Bài viết trình bày việc so sánh hiệu quả nuôi dưỡng và khả năng dung nạp của sữa đậu nành bổ sung sữa bột nguyên kem và probiotic, so với isocal, trên bệnh nhân nặng kém dung nạp lactose.
Trang 1HIỆU QUẢ NUÔI DƯỠNG VÀ KHẢ NĂNG DUNG NẠP CỦA SỮA ĐẬU NÀNH BỔ SUNG SỮA BỘT NGUYÊN KEM
VÀ PROBIOTIC, SO VỚI ISOCAL, TRÊN BỆNH NHÂN NẶNG
KÉM DUNG NẠP LACTOSE
Tạ Thị Tuyết Mai*, Bùi Khắc Hoài Anh*, Nguyễn Ngọc Kim Ngân*, Huỳnh Văn Ân*, Ngô văn Thành*,
Đỗ Thị Liên*, Nguyễn Duy Khang*, Nghiêm Nguyệt Thu**
TÓM TẮT
Mục tiêu: So sánh hiệu quả cải thiện tình trạng dinh dưỡng, sự dung nạp và sự an toàn của sữa đậu nành
bổ sung sữa bột nguyên kem với sữa chuẩn là Isocal ở bệnh nhân nặng kém dung nạp lactose
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: So sánh hiệu quả cải thiện tình trạng dinh dưỡng của sữa công
thức 1 và 2 với sữa chuẩn là Isocal ở người bằng sự thay đổi nồng độ albumin, prealbumin, giá trị tổng hợp của 3 thông số albumin hay prealbumin với lympho đếm và cholesterol huyết thanh sau 4,7,14 ngày thử nghiệm trên
189 bệnh nhân nặng kém dung nạp lactose Đánh giá sự dung nạp bằng tình trạng tiêu chảy và tồn lưu Và đánh giá sự an toàn của dung dịch sữa pha bằng cách cấy mẫu sữa 2 giờ sau pha
Kết quả: Sau ngày thứ 4 thử nghiệm, prealbumin huyết thanh của nhóm được nuôi bằng sữa công thức 2,
tăng cao hơn prealbumin huyết thanh của nhóm được nuôi bằng sữa Isocal, 2,639 mg/dl và 0,026 mg/dl, p=0,001 Sau 1 tuần can thiệp có 42,1% bệnh nhân được nuôi bằng sữa công thức 2 có mức tăng prealbumin >4 mg/dl/tuần (chuẩn đồng hóa) cao hơn bệnh nhân được nuôi bằng sữa công thức 1 và sữa chuẩn (34% và 22,2%, p=0,044) Sau 2 tuần can thiệp chỉ có bệnh nhân nuôi bằng sữa công thức 2 có mức tăng albumin > 2g/l (chuẩn đồng hóa) là 3,7g/l và cao hơn bệnh nhân nuôi bằng sữa công thức 1 và Isocal có ý nghĩa thống kê (0,5 và 1,1 g/l với p=0,006 và p=0,026) 62,5% bệnh nhân nuôi bằng sữa công thức 2 so với 37% bệnh nhân nuôi bằng Isocal, có mức tăng albumin > 2g/l, p=0,039 Tần suất tồn lưu và thiếu máu của bệnh nhân nuôi bằng sữa công thức 1 và 2 không khác với bệnh nhân được nuôi bằng sữa chuẩn Mẫu sữa sau pha 2 giờ chỉ mọc bacillus là probiotic có lợi được bổ sung vào dung dịch
Kết luận: Sữa đậu nành bổ sung sữa bột nguyên kem và probiotics đáp ứng được nhu cầu nuôi dưỡng theo
khuyến nghị dành cho bệnh nhân nặng, có cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho bệnh nhân từ ngày thứ 7 của thử nghiệm và hấp thu cũng tương đương với sữa chứng là Isocal
Từ khóa: Nuôi ăn qua ống thông, kém dung nạp lactose, bệnh nhân nặng, prealbumin, albumin, dung dịch
nuôi ăn qua ống thông, probiotics, sữa đậu nành, sữa bột nguyên kem
ABSTRACT
THE EFFECTIVENESS OF NUTRITIONAL STATUS OF SOY MILK SUPPLEMENTED WITH FULL CREAM MILK POWDER AND PROBIOTICS AGAINST ISOCAL IN FEEDING LACTOSE
INTOLERANCE CRITICAL ILL PATIENTS
Ta Thi Tuyet Mai , Bui Khac Hoai Anh, Nguyen Ngoc Kim Ngan, Huynh Van An, Ngo Van Thanh, Do Thi Kim Lien, Nguyen Duy Khang, Nghiem Nguyet Thu
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 6 - 2016: 237 - 248
.Objective: The aim of this study was to compare the effectiveness of nutritional status of formula 1 and
* Bệnh viện Nhân Dân Gia Định; ** Viện Dinh dưỡng
Trang 2formula 2 against Isocal in feeding critical ill patients.
Materials and methods: Compare effectively improve the nutritional status of formula 1 and 2 with the
standard formula in lactose intolerance critical ill patients by the changes in the levels of albumin, prealbumin, aggregate values of 3 parameters: albumin, lymphocytes count, cholesterol or prealbumin, lymphocytes count and cholesterol after 4,7,14 day trial
Results: After 4 day trial, serum prealbumin of patients fed with formula 2, higher than of patients fed with
Isocal, 2.639 mg/dl and 0.026 mg/dl, p = 0.001 After 1-week intervention, 42.1% of patients fed with formula 2 got an improvement in the prealbumin level of 4.0 mg per dl (40 mg per L), indicates a good prognosis Only 34% patients fed with formula 1 and 22.2% patients fed with Isocal, p = 0.044; got improvement After 2-week trial, progressive rises in albumin levels of patient’s fed formula 2 were noted Only patients fed formula 2, whose serum albumin level was elevated by more than 2 g/l That was 3.7g/l, compared to 0.5 of patients fed formula 1 and 1.1 g/l of patients fed Isocal, p = 0.006 and p = 0.026 Frequency of patients, whose serum albumin level was elevated by more than 2 g/l, fed formula 2 higher than of patients fed Isocal, 62.5% and 37%, p = 0.039 There was
no difference in prevalence of patients who suffered from anemia from 3 groups during 14-day trial
Conclusion: Compared with control group, formula 2 provides a better nutritional result in critical ill
patients
Keys words: lactose intolerance, Critical ill patients, probiotics, enteral feeding, prealbumin, albumin,
enteral feeding formula, probiotics, soymilk, full cream milk
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tình
trạng suy dinh dưỡng góp phần làm tăng tỷ lệ
tử vong ở bệnh nhân nặng(24) Arnold(2) đã
nhận thấy bệnh nhân đang điều trị tại ICU có
cùng số điểm APACHE, nhưng albumin huyết
thanh <2,5 g/dl có tỷ lệ tử vong gấp đôi bệnh
nhân có albumin huyết thanh ≥ 2,5 g/dl (54%
so với 29%) Tần suất suy dinh dưỡng bệnh
nhân nằm tại ICU rất cao, tại khoa ICU của 1
bệnh viện ở Hàn quốc, 67% bệnh nhân suy
dinh dưỡng trung bình và 20% bệnh nhân suy
dinh dưỡng nặng(35), Việt nam là 65%(30)
Fulks và cộng sự(16) đã chứng minh hàm
lượng cao acid amin cần thiết có tác dụng làm
tăng tổng hợp protein ở chuột Joseph và cộng
sự(13) bổ sung 3,6g gồm 9 loại acid amin thiết yếu
đã làm tăng albumin máu ở bệnh nhân lọc thận
(0,26g/dl so với 0,04 g/dl, p=0,02) Nghiên cứu
của Bronich và cộng sự(5) cũng có kết quả tương
tự với liều 6,8g acid amin thiết yếu Ngoài ra,
Blackburn và cộng sự(4) đã nhận thấy nuôi tiêu
hóa với loại đạm có 25% acid amin nhánh
(leucine, isoleucine, valine) làm tăng tổng hợp
protein ở gan và cơ của chuột nhiễm trùng huyết Ở người, kết quả nghiên cứu của Cerra(8)
cho thấy việc bổ sung 0,7 g/kg/ngày acid amin nhánh có hiệu quả cải thiện dinh dưỡng với cân bằng ni-tơ dương tính (5g/ngày), trong khi đó nhóm chứng có cân bằng ni-tơ âm tính (-0,9g/ngày), p=0,03
Sữa đậu nành bổ sung sữa bột nguyên kem
và probiotic đáp ứng nhu cầu nuôi dưỡng cho bệnh nhân nặng với hàm lượng 9 acid amin thiết yếu tương đương với sữa chuẩn- Isocal là 38-39g/1500 ml sữa và acid amin score của sữa đậu nành bổ sung sữa bột, đạt chuẩn giá trị sinh học cao là> 100(27), có hiệu quả nuôi dưỡng tốt hơn Isocal và không gây tiêu chảy ở chuột suy dinh dưỡng(26) Vậy hiệu quả cải thiện dinh dưỡng và sự dung nạp trên bệnh nhân nặng kém dung nạp lactose khi được nuôi bằng dung dịch sữa này có tương đương khi nuôi bằng Isocal là câu hỏi của nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
1 So sánh hiệu quả cải thiện tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nặng được nuôi bằng sữa đậu nành bổ sung sữa bột nguyên kem công
Trang 3thức 1 (nhóm 1) và công thức 2 (nhóm 3) với
bệnh nhân nặng được nuôi bằng sữa chuẩn là
Isocal (nhóm 2) bằng:
Thay đổi chỉ số protein nội tạng (albumin,
prealbumin) sau 4,7,14 ngày thử nghiệm Tỷ lệ
suy dinh dưỡng xác định bằng giá trị tổng hợp
của protein nội tạng (albumin, prealbumin) với
lympho đếm (miễn dịch), và cholesterol (dự trữ
năng lượng)
Tái tạo máu (Hb)
2 Sự dung nạp của bệnh nhân với sữa công
thức 1, sữa công thức 2 và sữa chuẩn, Isocal
Tình trạng tiêu chảy, tình trạng tồn lưu
3.Sự an toàn của sữa pha
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng Cả bệnh
nhân và bác sĩ điều trị chỉ được biết sẽ được nuôi
/nuôi bằng 1 trong 3 loại sữa, nhưng không biết
cụ thể là loại nào Chai sữa hoàn toàn giống
nhau, màu trắng và được đánh số theo nhóm
Chỉ có nhóm pha chế mới biết công thức pha,
nhóm này không tiếp xúc với bệnh nhân và bác
sĩ điều trị
Nhóm thử nghiệm: 2 nhóm, nhóm 1: nuôi
bằng sữa công thức 1, nhóm 3: nuôi bằng sữa
công thức 2
Nhóm chứng: nhóm 2: nuôi bằng Isocal
Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn nhận
Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên đạt tiêu chuẩn
nhập ICU theo Task Force 1999(36) và APACHE
II < 25(22) Có kết quả C/T-13910 thuộc nhóm
không có men Lactase (CC) Có thể nuôi ăn
hoàn toàn bằng đường tiêu hóa với chỉ số kém
hấp thu (Phụ lục 1) 7(10) và bắt đầu nuôi ăn
tiêu hóa trong vòng 48 giờ sau nhập ICU và có
thể nuôi ăn được hơn 48 giờ Đo được chiều
dài nằm
Tiêu chuẩn loại
Có khả năng không nằm tại ICU > 24 giờ do
tử vong, xuất viện hay chuyển trại Có tiêu chảy trong vòng 24 giờ trước khi vào lô nghiên cứu Chống chỉ định nuôi bằng đường tiêu hóa (huyết
áp trung bình < 60 mm Hg, lactate > 2,5 mmol/l, kiềm dư > 2,5 mmol/l, nhịp tim > 120 lần/phút, đang dùng vận mạch liều adrenalin, noradrenalin > 5 g/phút, dopamin > 10
g/kg/phút, vasopressin > 0,01 đơn vị /phút, xuất huyết tiêu hóa ồ ạt, tắt ruột) Chấn thương sọ não nặng cần phẩu thuật Bệnh mãn tính như xơ gan Child C(7), suy thận mãn giai đoạn cuối(37), HIV, suy tim mãn(29), viêm tụy cấp hoại tử tiên lượng diễn tiến nặng, nhiễm khuẩn huyết…Có thai Quá suy dinh dưỡng BMI < 16 (vòng cánh tay < 20,5 cm) hay béo phì BMI > 30 (vòng cánh tay > 35,5 cm) Có kết quả C/T-13910 thuộc nhóm có men Lactase (CT, TT) Không lấy được máu để thực hiện xét nghiệm lần 2
Tiêu chuẩn thất bại
Sau nuôi ăn 3 giờ có tình trạng tiêu chảy được xác định bằng phương pháp Whelan và Taylor(41) (Phụ lục 2), với chỉ số đánh giá ≥ 15 (tổng số lần đi trong ngày) Ngưng tiêu chảy khi ngưng nuôi ăn và chuyển sang chế độ ăn khác
Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính bằng t test(39) Theo kết quả nghiên cứu trước(13), đạm giá trị sinh học cao giúp tăng 6% nồng độ albumin, nồng độ albumin của bệnh nhân trước khi nuôi đạm giá trị sinh học cao là 3,57 0,43 g/dl Chúng tôi kỳ vọng sữa đậu nành bổ sung sữa bột nguyên kem và probiotic cũng làm tăng nồng
độ albumin 6% hay 0,06 Effect size = 3,57 0,06 = 0,22; SD = 0,43 Standardized effect size
= Effect size/ SD= 0,22/0,43 = 0,5 Với -two-tailed = 0,05 và = 0,2 Tra bảng t ta có cỡ mẫu
là 63 người cho mỗi nhóm
Kỹ thuật chọn mẫu
Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nhận được chọn ngẫu nhiên vào 1 trong 3 nhóm nghiên cứu bằng cách bốc thăm Thùng phiếu là thùng kín, gồm
có 189 phiếu Trên phiếu có đánh số đại diện cho mỗi nhóm là nhóm 1, nhóm 2 và nhóm 3 Có 63
Trang 4phiếu cho mỗi nhóm Các phiếu được trộn đều
Nhóm nghiên cứu ở hồi sức cấp cứu sẽ hoàn
toàn không biết nội dung nuôi dưỡng của mỗi
nhóm và sẽ báo chế độ nuôi dưỡng xuống khoa
dinh dưỡng theo “số” trên phiếu đã bắt được
Tại khoa dinh dưỡng chỉ có người pha chế được
biết công thức pha cho từng nhóm
Nhu cầu nuôi dưỡng và phác đồ nuôi
dưỡng qua ống
Nhu cầu nuôi dưỡng trong ngày
Được tính bằng cân nặng lý tưởng theo công
thức Robinson(30)
Nam (kg) = 52 + [(1,9 {Chiều dài (cm)
0,39)-60}]
Nữ (kg) = 49 + [(1,7 {Chiều dài (cm)
0,39)-60}]
Vì chưa có hướng dẫn cụ thể và đầy đủ về
nhu cầu nuôi dưỡng cho bệnh nhân nặng, chúng
tôi phải tham khảo từ nhiều nguồn chủ yếu là từ
FDA 2013(14) và Dietary Reference Intakes 2009(12)
và các khuyến nghị riêng cho bệnh nhân
nặng(1,21,40,23,43,33,27)
Phác đồ nuôi dưỡng (18)
Thành phần dưỡng chất sữa pha
1500 ml của 3 công thức sữa đạt nhu cầu
khuyến nghị với thành phần acid amin nhánh
của công thức 1,2,3 lần lượt là 13,9%; 14,1%
và16,1% Chỉ số Amino acid score của công thức
1,2,3 đều cao hơn 100, lần lượt là 149; 145 và 144
Biến số thu thập
Thời gian thử nghiệm: 14 ngày
Biến số về dinh dưỡng thực hiện vào ngày 1,
4, 7, 14
Protein nội tạng
Albumin/máu(17): suy dinh dưỡng nhẹ: 3-3,49
g/dl; trung bình: 2,5-2,9 g/dl, nặng: <2,5 g/dl
Prealbumin(15): suy dinh dưỡng nhẹ: 11-15
mg/dl; trung bình: 5-10,9 mg/dl; nặng: <5 mg/dl
Chức năng
Miễn dịch: Lympho đếm/ml(34): suy dinh
dưỡng nhẹ: 1200-1599 lympho/ml; trung bình: 800-1199 lympho/ml; nặng: <800 lympho/ml
Dự trữ năng lượng: Cholesterol mg/dl(25) suy dinh dưỡng nhẹ: 140-180 mg/dl hay 3,612-4,644 mmol/l; trung bình: 100-139 mg/dl hay 2,58-3,586 mmol/l và nặng: <100 mg/dl hay < 2,58 mmol/l Tạo máu: Hb/máu(42); thiếu máu: nam < 130 g/l, nữ < 110g/l,
Đánh giá tổng hợp
Đánh giá bằng 4 thông số Cholesterol, albumin, prealbumin, lympho đếm (phụ lục 3) Cholesterol, albumin, công thức máu (lympho đếm, Hb) làm tại khoa sinh hóa bệnh viện Nhân Dân Gia Định Prealbumin/huyết thanh: thực hiện bằng kỷ thuật immuno-turbidimetric test OSR6175 của công ty Olympus Life and Material Science Europa, Germany từ 3ml máu tỉnh mạch, chống đông bằng EDTA tại công ty Melatec
Biến số về độ nặng và tình trạng viêm của bệnh nhân
Apache II, 0-4 nguy cơ tử vong 4%; 5-9 nguy
cơ tử vong 8%; 10-14 nguy cơ tử vong 8,6%;
15-19 nguy cơ tử vong 25%; 20-24 nguy cơ tử vong 40%; 25-29 nguy cơ tử vong 55%; 30-34 nguy cơ
tử vong 75%; > 34 nguy cơ tử vong 85%(22) Làm vào ngày 1
CRP (mg/l): bình thường < 10; có phản ứng
viêm 10-40; nhiễm khuẩn 40-200(9), làm vào ngày
1, 4, 7, 14
Biến số về khả năng hấp thu
Tình trạng tiêu chảy
Được xác định bằng phương pháp Whelan
và Taylor(41), với chỉ số đánh giá ≥ 15 (tổng số lần
đi trong ngày) xem là có tiêu chảy
Tình trạng tồn lưu
Dịch dạ dày trước cử ăn > 300ml hay bệnh nhân ói ra thức ăn cũ hay có sữa nằm trong ống nuôi ăn
Biến số về độ an toàn của sữa pha
Soi cấy tìm vi khuẩn trong mẫu sữa nước và sữa pha, 2 lần
Trang 5Lần 1: ngay sau pha hay vừa khui; lần 2: 3
giờ sau pha hay khui ở nhiệt độ phòng
Xử lý số liệu
Nhập liệu số liệu bằng Excel So sánh giá trị
trung bình các biến của 3 nhóm sẽ dùng test one
way ANOVA, tỷ lệ các biến sẽ dùng test 2
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Chúng tôi đã đưa 226 bệnh nhân vào lô
nghiên cứu, loại 37 bệnh nhân và còn lại 189
bệnh nhân Nhóm 1 có 72 bệnh nhân, loại 9 bệnh
nhân vì chết trước khi lấy máu lần 2 Nhóm 2 có
80 bệnh nhân, loại 17 bệnh nhân, 15 chết và 2
chuyển viện trước khi lấy máu lần 2 Nhóm 3 có
74 bệnh nhân, loại 11 bệnh nhân vì chết trước khi
lấy máu lần 2
Trong thời gian thử nghiệm, đến ngày 4 có
189 bệnh nhân Đến ngày 7 còn 130 bệnh nhân,
nhóm 1 còn 47, nhóm 2 còn 45, nhóm 3 còn 38
Đến ngày 14 còn 80 bệnh nhân, nhóm 1 còn 28,
nhóm 2 còn 28, nhóm 3 còn 24 Trên 50% bệnh
nhân không tham gia đủ 14 ngày thử nghiệm
(bảng 2) do các nguyên nhân như xuất viện hay
chuyển viện 5-6%, chuyển sang ăn miệng nên
không còn phù hợp thiết kế nghiên cứu 6-18%,
tiêu chảy 13-19%, tăng đường huyết 2% và tử
vong 32-40% (biểu đồ 1)
Cả 3 nhóm có tuổi trung bình 75-77 tuổi
(bảng 1), 39% là nam giới Phân bố giới tính nam,
nhóm 1 là 44,4%; nhóm 2 là 47,6% và nhóm 2 là
41,3% (bảng 2) Không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê về tuổi trung bình và phân bố giới của
3 nhóm
Đặc điểm bệnh lý và tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trước thử nghiệm
Độ nặng và tình trạng viêm của bệnh nhân trước thử nghiệm
APACHE trung bình của 3 nhóm từ 18-20 (bảng 1), theo tính toán nguy cơ tử vong của bệnh nhân khoảng 25-40%(22) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ tử vong chung là 39% Phân bố tử vong ở nhóm 1 là 32%, nhóm 2 là 40%, nhóm 3 là 35% (biểu đồ 1) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ số APACHE
và tỷ lệ tử vong của 3 nhóm
CRP phản ánh tình trạng viêm hay nhiễm trùng của bệnh nhân( 9 ) CRP trung bình của 3 nhóm đều nằm trong khoảng 40-200 mg/l, phản ánh tình trạng nhiễm khuẩn, nhóm 1 là 85,2±8,9 mg/l, nhóm 2 là 73,2±9,4 mg/l và nhóm 3 là 71,9±7,5 mg/l (bảng 1) Không có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê về chỉ số CRP của 3 nhóm
Tình trạng dinh dưỡng trước thử nghiệm
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm thử nghiệm về chiều dài, vòng cánh tay, prealbumin (bảng 1) Nhóm 3 suy dinh dưỡng hơn nhóm 1 và nhóm 2 khi bắt đầu thử nghiệm thể hiện bằng tỷ lệ suy dinh dưỡng, albumin huyết thanh, lympho máu và Hb Tỷ lệ suy dinh dưỡng của nhóm 3 cao hơn nhóm 1 và
2 có ý nghĩa thống kê, 63,5% so với 39,7% và 49,2% (bảng 2) Albumin huyết thanh nhóm 3 thấp hơn nhóm 1 có ý nghĩa thống kê, 25,5±0,5 g/l so với 28±0,7 g/l Lympho máu nhóm 1 cao hơn nhóm 2, 3 có ý nghĩa thống kê, 1403±144/ml
so với 1063±79/ml và 1056±93/ml Hb nhóm 3 thấp hơn nhóm 1 có ý nghĩa thống kê, 93,7±2,8 g/l so với 101,5±2,6 g/l (bảng 1)
Bảng 1 Đặc điểm 3 nhóm bệnh nhân khi bắt đầu thử nghiệm
Trang 6Chuẩn Nhóm 1 n = 63 Nhóm 2 n = 63 Nhóm 3 n = 63
Prealbumin/
Giá trị trình bày là trung bình (độ lệch chuẩn, SE) Sự khác biệt các giá trị trung bình các nhóm được tính bằng phép kiểm Oneway Anova, Post Hoc test, LSD
abc: Các cột cùng hàng có chữ khác nhau có sự khác biệt với p < 0,05
Nhóm 1: Bệnh nhân được nuôi bằng sữa
công thức 1
Nhóm 2: Bệnh nhân được nuôi bằng Isocal
Nhóm 3: Bệnh nhân được nuôi bằng sữa công thức 2
Bảng 2 Đặc điểm bệnh nhân khi bắt đầu và trong quá trình thử nghiệm
Giá trị trình bày là % (n) Sự khác biệt tỷ lệ giữa các nhóm được tính bằng phép kiểm 2
* Chẩn đoán suy dinh dưỡng nặng khi tổng điểm của 3 thông số albumin/ huyết thanh; cholesterol/huyết thanh và lympho đếm hay 3 thông số prealbumin/ huyết thanh; cholesterol/huyết thanh và lympho đếm ≥ 9
**CRP chỉ làm ngày 1 của thử nghiệm trên 61 bệnh nhân nhóm 1, 53 bệnh nhân nhóm 2 và 55 bệnh nhân nhóm 3
Nhóm 1: Bệnh nhân được nuôi bằng sữa
công thức 1
Nhóm 2: Bệnh nhân được nuôi bằng Isocal
Nhóm 3: Bệnh nhân được nuôi bằng sữa
công thức
Hiệu quả cải thiện tình trạng dinh dưỡng
của bệnh nhân được nuôi bằng sữa công
thức 1 và 2 so với bệnh nhân được nuôi
bằng chuẩn là Isocal
Lượng dưỡng chất ăn được so với nhu cầu
Mức sữa uống mỗi ngày của 3 nhóm đều
đạt khoảng 1500-1600 ml (bảng 1) 1500ml sữa
là dung tích sữa tính toán cung cấp đủ nhu
cầu khuyến nghị cả về năng lượng, đạm, sinh
tố, khoáng và vi khoáng cho bệnh nhân nặng
Lượng sữa uống của nhóm 3 có thấp hơn
nhóm 2 có ý nghĩa thống kê, 1485±36 ml so với 1597±45 ml (bảng 1)
Mức thay đổi albumin/huyết thanh sau các mốc thời gian thử nghiệm là 14 ngày:
Yohji và cộng sự(Error! Reference source not found.) chọn mức albumin huyết thanh tăng > 2g/l sau 5 tuần
là chuẩn can thiệp dinh dưỡng có hiệu quả Nghiên cứu của chúng tôi sau 2 tuần can thiệp chỉ có bệnh nhân nhóm 3 có mức tăng albumin > 2g/l là 3,7g/l và cao hơn nhóm 1 và 2 có ý nghĩa thống kê (0,5 và 1,1 g/l với p=0,006 và p=0,026), bảng 3 Và hơn 50% bệnh nhân nhóm 3 có mức tăng albumin huyết thanh đạt chuẩn can thiệp dinh dưỡng có hiệu quả và cao hơn nhóm 1, 2 có
ý nghĩa thống kê (62,5% so với 28,6% và 37%, p=0,039), biểu đồ 2B
Trang 7Nhóm 1: Bệnh nhân được nuôi bằng sữa
công thức 1
6 6 5 6 6
18 p=0,048 13 19
13
0 2 0
32
40 35
0,0
10,0
20,0
30,0
40,0
50,0
%
Xuất viện Chuyển ăn
miệng Tiêu chảy Tăng đường
huyết
Tử vong
Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3
Biểu đồ 1: Tần suất các nguyên nhân buộc ngưng
sớm trước ngày 14
Nhóm 2: Bệnh nhân được nuôi bằng Isocal
Nhóm 3: Bệnh nhân được nuôi bằng sữa
công thức 2
Biểu đồ 2: Tần suất bệnh nhân có mức ALBUMIN
tăng > 2 G/L/14 ngày
Biểu đồ 3: Tần suất bệnh nhân có mức
PREALBUMIN tăng > 4 MG/DL/7 ngày
Nhóm 1: Bệnh nhân được nuôi bằng sữa
công thức 1
Nhóm 2: Bệnh nhân được nuôi bằng Isocal
Nhóm 3: Bệnh nhân được nuôi bằng sữa
công thức 2
Fulks và cộng sự(16) đã chứng minh hàm lượng cao acid amin cần thiết có tác dụng làm tăng tổng hợp protein ở chuột Joseph và cộng
sự(13) bổ sung 3,6g gồm 9 loại acid amin thiết yếu
đã làm tăng albumin máu ở bệnh nhân lọc thận (2,6g/l so với 0,4 g/l, p=0,02) Nghiên cứu của Blackburn và cộng sự(4) là nuôi tiêu hóa với loại đạm có 25% acid amin nhánh làm tăng tổng hợp protein ở gan và cơ của chuột nhiễm trùng huyết Bệnh nhân nhóm 3 được nuôi bằng sữa công thức 2 có mức tăng albumin là 3,7g/l (bảng 4) sau 14 ngày điều trị cao hơn kết quả nghiên cứu của Joseph là 2,6g/l Như vậy sữa công thức
2 với thành phần acid min thiết yếu cao thể hiện bằng chỉ số acid amin hay acid amin score lớn hơn 100 và amin nhánh 16,1% tuy thấp hơn 25% nhưng chứng tỏ là loại thực phẩm điều trị hồi phục dinh dưỡng hiệu quả
Mức thay đổi prealbumin/huyết thanh sau các mốc thời gian thử nghiệm là 4, 7, 14 ngày
Sau ngày thứ 4 thử nghiệm, prealbumin huyết thanh của nhóm 3, nhóm được nuôi bằng sữa công thức 2, tăng cao hơn prealbumin huyết thanh của nhóm 1-nhóm được nuôi bằng sữa công thức 1và nhóm 2-Isocal, có ý nghĩa thống
kê Các giá trị lần lượt là 2,639 mg/dl; 0,743 mg/dl
và 0,026 mg/dl, p=0,018 và p=0,001, bảng 3 Sau ngày thứ 7 thử nghiệm, prealbumin huyết thanh của nhóm 3, cũng tăng cao hơn prealbumin huyết thanh của nhóm chứng-Isocal, 3,87 mg/dl
so với 0,662 mg/dl, p=0,01, bảng 3 Điều này cho thấy sữa công thức 2 có hiệu quả phục hồi dinh dưỡng cao hơn Isocal, sữa cao năng lượng kinh điển trên thị trường thế giới
Prealbumin, dấu chứng đánh giá hiệu quả can thiệp dinh dưỡng, được công nhận tại “First International Congress on Transthyretin in Health and Disease 2002”(20) Theo Casati(6), thay đổi prealbumin huyết thanh tỷ lệ thuận với cân bằng nitrogen Theo Bernstein(3), nếu prealbumin huyết thanh mỗi tuần tăng > 4mg/dl chứng tỏ cơ thể đang chuyển sang tình trạng đồng hóa và can thiệp dinh dưỡng có hiệu quả Mặc dù sau 7 ngày can thiệp, mức tăng prealbumin huyết
Trang 8thanh trung bình của cả 3 nhóm đều < 4mg/dl
Nhóm 1 tăng 2,518 mg/dl, nhóm 2-Isocal tăng
0,662 mg/dl và nhóm 3 tăng 3,87mg/dl (bảng 3)
Nhóm 3 có 42,1% bệnh nhân có mức tăng
prealbumin >4 mg/dl/tuần cao hơn nhóm 1 và 2
(34% và 22,2%, p=0,052), biểu đồ 2C Kết quả
nghiên cứu Wang(38) cũng phù hợp với nghiên
cứu của chúng tôi, sau 10 ngày nuôi ăn qua ống
thông bằng Nutrison – sản phẩm chuẩn giống
nhóm chứng, nhóm2, Isocal- mức tăng
prealbumin huyết thanh là 1mg/dl gần bằng
nhóm bệnh nhân được nuôi bằng Isocal là
0,662mg/dl Trong khi sữa nhóm 1 và 3 có mức
tăng prealbumin huyết thanh cao hơn nhiều gấp
2,5-3,9 lần (2,518 và 3,87 mg/dl)
Như vậy, tuy thay đổi prealbumin huyết
thanh trung bình mỗi tuần của 3 nhóm sữa chưa
đạt ở mức đồng hóa, gần 50% bệnh nhân được
nuôi bằng sữa nhóm 3 đạt chuẩn can thiệp dinh
dưỡng hiệu quả Nhóm 3 có kết quả phục hồi dinh dưỡng cao nhất, cao hơn nhóm chứng
Sự thay đổi giá trị tổng hợp từ điểm đánh giá protein nội tạng (albumin, prealbumin/huyết thanh), chức năng miễn dịch (lympho đếm), chức năng dự trữ năng lượng (cholesterol) sau 4,
7, 14 ngày thử nghiệm
Sau ngày 4, ngày 7, giá trị tổng hợp từ điểm của albumin, lympho, cholesterol hay albumin tổng hợp và giá trị tổng hợp từ điểm của prealbumin, lympho, cholesterol hay prealbumin tổng hợp của nhóm 3 giảm nhiều hơn so với nhóm 1 và nhóm 2, p = 0,031-0,000 (bảng 3)
Sau ngày 14 chỉ có giá trị tổng hợp từ điểm của albumin, lympho, cholesterol hay albumin tổng hợp của nhóm 3 giảm nhiều hơn so với nhóm 1 và nhóm 2, với p=0,027-0,003 (bảng 3)
Bảng 3: Thay đổi tình trạng dinh dưỡng sau quá trình thử nghiệm
Trang 9Giá trị trình bày là trung bình (độ lệch chuẩn, SE) Sự khác biệt các giá trị trung bình các nhóm được tính bằng phép kiểm Oneway Anova, Post Hoc test, LSD abc: Các cột cùng hàng có chữ khác nhau có sự khác biệt về mặt thống kê Ns: Không có ý nghĩa thống kê
Nhóm 1: Bệnh nhân được nuôi bằng sữa
công thức 1
Nhóm 2: Bệnh nhân được nuôi bằng Isocal
Nhóm 3: Bệnh nhân được nuôi bằng sữa
công thức 2
Tỷ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng đánh giá
bằng giá trị albumin tổng hợp và prealbumin
tổng hợp nhóm 1 và 3 giảm dần theo thời gian
can thiệp từ 40% xuống 13% và 64% xuống 22%
với p=0,056 và p=0,000 Tỷ lệ này không thay
đổi nhiều ở nhóm 2 từ 49% xuống 43% với
p=0,884 (biểu đồ 2A) Kết quả nghiên cứu
Dhandapani(11) trên 88 bệnh nhân chấn thương
sọ não nặng, tần suất suy dinh dưỡng tăng dần
theo thời gian dù được can thiệp dinh dưỡng
thường quy, tuần 1 là 42%, tuần 2 và 3 là
78-80% Tuy không cùng nhóm đối tượng bệnh
nghiên cứu, nhưng điều này cũng cho thấy sữa
công thức 1 và 2 là thực phẩm điều trị phục hồi
dinh dưỡng hiệu quả ở bệnh nhân nặng
Chức năng tạo máu sau 4, 7, 14 ngày thử
nghiệm
Trong thời gian thử nghiệm, có 3,2% bệnh
nhân nhóm 1 và 3 cần truyền máu Nhóm 2 có
6,3% bệnh nhân cần truyền máu (biểu đồ 3A),
nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê giữa 3 nhóm
Khi bắt đầu nghiên cứu có gần 80% bệnh
nhân cả 3 nhóm có triệu chứng thiếu máu (biểu
đồ 3B) Trong thời gian thử nghiệm, tần suất
thiếu máu của bệnh nhân nhóm 1, giảm dần
đến khoảng 40% vào ngày 14 Tần suất thiếu
máu của nhóm 2 và 3 không thay đổi so với
ban đầu Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
với p=0,000 (biểu đồ 3B) Hơn 10% bệnh nhân
nhóm 2 (11,1%) và nhóm 3 (12,7%) đã được
truyền máu, trong khi đó chỉ có 3,2% bệnh
nhân nhóm 1 phải truyền máu ngay trước khi
đưa vào nhóm thử nghiệm (biểu đồ 3A) Như
vậy, có thể có 1 tỷ lệ bệnh nhân thiếu máu ở
nhóm 2 và 3 trong ngày đầu của thử nghiệm không được phát hiện do việc truyền máu che lấp triệu chứng Ngoài ra giá trị trung bình của
Hb nhóm 1 ngày đầu thử nghiệm cũng cao hơn nhóm 3 có ý nghĩa thống kê 101,5±2,6 g/l so với 93,7±2,8 g/l (bảng 1) Điều này lý giải cho việc
tỷ lệ bệnh nhân thiếu máu của nhóm 1 giảm nhiều sau quá trình thử nghiệm so với nhóm 2
và 3
Nồng độ sắt trong sữa Isocal nuôi bệnh nhân nhóm 2 (19 mg/1500ml) cao hơn sữa công thức 2 nuôi bệnh nhân nhóm 3 (11 mg/1500ml), nhưng không có sự khác biệt trong sự thay đổi nồng độ Hb giữa nhóm 2 và nhóm 3 trong quá trình thử nghiệm Nếu không quan tâm đến tác đông của việc truyền máu, Hb của nhóm 1 cũng tăng cao hơn nhóm 2, mặc dù không có ý nghĩa thống kê (bảng 3) Như vậy phytate trong công thức sữa 1 và 2, không ảnh hưởng đến việc hấp thu sắt hay chức năng tạo máu của bệnh nhân được nuôi dưỡng bằng sữa này
Sự dung nạp của bệnh nhân với sữa công thức 1, 2 và sữa chuẩn, Isocal
Tần suất bệnh nhân bị tiêu chảy trong quá trình thử nghiệm, nhóm 1 và 3 là 12,7% thấp hơn nhóm 2 là 19% (biểu đồ 4A) Kết quả nghiên cứu cũng tương đương với kết quả nghiên cứu trên thế giới Kết quả nghiên cứu của Ronan(32)
có 14% bệnh nhân tiêu chảy, nhưng nghiên cứu của Hsiu-Hua Huang(19) có đến 23% bệnh nhân nặng tiêu chảy Có nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy khi bệnh nhân nằm ICU như kháng sinh gây loạn khuẩn ruột
Tần suất bệnh nhân bị ói và tồn lưu nhóm 1 (9,5%) và 3 (12,7%) cũng thấp hơn nhóm 2- nhóm chứng (15,9%) Tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm (biểu đồ 4B) Nghiên cứu của Hsiu-Hua Huang(19) trên 108 bệnh nhân nặng có tỷ lệ ói và tồn lưu tương đương nhóm 1 và 3 là 10,2% Như vậy sự dung nạp của sữa công thức 1 và 2
Trang 10cũng tương đương hay thậm chí tốt hơn sữa
chuẩn là Isocal
3,2 3,2
11,1
6,3
12,7
3,2
0
5
10
15
%
Nhóm can thiệp
Trước thử nghiệm
Trong thời gian thử nghiệm
Biểu đồ 4: Tần suất bệnh nhân có truyền máu trước
– trong khi thử nghiệm
1
3 2
p=0,000
0,0
20,0
40,0
60,0
80,0
100,0
%
Biểu đồ 5: Thay đổi tần suất thiếu máu theo thời
gian thử nghiệm
Nhóm 1: Bệnh nhân được nuôi bằng sữa
công thức 1
Nhóm 2: Bệnh nhân được nuôi bằng Isocal
Nhóm 3: Bệnh nhân được nuôi bằng sữa
công thức 2
Thiếu máu khi Hb < 130 mmol/l ở nam và <
110 mmol/l ở nữ
Độ an toàn sữa pha
Mẫu sữa nước Ensure (n=1), sữa bột pha
Isocal (n=5) ngay sau pha hay vừa khui không
mọc vi khuẩn
Mẫu sữa nước Ensure (n=5) sau khui và sữa
bột pha Isocal (n=5) sau pha ở nhiệt độ phòng 3
giờ không mọc vi khuẩn
Mẫu sữa công thức 2 (n=5) ngay sau pha và
ở nhiệt độ phòng 3 giờ, mọc vi khuẩn dạng Bacillus – là probiotic bổ sung vào sữa
KẾT LUẬN
Sữa đậu nành bổ sung sữa bột-probiotic dung nạp tương đương thậm chí có vẽ tốt hơn sữa chuẩn-Isocal ở bệnh nhân nặng
Bệnh nhân được nuôi bằng sữa công thức 2 được cải thiện tình trạng dinh dưỡng tốt nhất, tốt hơn nhóm chứng với gần 50% bệnh nhân đạt mức dinh dưỡng ở mức đồng hóa sau 1 tuần thử nghiệm và hơn 60% bệnh nhân đạt mức dinh dưỡng ở mức đồng hóa sau 2 tuần thử nghiệm
Sự thay đổi nồng độ Hb giữa bệnh nhân được nuôi bằng sữa công thức 1, 2 và sữa chuẩn không có sự khác biệt trong quá trình thử nghiệm Như vậy phytate trong công thức sữa 1 và 2, không ảnh hưởng đến việc hấp thu sắt hay chức năng tạo máu của bệnh nhân được nuôi dưỡng bằng sữa này
Phụ lục 1 Bảng điểm đánh giá tình trạng kém
hấp thu
Tiêu chảy (300ml/ngày, >
≥ 3 lần/tuần
Mỗi ngày
Mất cân mặc dù nuôi đủ nhu cầu (25-35kcal, 1g đạm/kg)
Crohn, hội chứng ruột kích thích, hội chứng ruột ngắn, viêm tụy, AIDS ruột,
gan
Có điều trị trong vòng 6 tháng: xạ trị tiêu hóa, cắt ruột, cắt dạ dày
Albumin/máu (g/dl) > 3 2,6-3 2,1-2,5 ≤ 2
Phụ lục 2 Bảng tính điểm whelan
< 100 100-200 > 200