1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF và PIK3CA trong carcinôm tuyến đại trực tràng tại Bệnh viện Ung Bướu Cần Thơ

9 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 352,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc xác định đặc điểm đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF, PIK3CA trong carcinôm tuyến đại-trực tràng tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM ĐỘT BIẾN GEN KRAS, NRAS, BRAF VÀ PIK3CA

TRONG CARCINÔM TUYẾN ĐẠI TRỰC TRÀNG TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU CẦN THƠ

Nguyễn Hồng Phong*, Nguyễn Thanh Tuấn Minh*, Huỳnh Quyết Thắng*, Hoàng Anh Vũ**,

Ngô Quốc Đạt**, Mai Văn Nhã*, Võ Văn Kha*, Hồ Long Hiển*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định đặc điểm đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF, PIK3CA trong carcinôm tuyến đại-trực

tràng tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 50 trường hợp carcinôm tuyến đại-trực tràng

được chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ Giải trình tự chuỗi DNA gen KRAS (exon 2), NRAS (exon 2, 3), BRAF (exon 15) và PIK3CA (exon 9, 20) để xác định đột biến và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh

Kết quả: Trong 50 trường hợp khảo sát gen KRAS, NRAS, BRAF, PIK3CA chúng tôi ghi nhận tỉ lệ đột biến

lần lượt là KRAS(34%), NRAS (0%), BRAF ( 2%) và PIK3CA (6%) Tất cả đều là đột biến điểm Tỷ lệ đột biến gen KRAS tại codon 12 và 13 là 26% Chỉ có 1 trường hợp đột biến ở codon 10 Đột biến gen KRAS thường gặp ở trực tràng (26%) hơn so với đại tràng (8%) với P=0,022 Các đặc điểm bệnh học khác như giới, loại mô học, độ

mô học, giai đoạn TNM không có liên hệ với đột biến gen KRAS Đột biến gen PIK3CA thường gặp ở nhóm bệnh nhân < 50 tuổi (6%) và nữ (6%) cao hơn so với nhóm bệnh nhân ≥ 50 tuổi (0%) và nữ (0%) với P=0,042 và P = 0,036

Kết luận: Tỷ lệ đột biến gen KRAS trên bệnh nhân carcinôm tuyến đại-trực tràng tại bệnh viện Ung bướu

Cần Thơ là 35,42% Đột biến gen KRAS có liên quan với vị trí u Đột biến PIK3CA liên quan với tuổi, giới tính Chưa ghi nhân đột biến NRAS Có 1 trường hợp đột biến BRAF dạng K601E cũng là một trong số các dạng đột biến gây hoạt hóa quá mức hoạt động của protein BRAF

Từ khoá: đột biến KRAS, đột biến BRAF, carcinôm tuyến đại-trực tràng

ABSTRACT

CHARACTERISTICS OF KRAS AND BRAF MUTATIONS

IN COLORECTAL ADENOCARCINOMAS IN CAN THO ONCOLOGY HOSPITAL

Nguyen Hong Phong, Nguyen Thanh Tuan Minh, Huynh Quyet Thang, Hoang Anh Vu,

Ngo Quoc Đat, Mai Van Nha, Vo Van Kha, Ho Long Hien

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - No 5 - 2015: 171 - 178

Aim: To determine the characteristics of KRAS,NRAS,BRAF and PIK3CA gene mutations in colorectal

adenocarcinomas in Can Tho Oncology Hospital

Material and method: A cross- sectional study included 50 cases of colorectal adenocarcinoma were

diagnosed and treated at Can Tho Oncology Hospital KRAS and BRAF mutations were identified by direct DNA sequencing

Results: Among the 50 colorectal cancer patients, we detected 17 (34%) mutations in the KRAS, NRAS

*Bệnh viện Ung Bướu Cần Thơ ** Đại học Y dược TP HCM

Trang 2

(0%), BRAF 1(2%) and PIK3CA 3(6%), all of which were point mutations Mutation frequencies at codon 12 and codon 13 were 26% Only one patient harbored a point mutation at codon 10 The KRAS mutation frequency was significantly higher in the rectum than in the colon (26% vs 8%, P=0.022).Other clinicopathological features, such as gender, histological type and grade, TNM stage, showed no positive relationship with KRAS gene mutations The PIK3CA mutation frequency was significantly higher in the <50yrs patients or female than in the group ≥50yrs (6% vs 0%) with P=0.042; P=-0.036 respectively

Conclusion: The KRAS mutation rates of colorectal adenocarcinoma patients in Can Tho Oncology Hospital

was 34% KRAS mutation was associated with tumor location PIK3CA mutation was associated with age and gender In 50 cases, none of NRAS mutaions detected

Key words: KRAS mutation, BRAF mutation, colorectal adenocarcinoma

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư đại-trực tràng là một trong

những bệnh ác tính phổ biến nhất trên thế giới

và Việt Nam Trong những năm gần đây, tỉ lệ

mắc và tử vong do ung thư đại-trực tràng ngày

càng tăng(17)

Thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR)

đóng vai trò quan trọng trong tăng sinh và

biệt hóa của tế bào bình thường Tuy nhiên sự

hoạt hóa EGFR rất thường gặp trong ung thư

đại-trực tràng, và thông qua đường dẫn

truyền tín hiệu Ras/Raf/MAP/MEK/ERK dẫn

đến tăng sinh tế bào, di căn, thoát khỏi

apoptosis, tăng sinh mạch máu(14) Cetuximab

và panitumumab, là các kháng thể đơn dòng

ngăn chặn hoạt động của EGFR đã được FDA

cho phép sử dụng trong ung thư đại-trực

tràng tiến xa và được NCCN đưa vào phác đồ

điều trị ung thư đại-trực tràng có di căn(32)

