1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Một trường hợp viêm mô mỡ và hội chứng thực bào máu

6 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 396,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viêm mô mỡ thực bào (cytophagic histiocytic panniculitis, CHP) là do sự thâm nhập vào lớp mỡ dưới da các tế bào lympho T và mô bào thực bào có hình ảnh lành tính với biểu hiện các mảng cứng hoặc cục dưới da có thể diễn tiến thành loét.

Trang 1

MỘT TRƯỜNG HỢP VIÊM MÔ MỠ VÀ HỘI CHỨNG THỰC BÀO MÁU

Lê Thái Vân Thanh*, Trần Thị Thúy Phượng*, Huỳnh Nguyễn Mai Trang*, Phạm Thị Kim Ngọc*,

Văn Thế Trung*

TÓM TẮT

Viêm mô mỡ thực bào (cytophagic histiocytic panniculitis, CHP) là do sự thấm nhập vào lớp mỡ dưới da các

tế bào lympho T và mô bào thực bào có hình ảnh lành tính với biểu hiện các mảng cứng hoặc cục dưới da có thể diễn tiến thành loét Sang thương chủ yếu tập trung ở chi, thân mình với màu sắc và kích thước đa dạng Viêm

mô mỡ do thực bào có thể là một bệnh đơn độc nhưng cũng có thể kèm theo các biểu hiện hệ thống như sốt, gan lách hạch to, rối loạn chức năng gan, giảm các dòng tế bào máu, rối loạn đông máu Theo nhiều báo cáo lâm sàng, việc điều trị CHP chủ yếu bằng glucocorticoid toàn thân kết hợp với cyclosporin, kết hợp với kiểm soát nhiễm trùng, bệnh lý ác tính nếu có và chăm sóc hỗ trợ Ở đây chúng tôi báo cáo một bệnh nhân nữ 32 tuổi bị viêm mô

mỡ dưới da trong bệnh cảnh hội chứng thực bào máu

Từ khóa: viêm mô mỡ thực bào, hội chứng thực bào máu, thấm nhập tế bào thực bào trong mô mỡ

ABSTRACT

A CASE OF PANNICULITIS WITH HEMOPHAGOCYTIC LYMPHOHISTIOCYTOSIS

Le Thai Van Thanh, Tran Thi Thuy Phuong, Huynh Nguyen Mai Trang, Pham Thi Kim Ngoc,

Van The Trung* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 21 - No 1 - 2017: 50 - 55

Cytophagic histolytic panniculitis (CHP) is characterized by infiltration of subcutaneous adipose tissue with benign-appearing T lymphocytes and phagocytic histiocytes and manifested with plaques or nodules which may become ulcer The lesions, which vary in sizes and colors, most appear on extremities and trunk CHP may be an isolated skin disease or associated with systemic features such as fever, hepatosplenomegaly, liver dysfunction, pancytopenia, coagulopathy According to clinical case studies, treatment of CHP were based on systemic glucorticoid combined with cyclosporine, supportive care, manage potental infection as well as screening for underlying malignancies We report here a case of 32 y.o female patient with panniculitis related to HLH

Key words: Cytophagic histolytic panniculitis, hemophagocytic lymphohistiocytosis, subcutaneous

phagocytic infiltration

ĐẠI CƯƠNG

Viêm mô mỡ thực bào (cytophagic histiocytic

panniculitis CHP) được mô tả đầu tiên năm

1980, là một thể lâm sàng hiếm gặp của bệnh lý

viêm mô mỡ, với tổn thương mô học đặc trưng

là sự thấm nhập vào lớp mỡ dưới da các tế bào

thực bào lành tính(8) Sang thương da thường là

mảng cứng hoặc các cục dưới da, thường tập

trung chủ yếu ở chi, thân mình, màu sắc và kích

thước đa dạng, có thể diễn tiến thành loét, rỉ

dịch Viêm mô mỡ do thực bào có thể chỉ biểu

hiện sang thương ở da, hoặc kèm theo các triệu

chứng hệ thống như sốt, gan lách hạch to, giảm các dòng tế bào máu, rối loạn chức năng gan, rối loạn đông máu (2) Đã có hơn 40 ca viêm mô mỡ

do thực bào đã được báo cáo, đa số ở người lớn Viêm mô mỡ thực bào có thể liên quan đến những bệnh lý lành tính và ác tính như lymphoma tế bào T dạng viêm mô mỡ (SPTL) và

có thể kết hợp với hội chứng thực bào máu Hội chứng thực bào máu là một rối loạn hiếm gặp liên quan đến sự hoạt hóa bất thường các tế bào

