dưới ở hình thái mặt hạng III thấp hơn nhóm hạng I và II, khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Vị trí mọc thường gặp nhất ở cả 3 dạng hình thái mặt là II, A Hướng lệch gần là phổ biến nhất ở nhóm hạng I và II; riêng nhóm hạng III, hướng thẳng đứng gặp nhiều nhất

Từ khóa: răng khôn hàm dưới, sự mọc lệch ngầm, các dạng hình thái mặt theo chiều trước sau

ABSTRACT

IMPACTED MANDIBULAR THIRD MOLAR

IN DIFFERENT ANTERO-POSTERIOR SKELETAL PATTERNS

Dinh Thi Thanh Thuy, Nguyen Thi Bich Ly

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 55 - 61

Background: Impacted mandibular third molars cause many severe complications which affect health and

lives The process of eruption is complex and depends on many factors The inadequate retro molar space was said

to be the most important one The retro molar space is relative to the development of skeletal face

Objectives: To evaluate the proportion and position of impacted mandibular third molars in different

antero-*Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

Trang 2

posterior skeletal patterns

Methods: A cross-sectional study was performed on 90 diagnostic digital orthopantomograms (DPTs) and

90 lateral cephalograms (LCs) available in Faculty of Odonto – Stomatology The subjects were divided into three groups according to their ANB angle The status of impacted mandibular third molars was analysis on DPTs basing on classifications of Pell - Gregory & Winter

Results: Mandibular third molars were recorded as impacted in 76.7% of the Class III and 83.3% of the

Class I, II (p>0.05) In all of the three skeletal facial types, the II, A was the most prevalent position of mandibular third molars.The mesioangular impaction was the most prevalent position of class I and II; meanwhile, vertical position is the most popular in class III (p<0.05)

Conclusion: The rate of impacted mandibular third molar of Class III is lower than that in Class I and II, no

significant difference in different types of face II, A and mesioangular impaction was the most prevalent position

of class I and II Vertical position is the most popular in class III

Keywords: Impacted mandibular third molar, impaction, antero-posterior skeletal patterns

MỞ ĐẦU

Răng khôn hàm dưới thường mọc ở độ tuổi

từ 18 đến 25, là răng có tỉ lệ mọc lệch, ngầm cao

nhất trong bộ răng vĩnh viễn, gây ra nhiều biến

chứng nghiêm trọng

Quá trình mọc răng khôn hàm dưới là một

quá trình phức tạp phụ thuộc vào nhiều yếu tố,

trong đó sự phát triển của hệ thống sọ mặt giữ

vai trò rất quan trọng Nhiều nghiên cứu đã

chứng minh sự phát triển không đầy đủ của

khoảng hậu hàm là yếu tố quan trọng dẫn đến

sự mọc lệch, ngầm của răng khôn hàm dưới(4,11,16)

Janson và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu

chứng minh kích thước khoảng hậu hàm khác

nhau ở các cá thể có tương quan xương hạng I và

II(7) Nghiên cứu của Jakovljevic và cộng sự

(2015) cũng cho kết luận tỉ lệ mọc lệch, ngầm của

răng khôn hàm dưới khác biệt có ý nghĩa ở

tương quan xương hạng II và hạng III Hơn thế

nữa, theo Richardson, vị trí mọc của răng khôn

hàm dưới còn có liên quan đến sự khác biệt về

tương quan hình thái mặt theo chiều trước

sau(13) Tuy nhiên, các nghiên cứu của Shokri(15)

hay Legovic(9) lại không đồng tình với quan điểm

này

Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu có giá

trị về đặc điểm hình thái răng khôn, hình thái

cung răng, xương ổ răng, phức hợp sọ mặt và

khuôn mặt người Việt Nam Tuy nhiên, cho đến

nay chưa có nghiên cứu nào được thực hiện nhằm khảo sát mối tương quan giữa sự mọc lệch, ngầm của răng khôn hàm dưới và hình thái mặt theo chiều trước sau

Mục đích của nghiên cứu này là xác định và

so sánh tỉ lệ cũng như hình thái mọc lệch ngầm của răng khôn hàm dưới theo chiều đứng, chiều ngang và hướng lệch, ở các dạng hình thái mặt theo chiều trước sau