Trong ung thư đại-trực tràng, tỉ lệ đột biến

gen KRAS khoảng 35-45%(1,6,44), và đột biến gen

BRAF khoảng 4-15%(6,11,39).Đột biến KRAS, BRAF

gây hoạt hóa đường truyền tín hiệu hạ lưu của

EGFR(45), dẫn đến không đáp ứng với liệu pháp

kháng EGFR(1,11,22) Do đó khảo sát đột biến gen

KRAS, BRAF có vai trò trong tiên lượng và lựa

chọn bệnh nhân để sử dụng thuốc kháng EGFR

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, với

sự phát triển của sinh học phân tử, đã có một số

công trình nghiên cứu về đột biến gen KRAS

trên ung thư đại-trực tràng, với tỉ lệ đột biến

khoảng 35-40% Tạ Thành Văn (2011), trong xây

dựng qui trình xác định đột biến gen KRAS, phát hiện 4/10 mẫu có đột biến gen KRAS(41) Kết quả nghiên cứu 10 mẫu mô ung thư đường tiêu hóa của Hồ Hữu Thọ (2011), phát hiện 4 mẫu có đột

biến gen KRAS(19) Hoàng Anh Vũ (2013), nghiên

cứu 173 ca, phát hiện 62 ca đột biến KRAS

(35,8%)(19) Chưa có công trình nghiên cứu nào

thực hiện khảo sát đột biến gen BRAF trên ung thư đại-trực tràng

Nghiên cứu này nhằm xác định một số đặc

điểm đột biến của gen KRAS và BRAF trên bệnh

nhân ung thư đại-trực tràng tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

50 bệnh nhân carcinôm tuyến đại-trực tràng tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ

Phương pháp nghiên cứu

Mô tả cắt ngang

Các bước tiến hành

Ghi nhận thông tin lâm sàng bao gồm vị trí

u, số lượng u, kích thước u, tình trạng di căn Bệnh phẩm được cố định bằng formol đệm trung tính, ghi nhận thông tin đại thể (dạng sùi, loét, thâm nhiễm hoặc kết hợp)

Trên lam HE, ghi nhận loại mô học, độ mô học theo WHO(8) và giai đoạn TNM(1)

Giải trình tự gen

Thu hoạch tế bào từ mô vùi nến

Vùng mô u được đánh dấu trên lam nhuộm

Trang 3

HE và đối chiếu với các lam bệnh phẩm chưa

nhuộm, sau đó chúng tôi cạo vùng mô u tương

ứng trên lam chưa nhuộm

Tách chiết genomic DNA bằng bộ kit

Promega

Khuếch đại các exon bằng PCR

Gen BRAF được khuếch đại exon 15 bằng

PCR, gen KRAS được khuếch đại exon 2 bằng

COLD-PCR Trình tự các đoạn mồi được sử

dụng trong Bảng 1 Chu kỳ luân nhiệt được thực

hiện trên máy GeneAmp® PCR system 9700

(Applied Biosystems, Mỹ) Sản phẩm PCR được

phát hiện bằng điện di, sau đó được tinh sạch

bằng QIAquick Gel Extraction kit (Qiagen, Mỹ)

Bảng 1: Các đoạn mồi của gen KRAS và BRAF

KRAS

Mồi xuôi:

5’-AAGGCCTGCTGAAAATGACTG-3’

Mồi ngược:

5’-CAAAGAATGGTCCTGCACCAG-3

BRAF

Mồi xuôi:

5’-TGAAGACCTCACAGTAAAAATAGG-3’

Mồi ngược:

5’-TCCAGACAACTGTTCAAACTGAT-3

Thực hiện giải trình tự chuỗi DNA

Sản phẩm PCR đã được tinh sạch sẽ được

thực hiện phản ứng cycle sequencing với BigDye

Terminator Version 3.1 từ Applied Biosystems,

theo 1 chiều mỗi exon Trình tự DNA được đọc

bằng máy ABI 3130 Genetic Analyzer (Applied

Biosystems, Mỹ)

Kết quả được phân tích bằng phần mềm

SeqScape, so sánh với trình tự tham chiếu của

KRAS và BRAF để chẩn đoán tình trạng đột biến

của các exon Quy trình chẩn đoán đột biến gen

được thực hiện tại Trung tâm Y Sinh học Phân

tử, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh Các số liệu

được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 16.0

KẾT QUẢ

Đặc điểm bệnh học của lô nghiên cứu

Một số đặc điểm chung của lô nghiên cứu

được tóm tắt trong bảng 2

Bảng 2: Đặc điểm bệnh của lô nghiên cứu

Đặc điểm Số lượng (%)

Tuổi : < 50 tuổi ≥ 50 tuổi

18 (36) 32(64) Giới: Nam

Nữ

29 (58)

21 (42)

Vị trí u: Đại tràng Trực tràng

23 (46)

27 (54) CEA: Tăng

Không tăng

28 (56)

22 (44)

CA 19.9: Tăng

Không tăng

8 (16)

42 (84) Loại mô học: Carcinôm tuyến

Carcinôm tuyến chế nhầy hoặc dạng tế bào nhẫn

40 (80)

10 (20)

Độ mô học: Độ 1

Độ 2

Độ 3

11 (22)

26 (52)

13 (26) Giai đoạn TNM: Giai đoạn I

Giai đoạn II Giai đoạn III Giai đoạn IV

9 (18)

19 (38)

16 (32)

6 (12)

Đặc điểm đột biến gen KRAS

Trong 50 trường hợp nghiên cứu, chúng tôi phát hiện 17 trường hợp có đột biến (34%), tất cả đều là đột biến điểm Đột biến chủ yếu xảy ra ở codon 12 với 13 trường hợp chiếm 26%, tiếp theo

là codon 13 với 3 trường hợp chiếm 6%, 1 trường hợp đột biến ở codon 10 (2%) Trong số đột biến

KRAS có 1 trường hợp đột biến ở cả 2 codon 12,

13 và 1 trường hợp có 2 dạng đột biến điểm ở cùng codon 12

Trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận 6 loại đột biến điểm trên exon 2 bao gồm Gly10Glu, Gly12Asp, Gly12Ser, Gly12Val, Gly13Asp, Gly13Ser

Các đột biến có tần suất cao nhất là Gly12Asp, Gly12Val và Gly12Ser với số lượng lần lượt là 5, 5, và 4 trường hợp

Bảng 3: Kết quả các loại đột biến KRAS

Loại đột biến Số lượng

Trang 4

Loại đột biến Số lượng

Mối liên quan giữa đột biến gen KRAS và

các đặc điểm bệnh học

Bảng 4 tóm tắt mối liên quan giữa đột biến

gen KRAS và một số đặc điểm bệnh học của ung

thư đại-trực tràng gồm nhóm tuổi, giới tính,

CEA, CA 19.9, vị trí u, loại mô học, độ mô học và

giai đoạn TNM Mối liên quan giữa đột biến

KRAS và một số đặc điểm lâm sàng được kiểm

định bằng phép kiểm χ2

Bảng 4: Mối liên quan giữa đột biến KRAS và một số

đặc điểm bệnh học

Đặc điểm

KRAS

không đột biến (%)

KRAS

đột biến (%)

Tổng (%)

Giá trị P

Tuổi: < 50 tuổi

≥ 50 tuổi

13 (26)

20 (40)

5 (10)

12 (24)

18 (36)

32 (64) 0,486 Giới: Nam

Nữ

18 (36)

15 (30)

11(22)

6 (12)

29 (58)

22 (42) 0,490

Vị trí u: Đại tràng

Trực tràng

19 (38)

14 (28)

4 (8)

13 (26)

23 (46)

27 (54) 0,022 CEA huyết thanh

Không tăng

Tăng 16 (32) 17 (34) 11 (22)6 (12) 22 (44) 28 (56)

0,373

CA 19.9 huyết thanh

Không tăng

Tăng 28 (56) 5 (10) 14(28) 3 (6) 42 (84) 8 (16)

0,820

Loại mô học

Carcinôm tuyến

Carcinôm tuyến chế

nhầy hoặc dạng tế

bào nhẫn

27 (54)

6 (12)

13 (26)

4 (8)

40 (80)

10 (20) 0,654

Độ mô học: Độ thấp

Độ cao

24 (48)

9 (18)

13 (26)

4 (8)

37 (74)

13 (26) 0,775 Giai đoạn TNM

Giai đoạn I

Giai đoạn II

Giai đoạn III

Giai đoạn IV

3 (6)

15 (30)

11 (22)

4 (8)

6 (12)

4 (8)

5 (10)

2 (4)

9 (18)

19 (38)

16 (32)

6 (12) 0,124

Nghiên cứu này chưa ghi nhận mối liên

quan giữa tình trạng đột biến KRAS với các đặc

điểm bệnh học - lâm sàng như: tuổi, giới, CEA

huyết thanh, CA 19.9 huyết thanh, loại mô học,

độ mô học, giai đoạn TNM Đột biến KRAS

thường gặp ở trực tràng (13/27 - 48,1%) hơn so với đại tràng (4/23 - 17,4%)

Đột biến gen NRAS

Khảo sát đột biến NRAS trên exon 2 và 3

nhưng chúng tôi chưa ghi nhận được trường hợp đột biến nào

Đột biến gen BRAF

Qua khảo sát đột biến gen BRAF trong 50

trường hợp, chúng tôi ghi nhận 1 trường hợp đột

biến BRAF ở codon 601 (K601E) Đây là trường

hợp bệnh nhân nam, 51 tuổi, được chẩn đoán ung thư đại tràng tái phát sau phẩu thuật triệt để

và hóa trị 48 tháng

Đột biến gen PIK3CA

Trong 50 trường hợp khảo sát đột biến

PIK3CA ở exon 9 và exon 20, chúng tôi ghi nhận được 3 trường hợp đột biến PIK3CA; trong đó có

2 trường hợp ở exon 20 (4%) và 1 trường hợp đột biến ở exon 9 (2%) Có mối liên quan có ý nghĩa

thống kê giữa tình trạng đột biến PIK3CA với

tuổi, giới và chưa ghi nhận mối liên liên quan với các đặc điểm như: vị trí u, CEA huyết thanh, CA 19.9 huyết thanh, loại mô học, độ mô học, giai đoạn TNM

Bảng 5: Mối liên quan giữa đột biến PIK3CA và một

số đặc điểm bệnh học

Đặc điểm PIK3CA

không đột biến (%)

PIK3CA

đột biến (%)

Tổng (%)

Giá trị P

Tuổi: < 50 tuổi ≥ 50 tuổi

15 (30)

32 (64)

3 (6)

0 (0)

18 (36)

32 (64) 0,042 Giới: Nam

Nữ

29 (58)

18 (36)

0(0)

3 (6)

29 (58)

21 (42) 0,036

Vị trí u: Đại tràng Trực tràng

21 (42)

26 (52)

2 (4)

1 (2)

23 (46)

27 (54) 0,459 CEA huyết thanh

Không tăng Tăng 20 (40) 27 (54) 2 (4) 1 (2) 22 (44) 28 (56)

0,415

CA 19.9 huyết thanh Không tăng Tăng 39 (78) 8 (16) 3(6) 0 (0) 42 (84) 8 (16)

0,436

Trang 5

Đặc điểm PIK3CA

không đột biến (%)

PIK3CA

đột biến (%)

Tổng (%)

Giá trị P

Loại mô học

Carcinôm tuyến

Carcinôm tuyến chế

nhầy hoặc dạng tế

bào nhẫn

37 (74)

10 (20)

3 (6)

0 (0)

40 (80)

10 (20) 0,372

Độ mô học: Độ thấp

Độ cao

34 (68)

13 (26)

3 (6)

0 (0)

37 (74)

13 (26) 0,290 Giai đoạn TNM

Giai đoạn I

Giai đoạn II

Giai đoạn III

Giai đoạn IV

9 (18)

17 (34)

15 (30)

6 (12)

0 (0)

2 (4)

1 (2)

0 (0)

9 (18)

19 (38)

16 (32)

6 (12) 0,648

BÀN LUẬN

Đột biến gen KRAS

Trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định

được 17 trường hợp đột biến KRAS trên tổng số

48 bệnh nhân (35,42%) Đột biến gen KRAS xảy

ra khá thường xuyên ở ung thư đại-trực tràng

khoảng 35-45%(1,12,16,34,44) Hoàng Anh Vũ đã báo

cáo kết quả đột biến gen KRAS trên 173 ca ung

thư đại-trực tràng tại TP Hồ Chí Minh là

35,8%(21) Tỉ lệ đột biến gen KRAS trong nghiên

cứu này cũng phù hợp với tần suất đột biến của

gen KRAS trong ung thư đại-trực tràng

Có nhiều nghiên cứu khảo sát mối liên quan

giữa đột biến gen KRAS và một số yếu tố bệnh

học nhưng kết quả vẫn còn bàn cãi Shen

(2011)(40) Gil Ferreira(16) đã báo cáo mối liên quan

giữa đột biến gen KRAS và giới tính với tỉ lệ đột

biến ở nữ cao hơn nam, Elkof (2103)(13) đã báo cáo

sự liên hệ giữa tỉ lệ đột biến gen KRAS cao hơn

với vị trí u ở đại tràng phải và giai đoạn bệnh trễ

Watanabe (2013)(46) đã cho thấy mối liên quan

giữa tỉ lệ đột biến gen KRAS cao hơn ở bệnh

nhân nữ, tăng theo tuổi, và vị trí đại tràng phải

cao hơn so với đại tràng trái và trực tràng Qua

48 trường hợp trong nghiên cứu này, chúng tôi

chỉ ghi nhận đột biến KRAS thường gặp ở trực

tràng hơn so với đại tràng Có lẽ do mẫu nghiên

cứu của chúng tôi khá ít nên không thể phát hiện

các mối liên quan khác Tuy nhiên, Phipps(36)

nghiên cứu 1989 ca ung thư đại-trực tràng và

không ghi nhận mối liên quan nào giữa tuổi, giới, vị trí u, loại mô học, độ mô học, giai đoạn

bệnh với đột biến gen KRAS Zlobec(48) nghiên cứu 392 ca cũng ghi nhận kết quả tương tự

Các đột biến KRAS thường gặp nhất là

G12D, G12V, G13D, G12C, G12A, G12S, G12R,

và G13S, trong đó đột biến G12D là thường gặp nhất với tần suất khoảng 10-15%, tiếp theo là G12V và G13D với tần suất gần 10%(16, 34, 40) Tại Việt Nam, Hoàng Anh Vũ đã báo cáo 7 dạng đột

biến KRAS trên ung thư đại-trực tràng gồm

G12D, G12V, G12S, G12A, G12C, G13D, G13S(21) Trong nghiên cứu này chúng tôi ghi nhận 5 dạng đột biến trên codon 12 và 13 gồm G12D, G12V, G12S, G13D, G13S với tần suất tương đồng so với các nghiên cứu trước tại Việt Nam và trên thế giới Ngoài ra, trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận 1 trường hợp đột biến rất hiếm gặp trên codon 10 là G10E, cơ sở dữ liệu COSMIC chỉ mới ghi nhận 1 trường hợp(16), và chúng tôi chưa thấy có nghiên cứu nào báo cáo về dạng đột biến này Trường hợp này, chúng tôi đã thực hiện PCR và giải trình tự lần thứ 2 để xác định chẩn đoán

Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân có đột biến KRAS không đáp ứng với cetuximab hoặc panitumumab(13,22,25,44) nên

đột biến KRAS là yếu tố dự báo quan trọng

của sự không đáp ứng với thuốc kháng EGFR

Do đó, tất cả bệnh nhân ung thư đại-trực tràng

có đột biến KRAS ở codon 12 hoặc 13 đều

không điều trị thuốc kháng EGFR De Roock (2010)(5) khảo sát 579 bệnh nhân ung thư đại-trực tràng kháng hóa trị và được điều trị với cetuximab, đã nhận thấy bệnh nhân có đột

biến KRAS G13D (n=22) có thời gian sống còn

toàn bộ (7,6 tháng so với 5,7 tháng, P=0,005) và thời gian bệnh không tiến triển (4 tháng so với 1,9 tháng, P=0,004) dài hơn so với bệnh nhân

có các đột biến KRAS khác, bệnh nhân có đột biến KRAS G13D chỉ chăm sóc tích cực có tiên

lượng xấu hơn bệnh nhân có các loại đột biến

KRAS khác Do đột biến gen KRAS G13D khá

phổ biến, chỉ sau đột biến G12D và G12V nên

Trang 6

kết quả nghiên cứu của De Roock rất đáng

lưu ý Tejpar (2012)(42) cho thấy bệnh nhân có

đột biến KRAS G13D sử dụng cetuximab kèm

hóa trị có thời gian bệnh không tiến triển dài

hơn so với nhóm chỉ hóa trị đơn thuần (7,4 so

với 6 tháng, P=0,039), tuy nhiên khi so sánh

với các bệnh nhân có đột biến KRAS khác thì

không có khác biệt Bando (2012)(2) trong một

nghiên cứu ở Nhật cũng cho thấy cetuximab

có thể kéo dài thời gian bệnh không tiến triển

và thời gian sống còn ở nhóm bệnh nhân đột

biến KRAS G13D (4,1 tháng và 8,5 tháng) so

với nhóm bệnh nhân có các đột biến KRAS

khác (2,1 tháng và 6,8 tháng), tuy nhiên sự

khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Đột biến NRAS

Các nghiên cứu trước đây cho thấy tỉ lệ đột

biến NRAS trong khoảng 3-7% Đột biến NRAS

cũng là yếu tố dự đoán đáp ứng rất kém với

cetuximab hoặc panitumumab trong carcinôm

tuyến đại trực tràng di căn(9) và theo NCCN 2015

cũng khuyến cáo chỉ nên sử dụng 2 loại thuốc

trên cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng di căn

có KRAS và NRAS không đột biến Nghiên cứu

của chúng tôi chưa ghi nhận được trường hợp

đột biến nào Có thể do cỡ mẫu chưa đủ lớn

Đột biến gen BRAF

Theo COSMIC, tỉ lệ đột biến gen BRAF trong

ung thư đại-trực tràng khoảng 10,7%(5) Nghiên

cứu này ghi nhận tỉ lệ đột biến BRAF là 2%, tỉ lệ

này khá phù hợp với một số nghiên cứu của các

tác giả châu Á như Shen(40) báo cáo tỉ lệ đột biến

chỉ có 1,7%, Chaiyapan, 2013 (0%)(6), Li-Ling H.,

2012 (1,1%)(21), Liou J., 2011 (3,8%)(26). Một số

nghiên cứu trên dân Âu – Mỹ cho thấy tỉ lệ đột

biến BRAF cao hơn như Price T, 2011(10,6%)(37)

Di Nicolantonio, 2008 (10%)(11), Samowitz W.,

2005 (9,5%)(39) Điều này cho thấy có thể đặc điểm

đột biến BRAF trong carcinôm tuyến đại trực

tràng có mang tính chất chủng tộc

Đột biến gen BRAF hầu hết là đột biến điểm

ở codon 600, loại V600E (trên 95%)(6) Nghiên cứu

của chúng tôi ghi nhận được 1 trường hợp đột

biến ở codon 601 (K601E) cũng là một dạng đột biến gây tăng hoạt động chức năng protein BRAF theo nghiên cứu của tác giả Wan(45)

Đột biến BRAF có mối tương quan với u ở

đại tràng phải, giai đoạn TNM trễ, u biệt hóa kém, loại mô học có tiết nhầy Ngoài ra, Yokota(47)

đã xác định đột biến BRAF còn là một yếu tố tiên

lượng độc lập đối với sống còn, liên quan với nguy cơ cao tử vong do ung thư Điều này cũng được Roth(38), Ogino(35), và Farina(15) khẳng định

Đột biến PIK3CA

Nghiên cứu này ghi nhận tỉ lệ đột biến chỉ 6% là khá thấp so với các nghiên cứu trước đây như Zhu K (9,5%) (48), Baldus (21%)(3)

Trong nghiên cứu này ghi nhận tỉ lệ đột biến

PIK3CA ở nhóm bệnh nhân < 50 tuổi (6%) và

nhóm bệnh nhân nữ (6%) cao hơn nhóm bệnh nhân ≥ 50 tuổi và bệnh nhân nam có ý nghĩa thống kê với p lần lượt là 0,042 và 0,036 Điều này vẫn còn bàn cãi do sự đối lập ở các nghiên cứu Thật vậy, nghiên cứu trên 1093 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng, tác giả Day ghi nhận độ tuổi trung bình của nhóm có

đột biến PIK3CA (72,1 ± 11,1) cao hơn so với

nhóm không đột biến (69,1 ± 11,5), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p = 0,007(8) Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy độ tuổi trung bình của nhóm có đột biến cao hơn ở nhóm không đột biến(22) Nhưng theo Eklof, nhóm tuổi

< 70 tuổi có tỉ lệ đột biến (2,7%) cao hơn so với nhóm tuổi ≥ 70 (1,9%) nhưng sự khác biệt không

có ý nghĩa thống kê (p = 0,226), tuy nhiên nghiên cứu này chỉ khảo sát exon 20 Nghiên cứu của Li cũng cho kết luận tương tự(24)

Các nghiên cứu chưa cho thấy sự khác biệt

về tỉ lệ đột biến PIK3CA theo giới tính một cách

thuyết phục Có nghiên cứu cho thấy ở nữ tỉ lệ đột biến cao hơn hẳn ở nam có ý nghĩa thống

kê(30) Nhưng cũng có nghiên cứu không có sự

khác biệt về tỉ lệ đột biến PIK3CA theo giới

tính(8,13)

Trang 7

KẾT LUẬN

Nghiên cứu trên 50 trường hợp ghi nhận: tỷ

lệ đột biến gen KRAS trên bệnh nhân carcinôm

tuyến đại-trực tràng tại bệnh viện Ung bướu

Cần Thơ là 34% Các dạng đột biến ở codon 12

và 13 gồm G12D, G12V, G12S, G13D, G13S, với

tần suất đột biến G12D và G12V cao nhất, và 1

đột biến rất hiếm ở codon 10 là G10E Đột biến

gen KRAS thường gặp ở trực tràng nhiều hơn so

với đại tràng Chúng tôi chưa ghi nhận trường

hợp đột biến gen NRAS nào trong 32 bệnh nhân

Chỉ 1 trường hợp đột biến BRAF Tỉ lệ đột biến

PIK3CA là 6% và tỉ lệ đột biến PIK3CA ở nhóm

bệnh nhân < 50 tuổi và bệnh nhân nữ cao hơn có

ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân ≥ 50

tuổi và nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Amado RG, Wolf M, Peeters M, Van Cutsem E, Siena S,

Freeman DJ, Juan T, Sikorski R, Suggs S, Radinsky R, Patterson

SD (2008) Chang, D.D Wild-type KRAS is required for

panitumumab efficacy in patients with metastatic colorectal

cancer J Clin Oncol., 26, 1626-1634

2 American Joint Committee on Cancer (2010), "AJCC cancer

staging atlas", Seventh Edition, Springer, pp 143-164

3 Baldus SE, Schaefer KL, Engers R, Hartleb D, Stoecklein NH, et al

(2010), "Prevalence and heterogeneity of KRAS, BRAF, and

PIK3CA mutations in primary colorectal adenocarcinomas and

their corresponding metastases" Clin Cancer Res, 16 (3), pp 790-9

4 Bando H, Yoshino T, Yuki S, Shinozaki E, Nishina T, Kadowaki

S, Yamazaki K, Kajiura S, Tsuchihara K, Fujii S et al (2012):

Clinical outcome of Japanese metastatic colorectal cancer

patients harbouring the KRAS p.G13D mutation treated with

cetuximab + irinotecan Japanese Journal Of Clinical Oncology,

42(12):1146-1151

5 Bokemeyer C, Kohne C, Rougier P, et al Cetuximab with

chemotherapy (CT) as first-line treatment for metastatic

colorectal cancer (mCRC): analysis of the CRYSTAL and OPUS

studies according to KRAS and BRAF mutation status Journal

of Clinical Oncology 2010;28(Suppl.)

6 Chaiyapan W, et al (2013), "Somatic Mutations of K-Ras and

BRAF in Thai Colorectal Cancer and their Prognostic Value"

Asian Pacific Journal of Cancer Prevention, 14 (1), pp 329-332

7 COSMIC (Catalogue Of Somatic Mutations In Cancer) Database,

S Institute, Welcome Trust Genome Campus, Hinxton,

Cambridge http://www.sanger.ac.uk/genetics/CGP/cosmic/

8 Day FL, Jorissen RN, Lipton L, Mouradov D,

Sakthianandeswaren A, et al (2013), "PIK3CA and PTEN gene

and exon mutation-specific clinicopathologic and molecular

associations in colorectal cancer" Clin Cancer Res, 19 (12), pp

3285-96

9 De Roock W, Claes B, Bernasconi D, et al (2010) Effects of KRAS

BRAF NRAS and PIK3CA mutations on the efficacy of

cetuximab plus chemotherapy in chemotherapy-refractory

metastatic colorectal cancer: a retrospective consortium analysis

Lancet Oncology, 11:753–62

10 De Roock W, Jonker DJ, et al (2010) Association of RAS p.G13D mutation with outcome in patients with chemotherapy-refractory metastatic colorectal cancer treated with cetuximab

JAMA, 2010, 304(16), 1812-1820

11 Di Nicolantonio F, Martini M, Molinari F, et al Wild-type BRAF

is required for response to panitumumab or cetuximab in metastatic colorectal cancer Journal of Clinical Oncology 2008;26:5705–12

12 Douillard JY, Siena S, Cassidy J, et al (2010) Randomized, phase III trial of panitumumab with infusional fluorouracil, leucovorin, and oxaliplatin (FOLFOX4) versus FOLFOX4 alone as first-line treatment in patients with previously untreated metastatic

colorectal cancer: the PRIME study Journal of Clinical Oncology;

28:4697–705

13 Eklof V, Wikberg ML, Edin S, et al (2013) The prognostic role of

KRAS, BRAF, PIK3CA and PTEN in colorectal cancer British

Journal of Cancer; 108: 2153–2163

14 Fang, J.Y.; Richardson, B.C The MAPK signaling pathways and colorectal cancer Lancet Oncol., 2005, 6, 322-327

15 Fariña-Sarasqueta A, van Lijnschoten G, Moerland E, Creemers

GJ, Lemmens VE, Rutten HJ, van den Brule AJ (2010) The BRAF V600E mutation is an independent prognostic factor for survival

in stage II and stage III colon cancer patients Ann Oncol., 21(12),

2396-2402

16 Gil FC, Aran V, Zalcberg-Renault I., et al (2014) KRAS mutations: variable incidences in a Brazilian cohort of 8,234

metastatic colorectal cancer patients BMC Gastroenterology, 14:73

17 GLOBOCAN 2008

18 Hamilton SR, “Pathology and genetics of tumours of the Digestive system”, World Health Organisation Classification of Tumours, 2000

19 Hồ Hữu Thọ, Nguyễn Duy Bắc, Trần Văn Khoa, Phạm Ngọc

Tuấn (2011), "Nghiên cứu phát hiện đột biến gen K-RAS bằng kỹ

thuật REMS - PCR để sàng lọc, chẩn đoán sớm một số ung thư đường tiêu hóa", Tạp chí - Y Dược học Quân sự, 6, tr 53-59

20 Hoàng Anh Vũ, Hứa Thị Ngọc Hà (2013), "Phát hiện đột biến

gen KRAS trong ung thu đại-trực tràng bằng kỹ thuật

COLD-PCR và giải trình tự DNA", Y học TP Hồ Chí Minh, Tập 17, Phụ bản của Số 3:51-56

21 Hsieh Li-Ling (2012), "Characteristics and prevalence of KRAS, BRAF, and PIK3CA mutations in colorectal cancer by

high-resolution melting analysis in Taiwanese population"

International journal of clinical chemistry, 413 (19), pp 1605-11

22 Iida S., Kato S., Ishiguro M., Matsuyama T., Ishikawa T., et al (2012), "PIK3CA mutation and methylation influences the

outcome of colorectal cancer" Oncol Lett, 3 (3), pp 565-570

23 Karapetis CS, Khambata-Ford S, Jonker, D.J.; O'Callaghan, C.J.;

Tu, D.; Tebbutt, N.C.; Simes, R.J.; Chalchal, H.; Shapiro, J.D.; Robitaille, S.; Price, T.J.; Shepherd, L.; Au, H.J.; Langer, C.; Moore, M.J.; Zalcberg, J.R K-ras mutations and benefit from cetuximab in advanced colorectal cancer N Engl J Med., 2008,

359, 1757-1765

24 Li HT, Lu YY, An YX, et al (2011) KRAS, BRAF and PIK3CA mutations in human colorectal cancer: Relationship with metastatic colorectal cancer Oncology Reports; 25: 1691-1697

25 Lièvre A, Bachet JB, Le Corre D, Boige V, Landi B, Emile JF, Côté

JF, Tomasic G, Penna C, Ducreux M, Rougier P, Penault-Llorca

F, Laurent-Puig P (2004) KRAS mutation status is predictive of

Trang 8

response to cetuximab therapy in colorectal cancer Cancer Res.,

66(8), 3992-3995

26 Liou JM, Wu MS, Shun CT, Chiu HM, Chen MJ, et al (2011),

"Mutations in BRAF correlate with poor survival of colorectal

cancers in Chinese population" Int J Colorectal Dis, 26, pp 1387 -

1395

27 Mao C, Zhou J, Yang Z, Huang Y, Wu X, Shen H, Tang J, Chen

Q: (2012) KRAS, BRAF and PIK3CA mutations and the loss of

PTEN expression in Chinese patients with colorectal cancer PloS

one, 7(5):e36653

28 Minoo P, Moyer MP, Jass JR (2007) Role of BRAF-V600E in the

serrated pathway of colorectal tumourigenesis Journal of

Pathology; 212:124–33

29 Nagasaka T, Sasamoto H, Notohara K, et al (2004) Colorectal

Cancer With Mutation in BRAF, KRAS, and Wild-Type With

Respect to Both Oncogenes Showing Different Patterns of DNA

Methylation Journal of Clinical Oncology; 22:4584-4594

30 Naguib A, Cooke JC, et al (2011), "Alterations in PTEN and

PIK3CA in colorectal cancers in the EPIC Norfolk study:

associations with clinicopathological and dietary factors" BMC

Cancer, 11, pp 123

31 Naguib A, Mitrou PN, Gay LJ, Cooke JC, Luben RN, et al (2010)

Dietary, lifestyle and clinicopathological factors associated with

BRAF and K-ras mutations arising in distinct subsets of

colorectal cancers in the EPIC Norfolk study BMC cancer 10

32 NCCN (2014) National Comprehensive Cancer Network

Guidelines in Oncology™: Colon cancer

http://www.nccn.org/professionals/physician_gls/pdf/colon.pdf

33 NCCN (2014) National Comprehensive Cancer Network

http://www.nccn.org/professionals/physician_gls/pdf/melanoma

.pdf

34 Negru S, Papadopoulou E, Apessos A, et al (2004) KRAS, NRAS

and BRAF mutations in Greek and Romanian patients with

colorectal cancer: a cohort study BMJ Open 4:e004652

35 Ogino S, Nosho K, Kirkner GJ, Kawasaki T, Meyerhardt JA,

Loda M, Giovannucci EL, Fuchs CS (2009) CpG island

methylator phenotype, microsatellite instability, BRAF mutation

and clinical outcome in colon cancer Gut, 58, 90-96

36 Phipps AI, Buchanan DD, Makar KW, Win AK, Baron JA,

Lindor NM, Potter JD, Newcomb PA (2013): KRAS-mutation

status in relation to colorectal cancer survival: the joint impact of

correlated tumour markers Br J Cancer, 108(8):1757–1764

37 Price TJ, Hardingham JE, Lee CK, Weickhardt A, Townsend AR,

et al (2011), "Impact of KRAS and BRAF gene mutation status

on outcomes from the phase III AGITG MAX trial of

capecitabine alone or in combination with bevacizumab and

mitomycin in advanced colorectal cancer" J Clin Oncol, 29, pp

2675 - 2682

38 Roth AD, Tejpar S, Delorenzi M, et al (2010) Prognostic role of

KRAS and BRAF in stage II and III resected colon cancer: results

of the translational study on the PETACC-3, EORTC 40993,

SAKK 60–00 trial J Clin Oncol 2010;28:466–74

39 Samowitz WS, Sweeney C, et al (2005) Poor survival associated with the BRAF V600E mutation in microsatellite-stable colon

cancers Cancer Research 2005;65:6063-9

40 Shen H, Yuan Y, Hu HG, et al (2011) Clinical significance of K-ras and BRAF mutations in Chinese colorectal cancer patients

World J Gastroenterol 2011; 17: 809 – 816

41 Tạ Thành Văn, Nguyễn Kiến Dụ, Trần Vân Khánh (2011), "Xây

dựng qui trình xác định đột biến gen K-RAS ở bệnh nhân ung thư đại-trực tràng", Tạp chí Y học Việt Nam, 2(382), tr 34-37

42 Tejpar S, Celik I, Schlichting M, Sartorius U, Bokemeyer C, Van Cutsem E (2012): Association of KRAS G13D tumor mutations with outcome in patients with metastatic colorectal cancer treated with first-line chemotherapy with or without cetuximab

Journal of clinical oncology: official Journal of the American Society

of Clinical Oncology, 30(29):3570-3577

43 Tol J, Dijkstra JR, Klomp M, et al (2010) Markers for EGFR pathway activation as predictor of outcome in metastatic colorectal cancer patients treated with or without cetuximab

European Journal of Cancer; 46:1997–2009

44 Van Cutsem E, Köhne CH, Láng I, et al (2011) Cetuximab plus irinotecan, flourouracil and leucovorin as first-line treatment for metastatic colorectal cancer: updated analysis of overall survival

according to tumor KRAS and BRAF mutation status Journal of

Clinical Oncology;29:2011–9

45 Wan PT, Garnett MJ, Roe SM, Lee S, Niculescu-Duvaz D, Good

VM, Jones CM, Marshall CJ, Springer CJ, Barford D, Marais R (2004) Cancer Genome Project Mechanism of activation of the RAF-ERK signaling pathway by oncogenic mutations of BRAF

Cell, 116, 855-867

46 Watanabe T, Yoshino T, Uetake H, et al (2013) KRAS Mutational Status in Japanese Patients with Colorectal Cancer: Results from a Nationwide, Multicenter, Cross-sectional Study

Jpn J Clin Oncol; 43(7):706–712y

47 Yokota T, Ura T; Shibata N, Takahari D, Shitara K, Nomura M, Kondo C, Mizota A, Utsunomiya S, Muro K, Yatabe Y (2011) BRAF mutation is a powerful prognostic factor in advanced and recurrent colorectal cancer Br J Cancer, 2011, 104, 856-862

48 Zhu K, Yan H, Wang R, Zhu H, Meng X, et al (2014),

"Mutations of KRAS and PIK3CA as independent predictors of

distant metastases in colorectal cancer" Med Oncol, 31 (7), pp 16

49 Zlobec I, Bihl MP, Schwarb H, et al (2000) Clinicopathological and protein characterization of BRAF- and K-RAS-mutated

colorectal cancer and implications for prognosis International

Journal of Cancer; 127: 367-380

Ngày nhận bài báo: 20/08/15 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/06/2015 Ngày bài báo được đăng: 05/09/2015

Trang 9

GIÁ TRỊ CỦA SINH THIẾT HÚT TRỰC TRÀNG VÀ DẤU ẤN

CALRETININ TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH HIRSCHSPRUNG

TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Trần Quốc Việt*, Đoàn Thị Phương Thảo**, Đặng Hoàng Minh**, Lâm Thiên Kim*, Hồ Trần Bản*, Trần Thanh Trí*, Trương Nguyễn Uy Linh*, Trần Vĩnh Hậu*, Valérie Segers***, Philippe Goyens***,

Henri Steyaert***, Trương Quang Định*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Bệnh Hirschsprung đặc trưng bởi sự vắng tế bào thần kinh trong lớp cơ ở phần xa đại tràng Tuy

nhiên, trong một số trường hợp việc chẩn đoán trên lâm sàng còn gặp nhiều khó khăn Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá kết quả bước đầu ứng dụng phương pháp sinh thiết hút trực tràng với nhuộm calretinin để chẩn đoán bệnh HD

Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu được thực hiện tại Bệnh Viện Nhi Đồng 2 từ 1/2015 đến 7/2015 Bệnh

nhân có chẩn đoán lâm sàng nghi ngờ bệnh Hirschsprung được chỉ định sinh thiết hút trực tràng Mẫu bệnh phẩm được nhuộm H&E và calretinin nhằm tìm tế bào thần kinh ruột trong lớp dưới niêm Bệnh nhân được theo dõi cho đến khi có kết qủa chẩn đoán cuối cùng Các kết quả mong đợi nhằm đánh giá: độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm của chẩn đoán

Kết quả: Từ 29/12/2015 đến 30/7/2015, có 86 trường hợp được sinh thiết hút trực tràng để chẩn đoán

Hirschsprung và có kết quả cuối cùng Tuổi trung vị 6,6 (0,2 – 159,3) tháng Nam/nữ: 53/33 Nhuộm calretinin giúp loại trừ HD trong 50/86 (58,1%) trường hợp Có 1 trường hợp dương tính giả và 1 trường hợp âm tính giả

Độ nhạy và độ đặc hiệu của calretinin lần lượt là 96,67% và 98,18% Trong khi đó, độ nhạy và độ đặc hiệu của H&E lần lượt là 100% và 89,9% Có 4 trường hợp chảy máu, không trường hợp nào thủng 4 trường hợp STH 2 lần do lấy không đủ mô

Kết luận: Sinh thiết hút trực tràng với nhuộm calretinin là phương pháp hữu ích trong chẩn đoán bệnh

Hirschsprung và lần đầu tiên được thực hiện tại Nhi Đồng 2 Kết quả bước đầu cho thấy đây là phương pháp đơn giản, an toàn, có độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao

Từ khoá: Bệnh Hirschsprung, Sinh thiết hút trực tràng, Nhuộm Hoá mô miễn dịch calretinin, nhuộm HE

(Hematoxillin và Eosin)

ABSTRACT

ROLE OF RECTAL SUCTION BIOPSIES AND CALRETININ IMMUNOHISTOCHEMISTRY

IN DIAGNOSIS OF HIRSCHSPRUNG DISEASE AT CHILDREN’S HOSPITAL 2

Tran Quoc Viet, Doan Thi Phuong Thao, Dang Hoang Minh, Lam Thien Kim, Ho Tran Ban, Tran Thanh Tri, Truong Nguyen Uy Linh, Tran Vinh Hau, Valérie Segers, Philippe Goyens, Henri Steyaert, Truong Quang Dinh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - No 5 - 2015: 179 – 186

Objevtives: Hirschsprung’s disease (HD) is characterized by the absence of ganglion cells in the distal

myenteric layer of the colon However, the diagnosis is still difficult in an important number of cases if only have

* Khoa Ngoại Tổng hợp – Bệnh Viện Nhi Đồng 2 – Tp Hồ Chí Minh

** Bộ môn Giải Phẫu Bệnh – Đại Học Y Dược Tp.HCM

Ngày đăng: 15/01/2020, 05:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w