Nghiên cứu nhằm xác định tình trạng dinh dưỡng và mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng trên bệnh nhân ung thư khoang miệng. Nghiên cứu cắt ngang trên 165 bệnh nhân, độ tuổi từ 18 trở lên, trong thời gian từ tháng 5 năm 2018 đến tháng 12 năm 2018.
Trang 1TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG BỆNH NHÂN UNG THƯ
KHOANG MIỆNG TẠI BỆNH VIỆN K NĂM 2018
Hoàng Việt Bách, Trần Thị Thuỷ, Ngô Quốc Duy, Nguyễn Văn Đăng, Nguyễn Thị Hồng Tiến, Đặng Thị Thu Hằng,
Dương Thị Yến, Nguyễn Đức Dịu, Lê Thị Hương
Trung tâm Dinh dưỡng lâm sàng - Bệnh viện K Nghiên cứu nhằm xác định tình trạng dinh dưỡng và mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng trên bệnh nhân ung thư khoang miệng Nghiên cứu cắt ngang trên 165 bệnh nhân, độ tuổi từ 18 trở lên, trong thời gian từ tháng 5 năm 2018 đến tháng 12 năm 2018 Kết quả cho thấy có 63,0% bệnh nhân nhập viện có nguy cơ suy dinh dưỡng (SDD) theo bộ công cụ PG-SGA, 19,4% bệnh nhân bị SDD theo thang phân loại BMI Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố như phương pháp điều trị, giai đoạn bệnh, phương pháp chuẩn bị chế độ ăn liên quan với tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân Bệnh nhân ăn qua đường miệng có nguy cơ SDD thấp hơn 9 lần so với những bệnh nhân ăn qua sonde (OR (95% CI): 8,8 (1,1 - 71,8)) Bệnh nhân ung thư khoang miệng có nguy cơ SDD cao Những bệnh nhân có tình trạng diễn biến nặng, nuôi ăn qua sonde có nguy cơ SDD cao hơn hẳn những bệnh nhân khác Cần có những can thiệp cụ thể và kịp thời để cải thiện tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân.
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ khóa: ung thư khoang miệng, tình trạng dinh dưỡng, yếu tố liên quan, bệnh viện K
Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong
chăm sóc và điều trị bệnh ung thư, góp phần
tăng hiệu quả điều trị, thời gian sống và chất
lượng cuộc sống cho bệnh nhân [1] Khoang
miệng là cửa ngõ đầu tiên của tuyến tiêu
hóa, do đó ung thư khoang miệng sẽ gây ảnh
hưởng bất lợi nghiêm trọng đến tình trạng dinh
dưỡng của bệnh nhân ung thư Các phương
pháp điều trị có thể gây ra nhiều vấn đề như
khó nuốt, khó nhai, thay đổi vị giác, viêm thực
quản,… [2; 3] Một nghiên cứu đã thống kê có
43% bệnh nhân trải qua phẫu thuật vùng đầu
cổ cần được hỗ trợ dinh dưỡng qua đường ống
sonde trong hơn 15 ngày đầu sau phẫu thuật [4] Với xạ trị, 25% bệnh nhân gặp biến chứng như mất vị giác và/hoặc khô miệng trước khi bắt đầu và tăng lên đến hơn 80% sau khi kết thúc đợt điều trị [5] Hoá trị cũng góp phần gây giảm hấp thu dinh dưỡng cho bệnh nhân, chủ yếu thông qua các cơ chế trực tiếp và gián tiếp [2; 6] Ảnh hưởng của SDD thể hiện qua các nghiên cứu, đã chỉ ra là hơn 50% bệnh nhân ung thư bị tử vong có tình trạng SDD, 20% bệnh nhân có nguyên nhân chính dẫn đến tử vong là SDD [7; 8]
Thực tế, tình trạng SDD đang trở nên phổ biến ở các bệnh nhân ung thư Với bệnh nhân ung thư nói chung, tỷ lệ SDD và giảm cân trong khoảng 20 - 80% [9] Với bệnh nhân ung thư khoang miệng, một nghiên cứu (2011) chỉ ra
là có 22,6% bệnh nhân SDD hoặc có nguy cơ SDD [10] Một nghiên cứu khác trong nước
Địa chỉ liên hệ: Hoàng Việt Bách,