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

Đối tượng

Mẫu nghiên cứu gồm phim toàn cảnh và phim sọ nghiêng của các cá thể người Việt từ 18 tuổi trở lên, chọn từ hồ sơ của các bệnh nhân đến khám và điều trị tại Khoa Răng Hàm Mặt - Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ 01/2015 – 03/2017

Tiêu chí chọn mẫu

Các phim được chọn trong mẫu nghiên cứu phải thoả các yêu cầu sau đây:

- Bệnh nhân được chụp phim từ 18 tuổi trở lên là người Việt Nam, dân tộc Kinh

- Có đầy đủ hồ sơ bệnh án

- Phim X- quang sọ nghiêng và phim toàn cảnh chụp cùng thời điểm, đúng tiêu chuẩn

Trang 3

- Có đầy đủ các răng vĩnh viễn và răng

khôn hàm dưới hình thành ít nhất hai phần ba

chân răng

Tiêu chí loại trừ

- Có tiền sử bệnh lý hay đã từng điều trị

chỉnh nha, phẫu thuật tại vùng miệng và hàm

mặt

- Có những bất thường phát triển cá thể, dị

dạng răng mặt hay những bất đối xứng nghiêm

trọng phát hiện được trên phim

Phương pháp nghiên cứu

- Xác định tương quan hai hàm theo chiều

trước sau dựa vào góc ANB trên phim sọ

nghiêng theo phân tích Steiner

xương hạng I

Nếu góc ANB > 4o: khuynh hướng xương

hạng II

Nếu góc ANB < 0o: khuynh hướng xương

hạng III

Ghi nhận kết quả và phân loại bệnh nhân

vào 3 nhóm hạng I, II, III

Mẫu gồm 90 bệnh nhân chia đều ở 3 dạng

hình thái mặt

- Xác định tình trạng lệch, ngầm của răng

khôn hàm dưới dựa vào khảo sát trên phim

toàn cảnh theo tiêu chuẩn của Pell – Gregory

và Winter

Theo chiều ngang - tương quan với cành đứng xương hàm dưới: Loại I: răng hoàn toàn nằm trước cành đứng, loại II: răng nằm một phần trong cành đứng, loại III: răng nằm hoàn toàn trong cành đứng

Theo chiều đứng - độ sâu so với mặt nhai răng cối lớn thứ hai: A: điểm cao nhất của răng khôn nằm ngang hay cao hơn mặt nhai răng cối lớn thứ hai, B: điểm cao nhất của răng khôn nằm

ở khoảng giữa mặt nhai và cổ răng cối lớn thứ hai, C: điểm cao nhất của răng khôn nằm thấp hơn cổ răng cối lớn thứ hai

Hướng lệch: xác định bởi độ nghiêng giữa răng khôn và răng cối lớn thứ 2 (Góc : Lệch xa: -79 < <-11, mọc thẳng: -10 < < 10, lệch gần: 11

< < 79, nằm ngang: 80 < < 10

Tiêu chuẩn xác định răng khôn hàm dưới mọc lệch, ngầm

Răng có vị trí thuộc phân loại I, A, hướng mọc thẳng được xem là mọc bình thường

Các răng còn lại trong phân loại theo phân loại Pell – Gregory và Winter, có vị trí và hướng khác với răng mọc bình thường được xem là lệch, ngầm

Xử lý số liệu

- Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0

- Dùng kiểm định Chi bình phương để thống

kê phân tích cho 2 biến định tính, khác biệt được xem là có ý nghĩa khi p<0,05

KẾT QUẢ

0,00%

20,00%

40,00%

60,00%

80,00%

100,00%

Hạng I Hạng II Hạng III

Răng khôn mọc bình thường

Răng khôn lệch, ngầm

Biểu đồ 1 Sự khác biệt tỉ lệ răng khôn mọc lệch, ngầm giữa các dạng hình thái mặt

Trang 4

10,00%

20,00%

30,00%

40,00%

50,00%

60,00%

70,00%

80,00%

Hạng I Hạng II Hạng III

Loại I Loại II Loại III

Biểu đồ 2 Phân bố vị trí răng khôn theo chiều ngang giữa các dạng hình thái mặt

Khảo sát tỉ lệ răng khôn hàm dưới lệch ngầm

ở các dạng hình thái mặt theo chiều trước sau,

kết quả cho thấy tỉ lệ này thấp nhất ở nhóm hạng

III (76,67%) và bằng nhau ở nhóm hạng I và II

(83,30%) (p>0,05)

