1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá thực trạng công tác chuẩn bị tiền phẫu và bàn giao bệnh nhân trước mổ tại Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016

8 431 11

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 353,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuẩn bị tiền phẫu và bàn giao người bệnh trước mổ là một trong những biện pháp nhằm đảm bảo an toàn cho người bệnh trước phẫu thuật. Chuẩn bị người bệnh trước mổ tốt và bàn giao người bệnh trước mổ giữa các nhóm chăm sóc giúp hạn chế được những rủi ro nhầm lẫn không đáng có. Đề tài nhằm đánh giá thực trạng công tác chuẩn bị tiền phẫu và bàn giao người bệnh trước phẫu thuật tại bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHUẨN BỊ TIỀN PHẪU

VÀ BÀN GIAO BỆNH NHÂN TRƯỚC MỔ TẠI BỆNH VIỆN MẮT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2016

Nguyễn Thị Mai Phương * , Vũ Cẩm Hồng*, Nguyễn Trúc Anh*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Chuẩn bị tiền phẫu và bàn giao người bệnh trước mổ là một trong những biện pháp nhằm đảm

bảo an toàn cho người bệnh trước phẫu thuật Chuẩn bị người bệnh trước mổ tốt và bàn giao người bệnh trước

mổ giữa các nhóm chăm sóc giúp hạn chế được những rủi ro nhầm lẫn không đáng có Đề tài nhằm đánh giá thực trạng công tác chuẩn bị tiền phẫu và bàn giao người bệnh trước phẫu thuật tại bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu cắt ngang trên 210 người bệnh có chỉ định

phẫu thuật chương trình và mổ về trong ngày tại Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh Phỏng vấn người bệnh với các nội dung chuẩn bị người bệnh trước mổ trong phiếu kiểm tra tiền phẫu theo mẫu có sẵn, quan sát trực tiếp công tác bàn giao người bệnh trước mổ giữa các nhóm chăm sóc

Kết quả: Công tác chuẩn bị người bệnh chưa được thực hiện đầy đủ nhất là hồ sơ bệnh án của người bệnh

trước mổ Biên bản hội chẩn phẫu thuật thiếu chữ ký của chủ toạ (16,7%) chữ ký phẫu thuật viên (24,8%), chữ

ký của trưởng khoa (25,7%), phương pháp vô cảm (20,5%), không khai thác tiền sử dị ứng (20,5%), không ký cam kết phẫu thuật (2,4%), Phiếu chăm sóc ghi không đúng thời gian theo qui định (43,3%), hầu hết người bệnh không được thông báo về các biến chứng có khả năng xảy ra sau phẫu thuật, cách tự chăm sóc và phát hiện các biến chứng sau phẫu thuật

Kết luận: Công tác chuẩn bị người bệnh và bàn giao người bệnh trước mổ đóng vai trò quan trọng trong

việc đảm bảo an toàn cho người bệnh phẫu thuật, tuy nhiên công tác này chưa được tuân thủ nghiêm túc và đây

là nguyên nhân tiềm ẩn để các sai sót có thể xảy ra cho người bệnh

Từ khoá: Chuẩn bị tiền phẫu, bàn giao người bệnh

ABSTRACT

EVALUATION THE SITUATION OF PREOPERATIVE PREPARATION AND HANDOVER OF

PATIENTS BEFORE SURGERY IN HO CHI MINH CITY EYE HOSPITAL 2016

Nguyen Thi Mai Phuong, Vu Cam Hong, Nguyen Truc Anh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 36 - 43

Objectives: Pre-operation preparation and delivery of patients is one of safety mean done for patients before

operation The well preparation of patients at pre-operation stage and delivery of patients among the care group help limiting unwanted errors This study has an objective to evaluate the pre-operation preparation and delivery

of patients in The Eye hospital of Ho Chi Minh city

Method: This is a crossed section study done over 210 patients who had indication of planned operation and

1 day delivery at the Eye hospital of Ho Chi Minh city The patients were interviewed about pre-operation preparation with the pre-operation checklist and the patient delivery among care groups have been observed

Results: Pre-operation preparation was not accomplished specially the patients’ document at pre-operative

*Bệnh viện Mắt TP Hồ Chí Minh

Trang 2

stage Minute of surgery meetings were not signed by the chair (16,7%), and not signed by the head of departments (25.7%) There was no anesthetic method (20.5%) There was no history of allergy (20.5%) The inform consents were not signed (2.4%) The patients care sheets were not filled out at the right moment (43.3%) Most of patients who had operation were not informed about possible complications of the operations, not informed about self-care and how to identify post-operative complications

Conclusion: Pre-operation preparation and delivery of patients play an important role in patient safety

assurance before operation, however this task was not taken in consideration in the caring process and these were potential errors that might be happened to patients

Key words: Pre-operation preparation, delivery of patients

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, hạn chế sự cố y khoa xảy ra trong

phẫu thuật là ưu tiên quan trọng trong công tác

điều trị và chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế ở

Việt Nam.Mọi biến cố và tai biến có thể xảy ra

ngay trước khi cuộc mổ bắt đầu cho đến thời

gian về sau, thậm chí hàng năm sau khi người

bệnh đã ra viện gây ảnh hưởng sức khỏe, cả về

thể lực và tâm lý lâu dài Hậu quả không chỉ làm

ảnh hưởng đến chất lượng cuộc mổ, còn làm

tăng thời gian điều trị và nằm viện, tăng chi phí

điều trị, người bệnh giảm thu nhập, tăng tỉ lệ

mắc và tử vong, những đau đớn mà người bệnh

phải gánh chịu cũng như vấn nạn kiện cáo và

pháp luật(2,7,9)

Theo TCYTTG (WHO)(10), mỗi năm trên toàn

thế giới có trên 230 triệu ca phẫu thuật, biến

chứng nguy hiểm đến tính mạng tới 7 triệu

trường hợp (16%) trong đó gần 1 triệu trường

hợp tử vong liên quan đến an toàn phẫu thuật

(gần 10%) Bệnh viện Mắt Thành Phố Hồ Chí

Minh là bệnh viện chuyên khoa hạng I của các

tỉnh phía nam Mỗi ngày bệnh viện Mắt nhận

phẫu thuật cho khoảng trên 100 bệnh nhân, do

uy tín của bệnh viện nên số lượng người bệnh

phẫu thuật tại bệnh viện ngày càng tăng, vì thế

việc chuẩn bị người bệnh và bàn giao người

bệnh trước phẫu thuật không thể tránh khỏi

thiếu sót và đó là nguy cơ gây mất an toàn cho

người bệnh Nhằm thực hiện mục tiêu không

ngừng nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc,

đem đến sự hài lòng và an toàn cho người bệnh,

chúng tôi tiến hành “Khảo sát thực trạng công

tác chuẩn bị tiền phẫu và bàn giao bệnh nhân trước phẫu thuật tại bệnh viện Mắt TP HCM”

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu cắt ngang

Đối tượng nghiên cứu

Cỡ mẫu của nghiên cứu là 210 người bệnh

có chỉ định phẫu thuật chương trình và phẫu thuật về trong ngày tại Bệnh viện Mắt từ tháng

5 năm 2016 đến tháng 8 năm 2016

Phương pháp thu thập dữ kiện

Dữ kiện được thu thập từ hồ sơ bệnh án, phỏng vấn người bệnh và điều dưỡng-kỹ thuật viên gây mê hồi sức trực tiếp chăm sóc người bệnh Nhóm nghiên cứu tiến hành quan sát trực tiếp quá trình bàn giao người bệnh giữa điều dưỡng các khoa lâm sàng và kỹ thuật viên gây mê khoa Phẫu thuật-Gây mê hồi sức

Công cụ nghiên cứu

Bộ phiếu nghiên cứu được thiết kế dựa trên khuyến cáo triển khai các hoạt động an toàn phẫu thuật thủ thuật của Bộ Y tế, Tài liệu đào tạo liên tục hướng dẫn triển khai hoạt động an toàn người bệnh tại bệnh viện của Sở Y Tế, Tài liệu điều dưỡng chuyên khoa Mắt Việt Nam

Xử lý số liệu

Phân tích và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS version 2.0

KẾT QUẢ

Đặc điểm nhóm nghiên cứu

Nam có tỉ lệ cao hơn nữ lần lượt là 63,8%;

Trang 3

36,2% Đa số người bệnh ở độ tuổi >56 chiếm tỉ

lệ 41,9% kế đến là >36 – 56 chiếm 24,8%, tỉ lệ

người bệnh ở độ tuổi từ 18-36 chiếm tỉ lệ 18,9%

và thấp nhất là độ tuổi <18 chiếm tỉ lệ 14,2% Về

nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu đa số là

nghề tự do và nông dân với tỉ lệ lần lượt là

34,2%; 25,2%, tiếp theo là cán bộ hưu trí 25,2;

giáo viên; công nhân viên và học sinh có tỉ lệ

thấp lần lượt là 1,4; 3,9 và 11,9 Hầu hết người

bệnh đến từ các tỉnh thành chiếm tỉ lệ 80,9%; cư

ngụ tại thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỉ lệ

19,1%, Tỉ lệ người bệnh biết chữ rất cao 90,9%

chỉ còn 9,1% người bệnh không biết chữ Người

bệnh mổ chương trình chiếm tỉ lệ 71,43%; mổ

về trong ngày chiếm tỉ lệ 28,57%

Ghi chép hồ sơ bệnh án của khối bác sĩ

Bảng 1: Đặc điểm nhóm nghiên cứu

Giới

Nam

Nữ

134

76

63,8 36,2 Tuổi

<18

18 – 36

>36 – 56

>56

30

25

52

103

14,2 18,9 24,8 41,9

Nghề nghiệp Công nhân viên Giáo viên Học sinh Hưu trí Nông dân Buôn bán Khác

8

3

25

41

53

8

72

3,9 1,4 11,9 19,5 25,2 3,9 34,2 Nơi cư trú

Thành phố Tỉnh

40

170

19,1 80,9 Trình độ học vấn

Biết chữ Không biết chữ

191

19

90,9 9,1 Hình thức điều trị

Mổ chương trình

Mổ về trong ngày

150

60

71,43 28,57 Nhiều biên bản hội chẩn phẫu thuật còn thiếu chữ ký của trưởng khoa, chữ ký phẫu thuật viên, chữ ký của chủ toạ với tỉ lệ lần lượt là 25,7%;24,8%

và 16,7% Vẫn còn tỉ lệ 2,4% người bệnh chưa thực hiện cam kết trước mổ, 20,5% là tỉ lệ người bệnh chưa được khai thác tiền sử dị ứng, 75 người bệnh chiếm tỉ lệ 35,7% chưa được đánh giá tình trạng dinh dưỡng trước mổ (Bảng 2)

Bảng 2: Ghi chép hồ sơ bệnh án của khối bác sĩ

Phần hành chánh Tên, tuổi, giới tính, mã bệnh nhân 210 202 (96,2) 8 (3,8)

Biên bản hội chẩn

Chỉ định phương pháp phẫu thuật 210 203 (96,6) 7 (3,4)

Bs Kiểm tra lại người bệnh trước khi phẫu thuật 210 193 (91,9) 17 (8,1)

Ghi nhận bệnh sử và tiền căn dị ứng 210 167 (79,5) 43 (20,5)

Trang 4

Nội dung Tổng Đạt n (%) Chưa đạt n (%)

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trước mổ 210 135 (64,3) 75 (35,7)

Phần ghi chép của điều dưỡng

Bảng 3: Phần ghi chép của điều dưỡng

Phiếu kiểm tra tiền phẫu

Ghi phiếu chăm sóc

Ghi chép nội dung và các can thiệp điều dưỡng 210 182 (86,7) 28 (13,3)

Thực hiện phiếu chức năng sống

Nhận xét: Điều dưỡng ghi chép phiếu

chăm sóc và phiếu theo dõi chức năng sống

trước khi thực hiện trên lâm sàng với tỉ lệ lần

lượt là 31,4% và 43,3% Vẫn còn hồ sơ không

thực hiện phiếu chăm sóc và phiếu theo dõi

chức năng sống với tỉ lệ là 12,4% và 13,3% Không ký tên sau khi ghi chép phiếu chăm sóc chiếm tỉ lệ 17,1% và không ghi chép lại nhận định của điều dưỡng và các biện pháp can thiệp của điều dưỡng chiếm tỉ lệ 13,3%

Công tác chuẩn bị người bệnh trước mổ (qua hồ sơ bệnh án, quan sát và phỏng vấn người bệnh)

Bảng 4: Công tác chuẩn bị người bệnh trước mổ

Người bệnh và người nhà được giải thích và chuẩn bị tâm lý trước mổ 210 172 (81,9) 38 (18,1)

Thông báo thời gian mổ và tiên lượng cuộc mổ 210 151 (71,9) 59 (28,1) Người bệnh/người nhà được thông báo những nguy cơ hoặc biến chứng có

thể xảy ra sau phẫu thuật

210 0 (0) 210 (100) Người bệnh/người nhà được biết tên của phẫu thuật viên 210 210 (100) 0 (0) Người bệnh/người nhà được biết phương pháp phẫu thuật sẽ được thực hiện 210 0 (0) 210 (100) Người bệnh/người nhà được biết vị trí được phẫu thuật (phải, trái) 210 210 (100) 0 (0) Người bệnh được hướng dẫn vệ sinh cá nhân trước mổ 210 107 ( 50,9) 103 (49,1) Người bệnh được rửa mắt và đánh dấu bên mắt được phẫu thuật 210 204 (97,1) 7 (2,9) Người bệnh/người nhà được tư vấn chế độ ăn uống, sinh hoạt nghỉ ngơi trước

và sau phẫu thuật

210 187 (89,1) 23 (10,9) Người bệnh/người nhà được hướng dẫn cách chăm sóc và phát hiện các biến

chứng sau phẫu thuật

210 0 (0) 210 (100) Đeo bảng tên nhận dạng trước mổ 210 209 (99,5) 1 (0,5) Người bệnh được mặc quần áo bệnh viện theo qui định 210 208 (99,1) 2 (0,9) Người bệnh đã thực hiện chế độ ăn uống trước mổ theo qui định 210 187 (89,1) 23 (10,9) Người bệnh đã thực hiện y lệnh về thuốc trước mổ theo qui định 210 210 (100) 0 (0)

Trang 5

Nhận xét: Hầu hết người bệnh và thân nhân

không được thông báo những nguy cơ và tai

biến có thể xảy ra sau phẫu thuật, không được

hướng dẫn vệ sinh trước mổ và không được

hướng dẫn cách chăm sóc cũng như phát hiện

các biến chứng sau mổ

Quan sát trực tiếp công tác bàn giao người

bệnh giữa điều dưỡng các khoa lâm sàng và kỹ

thuật viên gây mê hồi sức

Bảng 5: Công tác bàn giao người bệnh giữa điều

dưỡng các khoa lâm sàng và kỹ thuật viên gây mê hồi

sức

n (%)

Chưa đạt

n (%)

Kiểm tra lại hồ sơ bệnh án

và thông tin người bệnh

210 200 (95,2) 10 (4,76) Kiểm tra số lượng phim X

quang, MRI, CT

210 0 (0) 210 (100) Kiểm tra biên bản hội chẩn

phẫu thuật

210 198 (94,3) 12 (5,7) Kiểm tra phiếu khám tiền

mê, trước tê

210 90 (42,8) 120 (57,2) Kiểm tra người bệnh đã

thực hiện chế độ ăn uống

theo qui định

210 210 (100) 0 (0)

Ký nhận bàn giao giữa điều

dưỡng và KTV gây mê

210 109 (52) 101 (48) Nhận dạng người bệnh phù

hợp với hồ sơ

210 200 (95,2) 10 (4,76) Kiểm tra tiền sử dị ứng 210 120 (57,2) 90 (42,8)

Kiểm tra đánh dấu mắt mổ

đúng y lệnh

210 179 (85,2) 31 (14,8)

Nhận xét: Quá trình bàn giao không kiểm tra

số lượng phim X quang, MRI, CT scan, không ký

bàn giao giữa điều dưỡng và kỹ thuật viên gây

mê chiếm tỉ lệ 48%, không kiểm tra tiền sử dị

ứng chiếm tỉ lệ 42,8%, không nhận dạng người

bệnh đối chiếu với hồ sơ bệnh án với tỉ lệ là

4,76%

BÀN LUẬN

Đặc điểm nhóm nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu có tỉ lệ nam nhiều hơn nữ

với tỉ lệ là 63,8% và 36,2%, điều này cho thấy cần

lưu ý vấn đề an toàn cho người bệnh và kết quả

điều trị, nam là lao động chính trong gia đình

nên kinh tế gia đình đa số phụ thuộc vào đối

tượng này, rủi ro xảy ra với người bệnh sẽ ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của cả gia đình Đối tượng nghiên cứu ở độ tuổi>56 chiếm đa số với tỉ

lệ là 41,9% Và đa số là nông dân hoặc lao động

tự do với tỉ lệ lần lượt là 25,2% và 34,2%, nhìn chung thành phần người bệnh trong nhóm nghiên cứu không nằm trong nhóm nghề nghiệp

có trình độ cao vì thế nhu cầu phục vụ đối với họ không cao và kiến thức về y học và sức khoẻ cũng không nhiều vì thế cần quan tâm đến vấn