T và tế bào giết tự nhiên dẫn đến sự gia tăng lượng lớn cytokin trong máu, mất sự kiểm soát

* Bộ môn Da Liễu Đại Học Y Dược tp Hồ Chí Minh

Trang 2

các đại thực bào, đưa đến sự thực bào quá mức

trong hệ thống võng nội mô Đa số hội chứng

thực bào máu là nguyên phát, liên quan gia đình,

do đột biến gen tổng hợp peforin, một tỉ lệ nhỏ

hội chứng thực bào máu thứ phát do nhiễm

trùng hay nguyên nhân ác tính Chẩn đoán và

điều trị hội chứng thực bào máu được thực hiện

theo hướng dẫn của Histiocyte Society(9) Điều trị

viêm mô mỡ do thực bào chủ yếu dựa vào kinh

nghiệm lâm sàng và báo cáo trường hợp ca và

cho đến nay vẫn chưa có hướng dẫn chính thức

về điều trị Glucocorticoid kết hợp với

Cyclosporin thường được lựa chọn đầu tiên, kết

hợp với kiểm soát nhiễm trùng, bệnh lý ác tính

nếu có và chăm sóc hỗ trợ

CA LÂM SÀNG

Bệnh nhân (BN) nữ 32 tuổi, bệnh 7,5 tháng

Đầu tiên da BN nổi nhiều cục và mảng đỏ sưng

nề, hơi đau ở bụng, lưng Bệnh nhân khám ở

bệnh viện da khoa và được thực hiện sinh thiết

cho kết quả là bướu mỡ Bệnh nhân không được

điều trị gì đặc hiệu Khoảng 1 tháng sau, thương

tổn lan rộng và nổi nhiều thêm ở cánh tay, cẳng

tay, mông đùi Một số thương tổn ở bụng trợt

loét Lúc này, BN có triệu chứng mệt mỏi ăn

uống kém, sốt nhẹ về chiều BN được chụp X

quang, soi cấy đàm, cấy dịch sang thương và

được điều trị theo phác đồ kháng lao trong 5

tháng nhưng sốt vẫn liên tục 38 – 38,5°C kèm sụt

cân 6 kg và đặc biệt sang thương da chẳng

những không giảm mà còn diễn tiến thêm tình

trạng loét và rỉ dịch nên đến khám và nhập viện

Bệnh viện Da Liễu

Qua thăm khám lâm sàng, chúng tôi ghi

nhận bệnh nhân có sốt 38,5°C, tổng trạng mệt

mỏi, da niêm nhạt, gan 2 cm dưới bờ sườn, lách

to độ 2 Hạch bẹn, hạch nách, hạch cổ không sờ

chạm Sang thương da là các cục, mảng hồng

ban màu đỏ sậm, tẩm nhuận, sờ nóng, bóp đau,

sưng nề, giới hạn tương đối rõ, bề mặt tróc vảy

nhẹ, tập trung chủ yếu ở vùng hông lưng, bụng,

mông, đùi và cẳng tay, cẳng chân 2 bên Bên

cạnh đó, 2 vết loét lớn (10x 10 cm) ở cẳng tay có

dịch mủ, đóng mài vàng với vùng da viêm đỏ xung quanh Ngoài ra, không phát hiện triệu chứng bất thường về tim, phổi

Kết quả xét nghiệm cho thấy có tình trạng giảm bạch cầu và hồng cầu, cụ thể bạch cầu là 2,52 x 109/l, neutrophil 1,77 x 109/l, và hồng cầu là 2,93 x1012/L, hemoglobin 7,2 g/dl Trong khi đó, tiểu cầu không giảm với số lượng là

301 x 109/L Xét nghiệm men gan cho thấy AST

là 223,71 IU/L, ALT là 37,42 U/L; ferritin là 36914,95 ng/ml; triglycerides là 3,11 mmol/L; bilirubin toàn phần là 20,04 µmol/L, bilirubin trực tiếp là 8,62 µmol/L; CRP là 58,67 Siêu âm bụng ghi nhận gan lách to Tủy đồ cho thấy có histiocyte thực bào tiểu cầu, hồng cầu trưởng thành, hồng cầu nhân và có hiện tượng tăng mẫu tiểu cầu và tăng hồng cầu Điện di hemoglobin cho thấy HbA chiếm 96,7%, HbA2 chiếm 3,3 % Các xét nghiệm tầm soát nguyên nhân hội chứng thực bào máu như ANA, anti