1 Bảng 1 Tỉ lệ răng khôn mọc lệch, ngầm ở các dạng

hình thái mặt

Răng khôn mọc

bình thường

Răng khôn lệch,

Hạng I 10 (16,70%) 50 (83,30%) 60 (100%)

Hạng II 10 (16,70%) 50 (83,30%) 60 (100%)

Hạng III 14 (23,33%) 46 (76,67%) 60 (100%)

Tổng 34 (18,9%) 146 (81,1%) 180 (100%)

p = 0,506 phép kiểm Chi bình phương

Xét tương quan theo chiều ngang, kết quả

cho thấy, ở cả 3 nhóm, răng khôn hàm dưới mọc

phổ biến nhất ở vị trí II và ít nhất ở vị trí III

(p>0,05) (bảng 2)

Xét tương quan theo chiều đứng, kết quả ở

cả 3 nhóm, răng khôn hàm dưới mọc phổ biến

nhất ở vị trí A và hiếm gặp nhất ở vị trí C

(p>0,05) (bảng 3)

Bảng 2 Phân bố vị trí răng khôn theo chiều ngang

giữa các dạng hình thái mặt

Loại I Loại II Loại III Tổng

Hạng I 18 (30,00%) 40 (66,70%) 2 (3,3%) 60 Hạng II 21 (35,00%) 39 (65,00%) 0 (0%) 60 Hạng III 29 (48,30%) 31 (51,7%) 0 (0%) 60 Tổng 68 (37,8%) 110 (61,1%) 2 (1,1%) 180

p = 0,085 phép kiểm Chi bình phương

Xét về hướng mọc, răng khôn hàm dưới chủ yếu có dạng lệch gần (41,7%), đó cũng là hướng mọc phổ biến nhất của nhóm hạng I và II Tuy nhiên, ở nhóm hạng III, răng khôn hàm dưới có hướng mọc thẳng đứng chiếm đa số (43,33%) (p<0,05) (bảng 4)

Bảng 3 Phân bố vị trí răng khôn theo chiều đứng

giữa các dạng hình thái mặt

Loại A Loại B Loại C Tổng

Hạng I 35 (58,33%) 20 (33,33%) 5 (8,33%) 60 Hạng II 29 (48,33%) 20 (33,33%) 11(18,33%) 60 Hạng III 39 (65,00%) 19 (31,70%) 2 (3,30%) 60 Tổng 103 (57,20%) 59 (32,80%) 18(10,00%) 180

p= 0,075 phép kiểm Chi bình phương

2 Bảng 4 Phân bố hướng lệch của răng khôn giữa các dạng hình thái mặt

Hạng I 24 (40,00%) 27 (45,00%) 7 (11,67%) 2 (3,33%) 60 Hạng II 15(25,00%) 31 (51,67%) 13(21,67%) 1 (1,67%) 60 Hạng III 26 (43,33 %) 17 (28,33%) 11 (18,33%) 6 (10,00%) 60 Tổng 65 (36,1%) 75 (41,7%) 31 (17,2%) 9 (5,0%) 180