đề giáo dục sức khoẻ phòng ngừa bệnh và tự chăm sóc sau xuất viện Với tỉ lệ rất khiêm tốn của giới trí thức và học sinh 3,9%;1,4% và 11,9%, nhóm nghiên cứu đã đặt câu hỏi vậy đối tượng người bệnh là doanh nhân, trí thức đã chọn cơ sởy tế với chất lượng như thế nào để chăm sóc sức khoẻ cho mình Tỉ lệ người bệnh đến từ các tỉnh thành là khá cao 80,9%, thành phố Hồ Chí Minh chiếm một tỉ lệ nhỏ 19,1%, điều này cũng cho thấy những khó khăn của người bệnh khi đi tái khám hoặc khi có nhu cầu khám chữa bệnh là rất khó khăn, vì thế cần có các biện pháp nhắc tái khám định kỳ, thăm hỏi sức khoẻ qua điện thoại, tạo sự thuận lợi để người bệnh dễ dàng tuân thủ Bệnh viện Mắt là bệnh viện chuyên khoa đã triển khai hình thức mổ về trong ngày tạo sự thuận tiện, giảm chi phí và rút ngắn thời gian điều trị cho người bệnh, hiện nay tỉ lệ này là 28,57% Chỉ còn một tỉ lệ nhỏ người bệnh không biết chữ 9,1%, tỉ lệ tuy không nhiều nhưng cần quan tâm đến công tác giáo dục sức khoẻ, hướng dẫn sử dụng thuốc, tuân thủ tái khám, tự chăm sóc và phát hiện các biến chứng bằng các hình thức hướng dẫn trực quan sinh động giúp người bệnh dễ hiểu và dễ nhớ hơn

Ghi chép hồ sơ bệnh án của khối bác sĩ

Thủ tục hồ sơ bệnh án trước mổ là căn cứ pháp lý bảo vệ người bệnh và nhân viên y tế khi

có kiện cáo xảy ra.Việc thực hiện đầy đủ và đúng qui định về các văn bản mang tính pháp lý trước phẫu thuật là trách nhiệm của phẫu thuật viên, điều dưỡng và của cả người bệnh, thân nhân người bệnh(3).Qua khảo sát nhóm nghiên cứu ghi nhận được tất cả người bệnh có chỉ định phẫu

Trang 6

thuật đều được làm các xét nghiệm tiền phẫu và

khám nội trước mổ với tỉ lệ đạt 100% Hội chẩn

trước mổ là qui định bắt buộc đối với tất cả các

chỉ định phẫu thuật, hội chẩn phải được chuẩn

bị chu đáo và đảm bảo các thủ tục qui định(1)

Tuy nhiên qua khảo sát nhóm nghiên cứu nhận

thấy biên bản hội chẩn phẫu thuật còn nhiều

thiếu sót, phần thông tin hành chánh chưa đầy

đủ các mục ghi trong biên bản như tên, tuổi, giới

tính; ngày giờ nhập viện; chẩn đoán trước phẫu

thuật với tỉ lệ lần lượt là 3,8%;3,4% và 4,3%

Hoàn tất phần hành chánh là cơ sở để xác định

đúng đối tượng được hội chẩn và là cơ sở pháp

lý để nhận dạng Thiếu thông tin hành chánh có

thể gây nhầm lẫn và dẫn đến sai sót trong phẫu

thuật(6) Nội dung trong biên bản không được ghi

chép đầy đủ đặc biệt là còn nhiều hồ sơ không có

chữ ký của chủ toạ, chữ ký của phẫu thuật viên

và chữ ký của trưởng khoa với tỉ lệ như sau

24,8%;25,7% và 20,5%, điều này được giải thích

như sau, vì quá đông bệnh nhân hội chẩn nên

các thành viên sau khi hội chẩn quên không ký

nhận, hoặc người bệnh không được hội chẩn

trước mổ, lãnh đạo bệnh viện tin tưởng vào trình

độ tay nghề và kinh nghiệm của các phẫu thuật

viên nên cho thông qua và ký biên bản sau Điều

này rất nguy hiểm nếu có trường hợp vượt khả

năng nhưng phẫu thuật viên vẫn tự ý thực hiện

khi chưa thông qua trưởng khoa hoặc lãnh đạo

bệnh viện, hậu quả là người bệnh phải gánh chịu

thương tật, bệnh viện phải giải trình với cơ quan

điều tra, có khi ảnh hưởng đến uy tín của bệnh

viện(1) Việc ký cam kết phẫu thuật là do người

bệnh hoặc người nhà người bệnh sau khi đã

được nghe giải thích, đã hiểu và chấp nhận phẫu

thuật cũng như các rủi ro có khả năng xảy ra sau

phẫu thuật, đây là qui định bắt buộc và phải

tuân thủ tuyệt đối(1).Trong nghiên cứu của chúng

tôi có 5 trường hợp chưa được ký cam kết phẫu

thuật, chiếm tỉ lệ 2,4%.Tỉ lệ này rơi vào các

trường hợp mổ đục thuỷ tinh thể Tại bệnh viện

Mắt phẫu thuật đục thuỷ tinh thể là phẫu thuật

mổ về trong ngày, vì thế các bước trong qui trình

đều phải thực hiện rất nhanh mới kịp để người

bệnh được phẫu thuật, đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ sót 5 ca chưa ký cam kết phẫu thuật Hầu hết người bệnh đều được làm xét nghiệm máu và khám nội khoa trước mổ đúng qui định

Ghi chép hồ sơ bệnh án của điều dưỡng

Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, tỉ

lệ thực hiện phiếu kiểm tra tiền phẫu >90%, công tác chuẩn bị tiền phẫu rất quan trọng nhằm đảm bảo việc chuẩn bị phẫu thuật cho người bệnh đã được thực hiện đầy đủ(1) tuy nhiên qua khảo sát vẫn còn một tỉ lệ nhỏ <7% phiếu kiểm tra tiền phẫu thiếu một số nội dung như: thiếu một vài nội dung trong phần thông tin hành chánh của người bệnh nhất là thiếu phần giới tính hoặc tuổi Cần nhắc nhở để điều dưỡng ghi đầy đủ thông tin giúp cho việc nhận diện người bệnh được chính xác Ghi chép phiếu chăm sóc là nhiệm vụ của người điều dưỡng, phiếu chăm sóc nhằm nhận định, theo dõi và đánh giá tình trạng người bệnh, những thông tin ghi nhận trong phiếu chăm sóc nhằm kịp thời trao đổi và thống nhất giữa những người trực tiếp chăm sóc, điều trị người bệnh(3) Tuy nhiên trong nghiên cứu này vẫn còn một tỉ lệ phiếu chăm sóc chưa được thực hiện 12,4%, một số phiếu chăm sóc được ghi chép trước khi thực hiện cho người bệnh 31,4% điều này cho thấy vẫn còn một số điều dưỡng chưa ý thức được mức độ quan trọng của việc ghi chép phiếu điều dưỡng, chủ yếu là hoàn tất hồ sơ cho xong để đối phó khi bị kiểm tra, 17% phiếu chăm sóc không có chữ ký của người thực hiện, qui định ghi nhận lại tất cả những công tác chăm sóc đã thực hiện trên người bệnh và ký tên xác nhận phần công việc

đã thực hiện, đây là cơ sở pháp lý để có thể nêu

rõ trách nhiệm của người đã thực hiện khi có sai sót xảy ra(1,3).Điều dưỡng trưởng khoa có trách nhiệm đôn đốc, nhắc nhở và kiểm tra việc ghi chép hồ sơ điều dưỡng đúng qui định(1,3) Ở nội dung ghi chép phiếu theo dõi chức năng sống, có đến 91 hồ sơ chiếm tỉ lệ 43,3% phiếu theo dõi chức năng sống được ghi chép trước khi thực hiện cho người bệnh, bệnh viện Mắt thực hiện

Trang 7

qui trình phẫu thuật về trong ngày, người bệnh

có chỉ định phẫu thuật là những người được

khám nội tim mạch xong được phẫu thuật ngay,

vì thế họ là những người không có tình trạng

bệnh nội khoa, hoặc có bệnh nội khoa nhưng đã

được điều trị ổn định, chính vì thế mà điều

dưỡng không quan tâm lắm đến dấu hiệu sinh

tồn trước mổ vì cho rằng mới được theo dõi tại

phòng khám nội nên thường sẽ viết kết quả khi

chưa thực hiện cho người bệnh Điều này cũng

cần nhắc nhở đến trách nhiệm của việc ghi kết

quả chăm sóc, theo qui định chỉ được ghi nhận

những việc đã thực hiện cho người bệnh(3)

Công tác chuẩn bị người bệnh trước mổ

Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết người

bệnh không được thông báo những nguy cơ

hoặc biến chứng có thể xảy ra sau phẫu thuật

Sốca phẫu thuật chương trình chiếm đa số

71,43%, người bệnh không được biết những

nguy cơ hoặc biến chứng có thể xảy ra sau mổ

điều này dễ dẫn đến việc kiện cáo khi kết quả

phẫu thuật không như mong muốn(2).Nên

triển khai phát phiếu thông tin tư vấn trước

mổ để người bệnh và người nhà có thể đọc và

tham khảo trước khi được phẫu thuật vì tỉ lệ

người bệnh chưa được cung cấp thông tin về

chế độ ăn uống, sinh hoạt và nghỉ ngơi sau

phẫu thuật cũng như cách phát hiện các biến

chứng sau mổ là rất cao, có thể do số lượng

người bệnh mổ trong ngày quá nhiều và

nhanh nên điều dưỡng bỏ qua việc cung cấp

thông tin cho người bệnh Có 7 người bệnh

chiếm tỉ lệ 2,9% chưa được đánh dấu mắt mổ

theo qui định, điều này dễ dẫn đến nhầm lẫn

vị trí phẫu thuật, qua kết quả này cho thấy

công tác xác định đúng người bệnh và vị trí

phẫu thuật chưa thực hiện nghiêm túc, cần

lưu ý để tránh nhầm lẫn trong phẫu thuật

Công tác bàn giao người bệnh giữa kỹ thuật

viên gây mê và điều dưỡng các khoa lâm

sàng

Quan sát trực tiếp quá trình bàn giao người

bệnh trước mổ, kết quả cho thấy có 4,76% trường

hợp kỹ thuật viên gây mê hồi sức khi tiếp nhận không kiểm tra lại hồ sơ bệnh án và thông tin người bệnh, chưa thực hiện nhận diện đúng người bệnh, vị trí và phương pháp phẫu thuật, điều này là yếu tố nguy cơ dẫn đến nhầm lẫn trong phẫu thuật gây mất an toàn cho người bệnh(6,8) 42,8% trường hợp không được kiểm tra tiền sử dị ứng trước khi tiêm tê và 14,8% trường hợp không được đối chiếu lại vị trí mắt phẫu thuật với hồ sơ bệnh án và bảng tên người bệnh đang đeo Cần tăng cường kiểm tra giám sát tuân thủ qui trình/qui định nhận diện người bệnh nếu không nhầm lẫn sẽ có thể xảy ra bất cứ lúc nào, không đảm bảo an toàn trong phẫu thuật(7,9)

Bàn giao người bệnh phải có xác nhận và ký nhận tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi

có đến 101 trường hợp chiếm 48% không ký nhận khi bàn giao, việc này gây khó khăn cho việc qui trách nhiệm cụ thể khi xảy ra sự cố hoặc thiếu sót hồ sơ(4,5)

Tất cả người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi đều được thay quần áo bệnh viện theo qui định và hướng dẫn vệ sinh cá nhân trước

mổ Vấn đề không thông báo cho người bệnh chính xác thời gian kéo dài của cuộc mổ chiếm tỉ

lệ 28,1%, phẫu thuật về mắt thường không kéo dài tuy nhiên vì lượng người bệnh được phẫu thuật đông, bàn mổ có giới hạn, nhiều bác sĩ cùng phẫu thuật một lúc nên đôi lúc phải chờ bàn mổ khiến người bệnh phải chờ lâu và phản ánh qua đường dây nóng Nên thông báo và giải thích để người bệnh hiểu, thông cảm và hợp tác, chờ đợi quá lâu mà không được biết nguyên nhân là vấn đề làm người bệnh không hài lòng

KẾT LUẬN

Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi kết luận như sau:

- Ghi chép hồ sơ bệnh án của khối bác sĩ: Biên bản hội chẩn trước mổ chưa có chỉ định phẫu thuật (3,4%), không có chữ ký của phẫu thuật viên (24,8%); không có chữ ký của trưởng khoa (25,7%); không có chữ ký của chủ toạ

Trang 8

(16,7%); người bệnh chưa ký cam kết mổ (2,4%);

không khai thác tiền căn dị ứng (20,5%)

- Ghi chép hồ sơ điều dưỡng: Ghi chép phiếu

kiểm tra tiền phẫu, phiếu chăm sóc, phiếu theo

dõi chức năng sống được thực hiện trước và ký

xác nhận khi chưa thực hiện cho người bệnh với

tỉ lệ lần lượt là (7,6%); (31,4%);(43,3%)

- Công tác chuẩn bị người bệnh trước mổ: Đa

số người bệnh không có thông tin về các tai biến

hoặc biến chứng có thể xảy ra sau mổ; Hầu hết

người bệnh không được biết phương pháp phẫu

thuật sẽ được thực hiện, không được hướng dẫn

cách chăm sóc và phát hiện các biến chứng sau

mổ

- Công tác bàn giao người bệnh trước mổ

giữa điều dưỡng và kỹ thuật viên gây mê

có4,76% trường hợp không đối chiếu để nhận

diện người bệnh và xác định vị trí phẫu thuật;

42,8% không kiểm tra lại tiền sử dị ứng của

người bệnh và 14,8% không đối chiếu lại vị trí

đánh dấu mắt với y lệnh trong hồ sơ bệnh án và

bảng tên người bệnh đang đeo

KIẾN NGHỊ

- Để đảm bảo an toàn trong phẫu thuật cần

tuân thủ áp dụng bảng kiểm an toàn phẫu thuật

tại tất cả các phòng mổ trong bệnh viện

- Thực hiện 3 đúng trong phẫu thuật: đúng

người bệnh, đúng vị trí và đúng phương pháp

phẫu thuật

- Tuân thủ nghiêm túc qui chế hội chẩn trước

phẫu thuật, và ký cam kết trước mổ, qui định

không chấp nhận phẫu thuật đối với những

trường hợp chưa được hội chẩn hoặc chưa ký

cam kết mổ

- Phát phiếu thông tin phẫu thuật cho người

bệnh trong đó có những thông tin như: tên phẫu thuật sẽ được thực hiện, thời gian dự kiến của cuộc mổ, chế độ ăn trước và sau mổ, cách phát hiện các biến chứng sau mổ, chế độ sinh hoạt và nghỉ ngơi sau mổ

- Tăng cường giám sát việc ghi chép hồ sơ điều dưỡng

- Xây dựng qui trình bàn giao bệnh mổ và giám sát tuân thủ qui trình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y Tế (1997) Quyết định số 1895/QĐ-BYT ngày 19 tháng 9

năm 1997 về Qui chế bệnh viện

2 Bộ Y Tế (2014) Tài liệu đào tạo An toàn người bệnh

3 Bộ Y Tế (2001) Thông tư số 07/2011/TT-BYT của Bộ Y Tế ngày 26/01/2011 về “Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện”

4 Bộ Y Tế (2012) Thông tư số 13/2012/TT-BYT ngày 20/08/2012

về “Hướng dẫn công tác gây mê – hồi sức”

5 Bùi Thị Huyền, Nguyễn Quốc Khánh (2016) Đánh giá thực trạng chuẩn bị và bàn giao người bệnh trước phẫu thuật tại khoa Phẫu thuật – Gây mê hồi sức Bệnh viện Quân Y 354 năm

2015 Báo cáo Hội nghị Khoa học Điều dưỡng Bệnh viện Quân Y

103

6 Chassin MR, Becheer EC (2002) The Wrong patient Ann

Intern Med,136 (11), 826-833

7 Lê Thị Kim Nhung, Phạm Duy Vũ, Nguyễn Thị Thiện, Lê Hồng Nhung (2013) Thực trạng bàn giao người bệnh trước phẫu thuật cấp cứu tại khoa Gây mê hồi sức Bệnh viện Hữu

Nghị Việt Đức Hội nghị Khoa Học Điều dưỡng Bệnh viện Bạch

Mai

8 Meinberg EG, Stern PJ (2003) Incidence of wrong–site surgery

among hand surgeons J Bone Joint Surg Am, 85-A(2), 193-197

9 Wakefield A, et al (2005) Patient safety: do nursing and

medical curricula address this theme? Nurse Educ Today 25(4):

333-340

10 WHO (2011) Patient Safety curriculum guide

Multi-professional Edition, 2011

Ngày nhận bài báo: 15/11/2017 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 23/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 28/02/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 05:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w