ds DNA trong giới hạn bình thường và LE cell, HBsAg, anti HCV, anti HAV đều cho kết quả âm tính Các xét nghiệm về vi trùng như cấy máu, cấy dịch sang thương da đối với vi

trùng thường và Mycobacterium sp, soi BK

đàm 3 ngày liên tiếp đều âm tính Ngoài ra, X quang ngực thẳng không cho hình ảnh bất thường Chúng tôi thực hiện sinh thiết sang thương da, kết quả cho thấy lớp thượng bì tăng sản nhẹ, trong mô bì có thâm nhiễm viêm gồm lympho bào, tế bào dạng biểu mô và mô bào rải rác Quanh mô mỡ dưới da có hiện tượng hoại tử các tế bào mỡ như mất vách liên

tế bào, tạo các khoảng trắng không bắt màu Bệnh nhân đáp ứng đủ 5/8 tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng thực bào máu của Histiocyte Society(9), bao gồm: (1) sốt cao liên tục trên 38,5oC trong hơn 7 ngày, (2) lách to, (3) tăng triglyceride máu trên 3mmol/l, (4) tăng ferritin > 500 ng/mL, (5) tế bào và mô học: hình ảnh đại thực bào thực bào tế bào máu trong tủy xương Bệnh nhân có thương tổn da là cục dưới da, cứng chắc, bề mặt

là hồng ban, tăng sắc tố ở bụng, lưng, cẳng tay, cẳng chân đi kèm với các triệu chứng tổng quát

Trang 3

như sốt kéo dài, gan lách to, cận lâm sàng cho

thấy có một tình trạng thực bào ở tủy xương,

giảm 2 dòng tế bào máu, tăng ferritin và rối loạn

lipid máu phù hợp với chẩn đoán viêm mô mỡ

thực bào Sinh thiết tổn thương cũng ủng hộ

viêm mô mỡ với kết quả viêm mô mỡ, hoại tử

các tế bào mỡ, phù hợp với chẩn đoán viêm mô

mỡ thực bào.Bệnhnhân được điều trị với Corticoid uống 0,75 mg/kg và chăm sóc tại chỗ (Castellani bôi) Trong quá trình nằm viện, BN sốt liên tục 38,5 – 39,5°C, mệt mỏi, sang thương