p= 0,032 phép kiểm Chi bình phương

Trang 5

10,00%

20,00%

30,00%

40,00%

50,00%

60,00%

70,00%

Hạng I Hạng II Hạng III

Loại A Loại B Loại C

Biểu đồ 3 Phân bố vị trí răng khôn theo chiều đứng giữa các dạng hình thái mặt

Biểu đồ 4 Phân bố vị trí răng khôn theo hướng lệch giữa các dạng hình thái mặt

BÀN LUẬN

Quá trình mọc của răng khôn hàm dưới chịu

tác động của nhiều yếu tố Trong cuộc sống hiện

đại, đa số các dân tộc có xu hướng mất cân đối

kích thước giữa răng và xương hàm, vì thế răng

vĩnh viễn mọc sau càng có nguy cơ bị lệch và

ngầm do thiếu chỗ

Khảo sát tỉ lệ răng khôn hàm dưới mọc lệch,

ngầm giữa các dạng hình thái mặt trong nghiên

cứu này cho thấy tỉ lệ thấp nhất ở nhóm hạng III

và cao hơn ở nhóm hạng I và II, tuy nhiên sự

khác biệt này là không có ý nghĩa thống kê

(p>0,05) Trong khi đó, kết quả được tìm thấy ở

nghiên cứu của Jakovljevic (2015)(6) với tỉ lệ răng

khôn mọc lệch ngầm thấp nhất ở nhóm xương

hạng III và cao nhất ở nhóm xương hạng II, sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Điều này có thể được giải thích bởi các yếu tố

đã được xác định là có ảnh hưởng đến quá trình

mọc răng khôn hàm dưới Sự gia tăng khoảng

hậu hàm cũng như tăng tỉ lệ khoảng hậu

hàm/kích thước gần xa thân răng khôn hàm

dưới là yếu tố quan trọng cho việc mọc đến vị trí chức năng của răng này(4,11,16) Nghiên cứu của Jakovljevic(6) đã cho thấy sự gia tăng có ý nghĩa khoảng trống hậu hàm ở nhóm xương hạng III

so với nhóm xương hạng I và II

Kết quả được báo cáo từ các nghiên cứu về

tỉ lệ răng khôn lệch, ngầm ở các dạng hình thái mặt theo chiều trước sau vẫn còn nhiều tranh cãi, nên vẫn chưa thể đi đến một kết luận về mối liên quan về tỉ lệ này giữa các nhóm có dạng hình thái mặt khác nhau Hơn nữa, quá trình mọc lệch của răng khôn còn do tác động của nhiều yếu tố phối hợp trong quá trình phát triển sọ mặt nên chưa thể căn cứ vào yếu

tố hình thái xương hàm để chẩn đoán chính xác quá trình này

Trong tương quan theo chiều ngang, chúng tôi nhận thấy vị trí lệch, ngầm phổ biến nhất của răng khôn hàm dưới ở cả ba dạng hình thái mặt

là vị trí II (răng khôn ngầm một phần trong cành đứng) Kết quả này cũng phù hợp với kết quả các nghiên cứu trước đây của tác giả

Trang 6

Obiechina(12) Xét theo từng vị trí, tại vị trí I,

nhóm hạng III chiếm tỉ lệ nhiều nhất và ít nhất là

nhóm hạng I Tại vị trí II, chiếm đa số là nhóm

hạng I và II Điều này cho thấy, khoảng trống

hậu hàm dành cho răng khôn mọc lên ở nhóm

hạng III nhiều hơn ở hai nhóm còn lại Tuy nhiên,

khác biệt về vị trí mọc theo chiều ngang ở các

nhóm hạng xương là không có ý nghĩa (p>0,05)

Nếu xét tương quan theo chiều đứng, A là vị

trí mọc phổ biến nhất của răng khôn hàm dưới

Cụ thể hơn, trong nhóm răng khôn đạt đến độ

cao mặt nhai răng cối lớn thứ hai (vị trí A), hạng

III chiếm đa số, thấp nhất là hạng II Ngược lại, ở

vị trí thấp hơn cổ răng cối lớn thứ hai (vị trí C),

nhóm hạng II chiếm nhiều nhất, và ít nhất là

nhóm hạng III, không có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê giữa ba dạng hình thái mặt (p>0,05)

Điều này, lại một lần nữa cho thấy, khoảng trống

cũng như chiều hướng mọc răng khôn ở nhóm

hạng III thích hợp cho nó đạt được đến mặt

phẳng nhai, hơn là các răng ở nhóm hạng I và II

Trong thời kì phôi thai, các nụ biểu bì của

răng cối lớn vĩnh viễn đều lần lượt xuất hiện ở vị

trí giữa mặt xa của mầm răng cối sữa thứ hai và

cành lên xương hàm dưới Khoảng cách này

không phải bao giờ cũng đủ chỗ cho cả 3 răng

cối lớn vĩnh viễn mọc lên Trong quá trình tăng

trưởng theo chiều trước sau của hệ thống sọ mặt,

ở nhánh đứng xương hàm dưới có sự đắp thêm

xương ở bờ sau và sự tiêu xương ở bờ trước(5)

làm tăng chiều dài xương hàm dưới giúp tạo chỗ

cho các răng cối lớn vĩnh viễn Nhiều nghiên cứu

cũng đã chứng minh tình trạng xương hàm dưới

kém phát triển ở những trường hợp có răng

khôn hàm dưới lệch, ngầm(9,10) Ở những bệnh

nhân thuộc nhóm xương hạng III, thường có sự

tăng trưởng quá mức của xương hàm dưới, làm

tăng chiều dài xương Kết quả nghiên cứu của

Janson hay Jakovljevic A đều ủng hộ cho quan

điểm này khi báo cáo rằng, chiều dài xương hàm

dưới có liên quan đến tỉ lệ mọc lệch, ngầm của

răng khôn hàm dưới Giá trị lớn nhất của kích

thước này được tìm thấy ở những bệnh nhân

hạng II (p<0,001) Việc gia tăng kích thước xương hàm có lẽ đã tạo thêm khoảng trống thích hợp, giúp răng khôn hàm dưới ở nhóm hạng III mọc đến vị trí chức năng

Xét về hướng lệch của răng khôn hàm dưới, nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy rằng, trong tổng thể mẫu nghiên cứu, hướng lệch gần là phổ biến nhất, đây cũng là hướng lệch chiếm đa số trong nhóm hạng I và II Tuy nhiên, đối với nhóm hạng III, hướng thẳng đứng lại được tìm thấy nhiều nhất Sự khác biệt về hướng mọc ở các dạng hình thái mặt theo chiều trước sau là có

ý nghĩa thống kê (p<0,05) Trong các nghiên cứu gần đây trên thế giới, cũng cho thấy hướng lệch gần là thường gặp nhất ở các răng khôn hàm dưới(1) Để giải thích cho hiện tượng ngày, nhiều giả thuyết đã được đưa ra Trong thời kỳ mầm răng khôn đang phát triển, xương hàm cũng đồng thời tăng trưởng bằng cách tiêu xương mặt trong và đắp xương mặt ngoài, kết quả xương hàm phát triển xuống dưới và ra trước Sự tăng trưởng này tác động vào quá trình phát triển của mầm răng và sự mọc răng khôn, làm thân hay lệch phía gần còn chân lệch phía xa, nhất là răng khôn hàm dưới Về phôi thai học cho thấy mầm răng cối lớn thứ nhất, thứ hai và răng khôn hàm dưới có chung thừng liên bào; răng cối lớn thứ nhất và thứ hai mọc trước kéo thân răng khôn nghiêng về phía răng cối lớn thứ hai, trong khi

đó chân răng dễ nghiêng về phía góc hàm do tác động của cơ chế tăng trưởng của xương hàm(2) Xét riêng nhóm hạng III, hướng mọc phổ biến nhất là thẳng đứng Điều này có thể giải thích nhờ khoảng trống hậu hàm và chiều dài xương hàm dưới Việc gia tăng kích thước khoảng hậu hàm và kích thước xương hàm dưới ở những bệnh nhân thuộc nhóm hạng III

đã được chứng minh trong các nghiên cứu của Jakovljevic(6) và Janson(7), có lẽ đã tạo thuận lợi cho răng khôn hàm dưới mọc theo hướng thẳng đứng

Tuy nhiên, sau 18 tuổi, răng khôn còn thay đổi vị trí trong xương hàm và có thể mọc lên đến

Trang 7

và cộng sự(8) cho kết quả 33,7% các khôn được

cho là lệch, ngầm vào độ tuổi 18 đã mọc lên hoàn

toàn khi bệnh nhân 26 tuổi Một vài nghiên cứu

khác cũng ủng hộ cho quan điểm này(3,14,17) Do

đó, vị trí mọc của răng khôn hàm dưới của bệnh

nhân được khảo sát trên phim toàn cảnh tại thời

điểm chụp phim, có thể chưa phải là vị trí cuối

cùng của nó trong xương hàm

KẾT LUẬN

Tỉ lệ mọc lệch, ngầm của răng khôn hàm

dưới ở các dạng hình thái mặt theo chiều trước

sau lần lượt là: hạng I: 83,30%, hạng II: 83,30%,

hạng III 76,67%; thấp nhất ở nhóm hạng III và

bằng nhau ở nhóm hạng I và II, sự khác biệt này

không có ý nghĩa thống kê

Hình thái mọc phổ biến nhất của răng khôn

hàm dưới ở cả ba dạng hình thái mặt là vị trí II,

A; hiếm gặp nhất là vị trí III, C; khác biệt giữa các

dạng hình thái mặt không có ý nghĩa thống kê

Răng khôn hàm dưới mọc lệch gần phổ biến

nhất ở nhóm hạng I và II Hướng thẳng đứng

phổ biến nhất ở nhóm hạng III Khác biệt về

hướng mọc của răng khôn hàm dưới ở các dạng

hình thái mặt có ý nghĩa thống kê

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Carter K, Worthington S (2016) "Predictors of Third Molar

Impaction: A Systematic Review and Meta-analysis", J Dent

Res 95(3), pp 267-342

2 Đặng Thị Thắm (2013): Tỉ lệ mọc lệch, ngầm của răng khôn

hàm dưới ở các dạng hình thái mặt Khóa luận tốt nghiệp Bác

sĩ Răng hàm mặt ĐHYD TPHCM

3 Hattab FN (1997) "Positional changes and eruption of

impacted mandibular third molars in young adults A

radiographic 4-year follow-up study", Oral Surg Oral Med Oral

Pathol Oral Radiol Endod 84(6), pp 604-611

4 Hattab FN, Alhaija ES (1999) "Radiographic evaluation of

mandibular third molar eruption space", Oral Surg Oral Med

Oral Pathol Oral Radiol Endod 88(3), pp 285-375

5 Hồ Thị Thùy Trang, Phan Thị Xuân Lan (2004) Phim sọ nghiêng dùng trong chỉnh hình răng mặt, Sách chỉnh hình răng mặt, Nhà xuất bản Y học, Chi nhánh TPHCM, tr 84-96

6 Jakovljevic A et al (2015) "Radiographic assessment of lower third molar eruption in different anteroposterior skeletal

patterns and age-related groups", Angle Orthod 85(4), pp

577-661

7 Janson G et al (2007) "Class II subdivision malocclusion types

and evaluation of their asymmetries", Am J Orthod Dentofacial Orthop 131(1), pp 57-66

8 Kruger E, Thomson WM and Konthasinghe P (2001), "Third molar outcomes from age 18 to 26: findings from a

population-based New Zealand longitudinal study", Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral Radiol Endod 92(2), pp 150-154

9 Legovic M et al (2008) "Correlation between the pattern of

facial growth and the position of the mandibular third molar",

J Oral Maxillofac Surg 66(6), pp 1218-1241

10 Lindqvist B, Thilander B (1982), "Extraction of third molars in

cases of anticipated crowding in the lower jaw", Am J Orthod

81(2), pp 130-138

11 Mollaoglu N, Cetiner S, and Gungor K (2002) "Patterns of

third molar impaction in a group of volunteers in Turkey", Clin Oral Investig 6(2), pp 109-122

12 Obiechina AE., Arotiba JT., Fasola AO (2001) "Third molar impaction: evaluation of the symptoms and pattern of

impaction of mandibular third molar teeth in Nigerians", Odontostomatol Trop 24(93), pp 22-27

13 Richardson ME (1977) "The etiology and prediction of

mandibular third molar impaction", Angle Orthod 47(3), pp

165-236

14 Sandhu S, Kaur T (2008) "Radiographic study of the positional changes and eruption of impacted third molars in

young adults of an Asian Indian population", J Oral Maxillofac Surg 66(8), pp 1617-1640

15 Shokri A et al (2014) "Position of impacted mandibular third molar in different skeletal facial types: First radiographic

evaluation in a group of Iranian patients", Imaging Science in Dentistry 44(1), pp 61-125

16 Tsai HH (2005) "Factors associated with mandibular third

molar eruption and impaction", J Clin Pediatr Dent 30(2), pp

109-122

17 Venta I et al (1991) "Assessing the eruption of lower third

molars on the basis of radiographic features", Br J Oral Maxillofac Surg 29(4), pp 259-320

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/02/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 05:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w