Trung tâm dinh dưỡng lâm sàng - Bệnh viện K
Email: hoangvietbach90@gmail.com
Ngày nhận: 05/03/2019
Ngày được chấp nhận: 07/05/2019
Trang 2(2017) báo cáo nguy cơ SDD ở bệnh nhân ung
thư khi nhập viện là 51,7% [11] Nghiên cứu
về tình trạng dinh dưỡng ở ung thư khoang
miệng chưa nhiều, nhưng với ung thư thuộc
đường tiêu hóa như ung thư thực quản, dạ
dày thì tỷ lệ nguy cơ SDD khá cao, lần lượt
là 47,6%, 48% [12,13] Do vậy, việc đánh giá
tình trạng dinh dưỡng cho bệnh nhân cần phải
được chú trọng hơn Từ đó, tạo tiền đề cho can
thiệp dinh dưỡng góp phần làm giảm tác dụng
gây độc tế bào và các biến chứng liên quan
do tác dụng phụ của các phương pháp điều trị
[14] Tại Việt Nam những năm gần đây, không
chỉ các chuyên gia y tế mà cả người bệnh và
cộng động đều đang đặt ra nhiều quan tâm,
chú ý đến vai trò của dinh dưỡng trong chăm
sóc, điều trị bệnh ung thư nói chung và các loại
ung thư khoang miệng nói riêng Tuy nhiên,
các công trình nghiên cứu về tình trạng dinh
dưỡng, các yếu tố liên quan dành cho bệnh
nhân ung thư khoang miệng hiện còn hạn chế
Do đó nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu:
1 Xác định tình trạng dinh dưỡng của bệnh
nhân ung thư khoang miệng lúc nhập viện
2 Mô tả các yếu tố liên quan của bệnh nhân
ung thư khoang miệng tại thời điểm nhập viện
tại Bệnh viện K
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên Được chẩn
đoán xác định là ung thư khoang miệng ở bệnh
viện K Bệnh nhân đang được điều trị phẫu
thuật, hóa chất, xạ trị tại Bệnh viện K Bệnh
nhân đồng ý tham gia nghiên cứu và có hồ sơ
đầy đủ
2 Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
Thời gian nghiên cứu: 5/2018 – 12/2018
Chọn mẫu và cỡ mẫu:
Cỡ mẫu được tính theo công thức cỡ mẫu
cho việc ước tính một tỷ lệ trong quần thể:
n z1 p(1 p) ( p)
2
2
2
-f
-a
Trong đó:
n: là cỡ mẫu nghiên cứu p: tỷ lệ bệnh nhân ung thư có nguy cơ bị suy dinh dưỡng theo PG-SGA, lấy từ nghiên cứu trước p = 0,711 [15]
ε: giá trị tương đối = 0,1 α: mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 0,05 Khi
đó,z1- a2 = 1,96
Thay vào công thức tính được cỡ mẫu của nghiên cứu là n = 156, để làm tròn nhóm nghiên cứu quyết định lấy cỡ mẫu cuối cùng
là 160 bệnh nhân
Chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện được
165 bệnh nhân ung thư khoang miệng điều trị phẫu thuật, hóa chất, xạ trị thỏa mãn tiêu chuẩn lựa nêu trên trong thời gian nghiên cứu
Chỉ số, biến số nghiên cứu:
Bệnh nhân nhập viện được thu thập thông tin đối tượng nghiên cứu theo bộ công cụ :
- Biến số: thông tin chung về đối tượng (tuổi, giới, nghề nghiệp), chỉ số nhân trắc, một số kết quả xét nghiệm huyết học, hóa sinh
- Chỉ số: tình trạng dinh dưỡng (PG-SGA, BMI)
Quy trình tiến hành nghiên cứu:
Bệnh nhân nhập viện đủ tiêu chuẩn, được lựa chọn tham gia nghiên cứu:
- Phỏng vấn thu thập thông tin của đối tượng nghiên cứu và kết hợp với quan sát để phân loại bảng kiểm nguy cơ dinh dưỡng theo PG-SGA (Patient-generated subjective global assessment: Đánh giá tổng thể chủ quan)
- Đo các chỉ số nhân trắc
- Thống kê kết quả xét nghiệm công thức máu và sinh hoá theo bệnh án để đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo chỉ tiêu hoá sinh
Trang 3và huyết học.
3 Xử lý số liệu
Số liệu được mã hoá, xử lý và phân tích
bằng phần mềm STATA 12.0
Các thuật toán thống kê:
- Mô tả: Trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị
max, min, CI 95%
- Kiểm định so sánh:
+ Đối với biến định tính sử dụng test |2, ý
nghĩa thống kê với p < 0,05 Trong trường hợp
mẫu nhỏ hơn 5 thì sử dụng test |2 có hiệu
chỉnh Fisher
+ T-Student để so sánh trung bình (p <
0,05)
4 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã có sự đồng ý Hội đồng đạo
đức trong nghiên cứu y sinh học của Bệnh
viện K Đối tượng nghiên cứu được giải thích
rõ ràng về mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu
và tự nguyện tham gia nghiên cứu Các thông
tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích
nghiên cứu
III KẾT QUẢ
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu
là 54 (nam là 56 và nữ là 49), trong đó nhóm dưới 39 tuổi chiếm 13,9%, nhóm 40 - 59 tuổi chiếm 61,2% và nhóm trên 60 tuổi chiếm 24,9% Phân bố giới của đối tượng nghiên cứu không đồng đều, nam chiếm 72,1% (119 người), nữ chiếm 27,9% (46 người) Bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu đến từ 3 khoa, tương ứng với phương pháp điều trị hiện tại là Ngoại A - phẫu thuật (22 bệnh nhân), Xạ 1 - xạ trị (67 bệnh nhân) và Nội 2- hóa trị (76 bệnh nhân) Có 58,8% bệnh nhân có trình độ học vấn dưới THPT, theo sau là 29,7% có trình
độ THPT và 11,5% có trình độ trên THPT
Đa phần bệnh nhân có nghề nghiệp là nông dân (44,2%) theo sau là cán bộ, viên chức, nhân viên văn phòng (16,9%), cuối cùng là nghề nghiệp tự do (10,9%) và các nghề khác (28,0%) Hầu hết các bệnh nhân ở khu vực nông thôn (78,8%) và 21,2% sống ở khu vực thành thị (Bảng 1)
Bảng 1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Thông tin chung
Tần số (Tỷ lệ) Chung
n (%)
Nam
n (%)
Nữ
n (%)
Tuổi
Khoa
Trang 4Thông tin chung
Tần số (Tỷ lệ) Chung
n (%)
Nam
n (%)
Nữ
n (%)
Trình độ
học vấn
Nghề nghiệp
Xếp loại kinh
tế gia đình
Bảng 2 Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
Chung
n (%)
Nam
n (%)
Nữ
n (%)
Loại ung thư
Ung thư niêm mạc
Ung thư tuyến nước
Giai đoạn ung thư
Trang 5Đặc điểm
Tần số (Tỷ lệ) Chung
n (%)
Nam
n (%)
Nữ
n (%)
PG-SGA
BMI
Tình trạng nuôi dưỡng
hiện tại
Phương pháp chuẩn bị
chế độ ăn
Theo phân loại của bộ công cụ đánh giá
tình trạng dinh dưỡng PG-SGA, đa số bệnh
nhân có nguy cơ SDD (63,0%) trong đó 37,6%
có nguy cơ SDD nhẹ và vừa, 25,4% có nguy
cơ SDD nặng, chỉ có 37,0% không có nguy cơ
SDD Có 19,4% đối tượng nghiên cứu bị thiếu
cân theo phân loại của BMI, 75,8% ở mức cân
nặng theo tiêu chuẩn và 4,8% thừa cân Hầu
hết tất cả các đối tượng nghiên cứu đều ăn
qua đường miệng (91,5%), chỉ có một số ít
đang ăn qua sonde (8,5%) Trong đó đa phần
bệnh nhân tự nấu hoặc tự mua đồ ăn cho
mình (89,1%), chỉ 7,9% bệnh nhân sử dụng
chế độ ăn bệnh viện và 3,0% ăn cơm cháo từ
thiện của bệnh viện Đa phần bệnh nhân phát
hiện ở giai đoạn muộn (52,3%), tiếp theo sau
là giai đoạn III (25,2%), giai đoạn II (11,6%) và
I (10,9%) Loại ung thư phổ biến nhất là ung thư vòm miệng (64,2%), theo sau bởi các loại ung thư khác gồm lưỡi (23,6%), sàn miệng (6,1%), lợi (3,6%), niêm mạc miệng (0,6%), môi (0,6%) (Bảng 2)
Cân nặng, chiều cao trung bình của đối tượng nghiên cứu là 54,3 ± 8,3 kg và 162,6 ± 7,3 cm, trong đó nam là gần 55,8 ± 7,9 kg và 165,5 ± 5,5 cm, nữ là 50,2 ± 7,7 kg và 155,1 ± 6,1 cm Bệnh nhân có huyết sắc tố trung bình trong giới hạn bình thường Đường huyết trung bình trong giới hạn bình thường (5,2
± 1,7) mmol/L Chức năng gan, thận của đối tượng nghiên cứu ở trong mức thông thường (Bảng 3)
Trang 6Bảng 3 Đặc điểm nhân trắc và cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
Bảng 4 Mối liên quan giữa một số yếu tố với tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân theo
thang phân loại PG-SGA
Thông tin chung
PG-SGA
Tuổi
≥ 60 41 0,7 (0,2 - 2,5) 32 0,6 (0,1 - 3,2) 9 0,7 (0,7 - 6,8)
Khoa
Ngoại A
Nghề
nghiệp
Cán bộ
Khác 46 2,5 (0,9 - 7,1) 37 2,9 (0,8 - 10,1) 9 1,4 (0,2 - 10,2)
Trang 7Thông tin chung
PG-SGA
Khác 35 0,6 (0,3 - 1,6) 25 0,8 (0,3 - 0,5) 10 0,3 (0,0 - 1,9)
Giai đoạn
bệnh
Tình
trạng
nuôi
dưỡng
hiện tại
-Đường tĩnh
-Phương
pháp
chuẩn
bị chế
độ dinh
dưỡng
-(*) Mô hình kiểm soát các biến nghề nghiệp, giới tính, giai đoạn bệnh và đường nuôi dưỡng PG-SGA mức độ A: không có nguy cơ suy dinh dưỡng, mức độ B hoặc C: có nguy cơ suy dinh dưỡng.
Theo phân loại về tình trạng dinh dưỡng
dựa trên bộ công cụ PG-SGA, nghiên cứu
chia bệnh nhân ra làm hai nhóm: nhóm có
nguy cơ SDD (PG-SGA ở mức A) và nhóm có
nguy cơ SDD (PG-SGA ở mức B và C) Trong
mô hình hồi quy Logistic đã kiểm soát các
biến gây nhiễu gồm nghề nghiệp, giới tính,
giai đoạn bệnh và đường nuôi dưỡng, mối
liên quan giữa nguy cơ SDD của người bệnh
với các yếu tố về tuổi, giới, dân tộc, phương
pháp điều trị, trình độ học vấn, nghề nghiệp,
nơi ở, xếp loại kinh tế gia đình, giai đoạn bệnh
và phương pháp chuẩn bị chế độ ăn là không
có ý nghĩa thồng kê (P > 0,05) Trong khi đó
có mối tương quan ý nghĩa ở yếu tố tình trạng
nuôi dưỡng hiện tại, những bệnh nhân ăn qua
đường miệng có nguy cơ SDD thấp hơn gần 9
lần so với những bệnh nhân có tình trạng diễn
biến nặng, ăn qua sonde
IV BÀN LUẬN
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu
là 54, phân bố theo giới không đồng đều giữa nam (72,1%) và nữ (27,9%) Ba loại ung thư phổ biến nhất trong ung thư khoang miệng gặp
ở đối tượng nghiên cứu là ung thư vòm miệng (62,2%), ung thư lưỡi (23,6%) và ung thư sàn miệng (6,1%) Hầu hết bệnh nhân phát hiện ở giai đoạn muộn (52,4% ở giai đoạn IV, 25,2% ở giai đoạn III) và có nguy cơ SDD (63,0%) theo thang đánh giá PG-SGA, có 19,4% bệnh nhân
bị thiếu cân theo phân loại BMI Đa phần các bệnh nhân vẫn tự ăn qua đường miệng (91,5%)
và tự chuẩn bị đồ ăn cho mình (89,1%) Về các chỉ số nhân trắc học và cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu trong giới hạn bình thường
Trang 8Những bệnh nhân ăn qua đường miệng có
nguy cơ SDD thấp hơn gần 9 lần so với những
bệnh nhân nặng, nuôi ăn qua sonde
Kết quả về tình trạng SDD của nghiên
cứu tương đồng với một số nghiên cứu khác
ở trong nước Nghiên cứu của Nguyễn Thuỳ
Linh và CS (2017) cũng báo cáo số lượng
bệnh nhân bị SDD là 21,8% [11] Nguyễn
Thanh Hoà và CS (2018) còn báo cáo những
con số cao hơn là 47,6% và 60,7% trước và
sau khi phẫu thuật [12] So sánh về nguy cơ
SDD với các loại ung thư khác, nguy cơ SDD
của bệnh nhân ung thư khoang miệng trong
nghiên cứu này là 63,03% cao hơn các nghiên
cứu khác báo cáo là 51,7%, 48% [11; 13] Kết
quả nghiên cứu cũng tương đồng với một số
các nghiên cứu trên thế giới Một nghiên cứu
được thực hiện tại Khoa Phẫu thuật Đầu Mắt
của Bệnh viện Đại học Granada Virgen de las
Nieves có 22,6% bệnh nhân bị SDD hoặc có
nguy cơ SDD [4] Nghiên cứu tại Tây Ban Nha
trên 99 bệnh nhân ung thư hốc miệng theo chỉ
số BMI cho thấy những thay đổi về tình trạng
dinh dưỡng từ ban đầu và khi kết thúc điều trị:
SDD ban đầu trung bình là 1% và cuối cùng là
15%, ban đầu béo phì 14% và 8% cuối cùng
[15] Điều này có thể giải thích do khoang
miệng là bộ phận đầu tiên của tuyến tiêu hoá,
những vấn đề hoặc can thiệp tại đây sẽ làm
ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng ăn uống và
hấp thu của người bệnh
Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu
không phát hiện thấy mối liên quan giữa nguy
cơ SDD với một số các yếu tố kinh tế xã hội của
bệnh nhân như tuổi, giới, nơi ở, nghề nghiệp
Các yếu tố liên quan tới bệnh tật như phương
pháp điều trị, giai đoạn bệnh nghiên cứu cũng
không nhìn thấy mối liên quan tới nguy cơ SDD
của bệnh nhân Điều này có thể giải thích được
một phần do cỡ mẫu nghiên cứu còn nhỏ, các
nhóm chia còn phân tán làm cho các kết quả
không có ý nghĩa thống kê Trong nghiên cứu, nhóm nghiên cứu nhận thấy mối tương quan
có ý nghĩa giữa phương pháp nuôi dưỡng và nguy cơ SDD của người bệnh Những bệnh nhân ăn qua miệng có nguy cơ SDD thấp hơn gần 9 lần so với những bệnh nhân nuôi ăn qua sonde [OR (95%CI): 8,8 (1,1 - 71,8)] Kết quả này phù hợp với thực tế chăm sóc lâm sàng Những bệnh nhân ung thư khoang miệng, nuôi dưỡng qua đường miệng chủ yếu là những bệnh nhân có tình trạng nhai, nuốt tốt, thức ăn được vận chuyển và hấp thu theo con đường sinh lý Bởi vậy mà tình trạng SDD phản ánh chưa rõ rệt Trong khi đó, những bệnh nhân nuôi dưỡng qua sonde không những thuộc nhóm bệnh nhân có những tổn thương nghiêm trọng ở vùng khoang miệng (sau các can thiệp phẫu thuật và xạ trị) dẫn tới việc khó khăn trong việc nhai nuốt thông thường, mà còn chưa được can thiệp tư vấn dinh dưỡng, chưa
sử dụng các sản phẩm chuyên biệt cho ống sonde nên phần lớn có nguy cơ SDD Chủ yếu người nhà bệnh nhân tự chăm sóc và sử dụng các sản phẩm có sẵn như cháo, sữa với chất lượng không được đảm bảo, cách thức nấu cháo cổ truyền của Việt Nam khiến nhiều chất dinh dưỡng bị mất đi và năng lượng khẩu phần không được đảm bảo, thực phẩm không được
đa dạng khi so sánh với nuôi ăn qua đường miệng thông thường dẫn tới việc thiếu hụt các
vi chất thiết yếu Điều này làm gia tăng nguy cơ suy dinh dưỡng sâu sắc cho những bệnh nhân nuôi dưỡng qua sonde [3]
Bên cạnh một số ưu điểm, nghiên cứu còn một số mặt hạn chế cần được khắc phục Thứ nhất cỡ mẫu nghiên cứu còn ít, số liệu còn phân tán, điều này khiến cho việc phân tích
số liệu gặp nhiều khó khăn Một số các chỉ
số cận lâm sàng rất quan trọng phản ánh tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân như chỉ số albumin, prealbumin không thống kê được
Trang 9trong hồ sơ bệnh án của người bệnh Nghiên
cứu cũng chưa điều tra, định lượng được
khẩu phần ăn thông thường để liên hệ với
tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên
cứu Các yếu tố liên quan đến tình trạng dinh
dưỡng như việc mất cân, cảm giác chán ăn
hay các triệu chứng liên quan tới tiêu hoá
cũng chưa được phân tích trong nghiên cứu
Đây là một nghiên cứu tiền đề, mô tả sơ
lược tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân
ung thư khoang miệng tại bệnh viện K Những
nghiên cứu tiếp sau cần chú trọng tập trung
vào điều tra khẩu phần ăn của người bệnh,
các thói quen ăn uống, chăm sóc, các vấn đề
liên quan đến dinh dưỡng bệnh nhân gặp phải
và triển khai các nghiên cứu can thiệp trên
bệnh nhân
V KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ bệnh nhân ung
thư khoang miệng có nguy cơ SDD lúc nhập
viện là rất cao, chiếm 63,0%; những bệnh
nhân ăn qua đường miệng có nguy cơ SDD
thấp hơn 9 lần so với những bệnh nhân ăn
qua sonde Nguy cơ SDD ở những bệnh
nhân nặng, nuôi ăn qua sonde đang ở tình
trạng đáng báo động, do vậy cần can thiệp,
tư vấn chế độ dinh dưỡng kịp thời, phù hợp
để cải thiện tình trạng dinh dưỡng của bệnh
nhân ung thư khoang miệng
LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Bệnh
viện K đã tạo điều kiện trong suốt quá trình
tiến hành nghiên cứu Chúng tôi cũng xin gửi
lời cảm ơn tới các bệnh nhân điều trị nội trú
tại bệnh viện đã kiên trì, không ngại mệt mỏi
giúp đỡ chúng tôi hoàn thành nghiên cứu
này
Chúng tôi cam kết không có xung đột lợi
ích từ nghiên cứu này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Menon K.C (2014) Optimizing nutrition
support in cancer care Asian Pac J Cancer Prev, 15(6), 2933 - 2934.
2 Nguyễn Bá Đức (2007) Chẩn đoán và
điều trị bệnh ung thư Nhà xuất bản Y học, Hà Nội
3 Jager-Wittenaar H, Dijkstra PU, Vissink A, et al (2011) Changes in nutritional
status and dietary intake during and after head
and neck cancer treatment Head & Neck, 33,
863-870
4 Elting LS, Keefe DM, Sonis ST,
et al (2008) Burden of Illness Head and
Neck Writing Committee Patient reported measurements of oral mucositis in head and neck cancer patients treated with radiotherapy with or without chemotherapy: Demonstration
of increased frequency, severity, resistance to
palliation, and impact on quality of life Cancer
113, 2704-2713.
5 Duren DL, Sherwood RJ, Czerwinski
SA, et al (2008) Body Composition Methods:
Comparisons and Interpretation Journal of diabetes science and technology (Online)
2(6), 1139-1146.
6 Isenring E, Bauer J, Capra S (2003) The
scored Patient-Generated Subjective Global Assessment (PG-SGA) and its association with quality of life in ambulatory patients receiving
radiotherapy European Journal of Clinical Nutrition 57, 305-309.
7 Capra S, Bauer J, Davidson W, et al (2002) Nutritional therapy for cancer-induced
weight loss Nutr Clin Pract, 17, 210 - 213.
8 Ottery FD (1994) Cancer cachexia:
prevention, early diagnosis, and management
Cancer Pract, 2, 123-131.
9 N khoshnevis, F Ahmadizar, M Alizadeh, et al (2012) Nutritional assessment
ofcancer patients in Tehran , Iran, Asian Pacific
Trang 10Summary NUTRITIONAL STATUS OF PATIENTS WITH ORAL CAVITY CANCER AT VIETNAM NATIONAL CANCER HOSPITAL IN 2018
This study aimed to determine nutritional status and described some of the factors related to nutritional status in patients with cancer of the oral cavity This was a cross-sectional study on
165 patients, aged 18 and older, during the period from May 2018 to December 2018 Showed that 63,0% of hospitalized patients were at risk of malnutrition according to PG-SGA and 19,4%
of hospitalized patients were malnourished according to BMI The association between treatment, stage of disease, the method of preparing the diet and the nutritional status of patients was not statistically significant Patients who tolerated PO intake had a risk of malnutrition 9 times lower than those who required a gastric tube for feeding (OR (95% CI): 8,8 (1,1-71,8)) Patients with oral cavity cancer have a high risk of malnutrition Patients with severe progression, who feed by gastric tube, have a higher risk of malnutrition than other patients Therefore, specific and timely interventions are needed to improve the nutritional status of these patients
Keywords: oral cavity cancer, nutritional status, related factors, national cancer hospital.
Journal of Cancer Prevention, Vol 12, 13, 1621
- 1629
10 Planas M., Fernández-Ortega
J.F and Abilés J (2011) Guidelines for
specialized nutritional and metabolic support
in the critically-ill patient: update: consensus
SEMICYUC-SENPE: oncohematological
patient Nutr Hosp, 26(2), 50 - 53.
11 Nguyễn Thùy Linh, Dương Thị
Phượng, Lê Thị Hương và cộng sự (2017)
Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư
tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội Dinh dưỡng và
thực phẩm 13(4), 8 – 15
12 Nguyễn Thị Thanh Hoà (2018) Tình
trạng nuôi dưỡng và chế độ nuôi dưỡng của
bệnh nhân ung thư thực quản tại khoa ngoại
bụng, bệnh viện K cơ sở Tân Triều năm 2017 - 2018
13 Trịnh Hồng Sơn, Nguyễn Bá Anh, Lê Minh Hương và cộng sự (2013) Đánh giá
tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân trước mổ
ung thư dạ dày Y học thực hành, 10, 5
14 WHO - GLOBOCAN 2012: Estimate
cancer incidence, mortality and prevalence
worldwide in 2012 http://globocan.iarc.fr/ Pages/fact_sheets_population.aspx.
15 Hopanci BD, Ozkaya A, Meseri DR,
et al (2017) The Effects of Compliance with
Nutritional Counselling on Body Composition Parameters in Head and Neck Cancer Patients
under Radiotherapy J Nutr Metab, 8(63), 19 -
45