da giảm đỏ, vết loét ở cẳng tay khô, đóng mài

BÀN LUẬN

Viêm mô mỡ (panniculitis) là một thách

thức chẩn đoán cả với các bác sĩ da liễu và bác

sĩ giải phẫu bệnh Một phần vì sự phong phú

về tên gọi của cùng một loại bất thường, phần

vì những nghiên cứu kĩ hơn về bệnh lý này đã

Hình 2: Sang thương cục nốt ở cẳng chân Hình 1: Sang thương ở cẳng tay

Hình 4: Giải phẫu bệnh: viêm mô mỡ dưới da Hình 3: Sang thương ở lưng

Trang 4

phân chia những viêm mô mỡ làm nhiều loại

khác nhau chi tiết hơn với những tên gọi mới

khác nhau.Chưa có một hệ thống phân loại

nào được chấp nhận thống nhất sử dụng trên

thế giới Tuy nhiên đứng trên quan niệm của

các nhà giải phẫu bệnh, phân loại hữu ích nhất

là phân loại theo dạng viêm mô mỡ tiểu thùy

hay viêm mô mỡ vách Biểu hiện lâm sàng của

viêm mô mỡ do những nguyên nhân khác

nhau có thể rất giống nhau đó là những nốt

cục dưới da, cứng chắc, bề mặt hồng ban

Viêm mô mỡ có nhiều dạng như hồng ban nút,

viêm mô mỡ hoại tử mỡ do tụy, viêm mô mỡ

chấn thương, hồng ban cứng Bazin, viêm mô

mỡ thực bào… Chẩn đoán viêm mô mỡ cần

kết hợp giữa nhiều triệu chứng lâm sàng như

vị trí thương tổn, triệu chứng tổng quát, xét

nghiệm cận lâm sàng và các yếu tố dịch tễ

Sinh thiết mẫu mô làm giải phẫu bệnh lý là

một yếu tố quan trọng giúp ích cho chẩn đoán

Trong trường hợp chúng tôi báo cáo, viêm mô

mỡ được chẩn đoán dựa trên triệu chứng lâm

sàng đặc trưng là những cục dưới da, cứng

chắc, bề mặt là hồng ban, tăng sắc tố ở bụng,

lưng, cẳng tay, cẳng chân Sinh thiết tổn

thương cho kết quả viêm mô mỡ dưới da, hoại

tử các tế bào mỡ

Viêm mô mỡ thực bào (cytophagic histiocytic

panniculitis) là một dạng viêm mô mỡ hiếm gặp

Sinh lý bệnh của hiện tượng thực bào trong viêm

mô mỡ thực bào vẫn chưa rõ ràng Một vài

cytokine được cho là liên quan đến sự hoạt hóa

đại thực bào gây nên hội chứng thực bào máu(6)

Lympho T trong viêm mô mỡ thực bào được

kích thích phóng thích những lymphokine hoạt

hóa đại thực bào(4) Điều này được chứng tỏ bằng

sự thâm nhiễm nhiều lympho T trong mô mỡ và

sự đáp ứng với điều trị bằng tác nhân ức chế

chức năng của tế bào T giúp đỡ (Th),

cyclosporine Tuy nhiên những cytokine liên

quan cũng như hiện tượng khởi phát kích hoạt

lympho T chưa được tìm ra Bệnh nhân viêm mô

mỡ do thực bào có ba diễn tiến lâm sàng khác

nhau, phụ thuộc vào bệnh cảnh lâm sàng chỉ khu

trú ở da hay nằm trong bệnh cảnh hội chứng thực bào máu Một vài bệnh nhân diễn tiến nhanh và chết trong vòng 1 năm do nhiễm trùng huyết, rối loạn đông máu và suy đa cơ quan Một

số bệnh nhân khác diễn tiến thành từng đợt và

có thể sống trong vài năm Các bệnh nhân còn lại đáp ứng tốt với điều trị và có thể sống như người bình thường(2)

Sang thương thường gặp nhất là những mảng hay những nốt cục kích thước khác nhau, phân tán hay hợp lại tạo thành mảng lớn cứng, đường kính có thể lên đến 20cm Những mảng cục này thường xuất hiện ở chi nhưng cũng có thể xuất hiện ở mông, thân, ngực, vai, cổ, mặt

Da bên trên thương tổn có thể thay đổi từ màu

da bình thường, màu hồng đến màu đỏ, tím, đỏ thẫm, chấm xuất huyết, mảng bầm máu hay tăng sắc tố đi kèm với tróc vảy Thương tổn có thể bằng phẳng hoặc nhô cao, phân tán và giới hạn

rõ hoặc không đều, lan tỏa, mật độ có thể cứng, mềm hoặc phập phều Thương tổn xuất hiện đơn độc hoặc rầm rộ và tồn tại, tiến triển trong nhiều tuần hay nhiều tháng, có thể có loét ở một vài bệnh nhân(2)

Những bệnh nhân có tiên lượng nặng, diễn tiến đến tử vong thường đi kèm sốt trước, trong hoặc sau khi khởi phát sang thương da Những triệu chứng tổng quát khác bao gồm những triệu chứng về tiêu hóa như nôn, buồn nôn, đau bụng khu trú hoặc lan tỏa, những triệu chứng về thần kinh như đau đầu, rối loạn tri giác, ngủ gà, lờ đờ,

co giật, hôn mê, mệt mỏi, sụt cân, ho, khó thở, đau ngực, đau khớp, đau cơ, sụt cân, run, đổ môi hôi trộm Khám lâm sàng thường gặp gan to, lách to, hạch to, bất thường ở bụng (căng, đau, bụng ngoại khoa) và tràn dịch thanh mạc Tất cả những triệu chứng này đều gặp trong hội chứng thực bào máu Những bệnh nhân với diễn tiến lành tính hơn thì ít sang thương hơn, ít triệu chứng tổng quát hơn, với hiện tượng thực bào khu trú hơn và đáp ứng tốt với điều trị

Các bất thường cận lâm sàng thường gặp bao gồm: thiếu máu, giảm bạch cầu, giảm tiểu, bất thường men gan và giảm albumin máu, đông

Trang 5

máu nội mạch lan tỏa, tăng lipid máu bao gồm

tăng đáng kể triglyceride máu Suy gan tiến triển

thường đi kèm tăng bilirubin và vàng da Triệu

chứng hạ canxi máu thường được để ý đến trong

một số trường hợp viêm mô mỡ thực bào tử

vong nhưng khi xét nghiệm ion canxi thường

bình thường Giải phẫu bệnh sang thương cho

thấy tình trạng viêm mô mỡ tiểu thùy và vách,

thâm nhiễm mô bào và lympho bào Mô bào

nằm giữa và xung quanh các tế bào mỡ, đôi khi

lót lòng các vi nang nhỏ trong mô mỡ, các đại

thực bào chứa hồng cầu, bạch cầu, và những

mảnh vỡ nhân Những đại thực bào này có hoạt

động thực bào và được gọi là “bean bag cell”

Hiện tượng hoại tử mỡ có thể thay đổi từ ít đến

nhiều, mạch máu cũng thay đổi bao gồm phù nề

thành mạch, tăng sinh màng mạch, dày động

mạch, hoại tử sợi và thâm nhiễm tế bào thành

mạch máu những bất thường ở lớp bì gồm thâm

nhiễm viêm quanh mạch máu và phần phụ,

viêm, viêm mạch, hoại tử lan tỏa ở lớp bì sâu

Hiện tượng thực bào cũng được tìm thấy ở gan,

lách, hạch và tủy xương, có thể ở phổi, đường

tiêu hóa, thanh mạc và mạc treo(2) Khi sinh thiết

sang thương viêm mô mỡ cần lấy mẫu sinh thiết

rộng và sâu lấy được lớp mỡ dưới da, có thể cần

thực hiện nhiều mẫu sinh thiết ở các vị trí sang

thương khác nhau và làm nhiều lần trong quá

trình bệnh để tìm hiện tượng thực bào trên mẫu

sinh thiết Ở bệnh nhân của chúng tôi, bệnh

nhân được sinh thiết một lần, tuy chưa tìm thấy

hình ảnh thực bào nhưng hình ảnh sinh thiết có

hiện tượng hoại tử tế bào mỡ, thâm nhiễm tế bào

lympho phù hợp viêm mô mỡ Cần thiết sinh

thiết lại để tìm hình ảnh thực bào ở mô mỡ Các

triệu chứng đi kèm khác như sốt kéo dài, gan

lách to, cận lâm sàng cho thấy có một tình trạng

thực bào ở tủy xương, giảm 2 dòng tế bào máu,

tăng ferritin và rối loạn lipid máu giúp hướng

đến chẩn đoán viêm mô mỡ đi kèm hội chứng

thực bào máu

Viêm mô mỡ dưới da được báo cáo ở một số

bệnh nhân hội chứng thực bào máu di

truyền(1,2,3) Hội chứng thực bào máu được chẩn

đoán dựa trên tiêu chuẩn HLH 04 bao gồm:

Di truyền phân tử xác định HLH (đột biến perforin, đột biến MUNCI13-4, đột biến syntaxin)

Có 5 trong 8 tiêu chuẩn sau:

Tiêu chuẩn chẩn đoán đầu tiên (HLH 1994) Tiêu chuẩn lâm sàng:

(1) Sốt >38,5 độ C và trên 7 ngày

(2) Lách to Tiêu chuẩn xét nghiệm:

(3) Giảm 2 trong 3 dòng tế bào: Hb < 9 g/dL, Bạch cầu đa nhân trung tính giảm (<1.0x

109/L), tiểu cầu < 100 x109/L

Có một trong hai đặc điểm:(4)giảm fibrinogen máu ≤1.5g/L Hoặc (5)tăng triglyceride máu khi đói >3.0 mmol/L (hay 265mg/dL) Tiêu chuẩn giải phẩu bệnh:

(6) Có hiện tượng thực bào trong tủy hay lách hay trong hạch Không thấy dấu hiệu tủy tăng sinh hay u ác xâm lấn tủy

B Tiêu chuẩn chẩn đoán mới:

(7) Hoat lực của tế bào diệt tự nhiên (natural killer) giảm hay mất

(8) Ferritin  500microgram/L

(9) CD25 hoà tan(IL-2 receptor )  2400 U/ml

Ở đây bệnh nhân của chúng tôi đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán hội chứng thực bào máu với 5/8 tiêu chuẩn đã đề cập ở trên

Ngoài ra, viêm mô mỡ do thực bào còn liên quan tới một số tình trạng khác như nhiễm trùng, các bệnh lý tự miễn như lupus, viêm đa khớp dạng thấp và các bệnh lý ác tính, đặc biệt

là lymphoma tế bào T mô mỡ dưới da (SPTL) có bệnh cảnh lâm sàng khá giống với viêm mô mỡ

do thực bào, cần được chẩn đoán loại trừ trước khi tiến hành điều trị SPTL có lâm sàng khá giống với viêm mô mỡ thực bào, chẩn đoán phân biệt dựa trên giải phẫu bệnh khác nhau ở đặc điểm ác tính của lympho T, cũng như về dấu

ấn miễn dịch(4,5)

Trang 6

Bàn về điều trị viêm mô mỡ do thực bào,

trước hết phải chẩn đoán loại trừ Lymphoma tế

bào T mô mỡ dưới da, có bệnh cảnh lâm sàng rất

giống viêm mô mỡ do thực bào, nhưng điều trị

hoàn toàn khác Cho tới hiện nay, chưa có hướng

dẫn cụ thể điều trị viêm mô mỡ do thực bào, chủ

yếu điều trị theo kinh nghiệm và các trường hợp

báo cáo ca lâm sàng Nếu viêm mô mỡ do thực

bào nằm trong bệnh cảnh hội chứng thực bào

máu thứ phát do nhiễm trùng, việc tìm và điều

trị tác nhân cho kết quả hồi phục khá tốt Tuy

nhiên việc điều trị tác nhân nhiễm trùng không

đủ để giới hạn quá trình tiển triển nhanh của hội

chứng thực bào máu Do đó, điều trị viêm mô

mỡ do thực bào cần giảm lượng cytokin trong

máu bằng các tác nhân ức chế miễn dịch và độc

tế bào với đích tác động là mô bào, đại thực bào

(corticosteroids, etopisode, IVIG), lympho T hoạt

hóa (corticosteroids, cyclosporin A) Các ca điều

trị thành công đến nay chủ yếu là điều trị với

prednisone, cyclosporin, và hóa trị kết hợp(2)

Theo Craig và cộng sự, phần lớn các ca viêm mô

mỡ do thực bào ban đầu biểu hiện ở da, tiến

triển thành hội chứng thực bào máu thì đáp ứng

khá tốt với liệu pháp ức chế miễn dịch nhưng

kháng với liệu pháp độc tế bào(4) Đối với hội

chứng thực bào máu không liên quan với viêm

mô mỡ, điều trị được thực hiện theo phác đồ

khuyến cáo của Histiocyte Society với các thuốc

etoposide, dexamethasone và cyclosporin

Tóm lại đây là một trường hợp hiếm gặp viêm mô mỡ thực bào tiến triển với đầy đủ các triệu chứng của hội chứng thực bào máu, cần được điều trị tích cực để giảm tỉ lệ tử vong

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ambruso DR, Hays T, et al (1980), "Successful treatment of lymphohistiocytic reticulosis with phagocytosis with

epipodophyllotoxin VP 16-213".Cancer, 45 (10), pp 2516-20

2 Aronson IK, Worobec SM (2010), "Cytophagic histiocytic panniculitis and hemophagocytic lymphohistiocytosis: an

overview".Dermatol Ther, 23 (4), pp 389-402

3 Berard CW, Cooper RA, et al (1966), "Disseminated histiocytosis associated with atypical lymphoid cells

(lymphohistiocytosis)".Cancer, 19 (10), pp 1429-37

4 Craig AJ, Cualing H, et al (1998), "Cytophagic histiocytic panniculitis a syndrome associated with benign and malignant panniculitis: case comparison and review of the

literature".J Am Acad Dermatol, 39 (5 Pt 1), pp 721-36

5 Marzano AV, Berti E, et al (2000), "Cytophagic histiocytic panniculitis and subcutaneous panniculitis-like T-cell

lymphoma: report of 7 cases".Arch Dermatol, 136 (7), pp

889-96

6 McClain K, Henter JI, et al (2007), "HLH-2004: Diagnostic and therapeutic guidelines for hemophagocytic

lymphohistiocytosis" Pediatr Blood Cancer, 48:124–131

7 Smith KJ, Skelton HG, et al (1992), "Cutaneous histopathologic, immunohistochemical, and clinical manifestations in patients with hemophagocytic syndrome Military Medical Consortium for Applied Retroviral Research

(MMCARR)".Arch Dermatol, 128 (2), pp 193-200

8 Winkelmann RK, Bowie EJ (1980), "Hemorrhagic diathesis associated with benign histiocytic, cytophagic panniculitis and

systemic histiocytosis".Arch Intern Med, 140 (11), pp 1460-3

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 17/11/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 05:34

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm