1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tác dụng của chế phẩm từ nghệ đen (viên Vị an) trên các thực nghiệm gây loét dạ dày

8 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 319,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác dụng bảo vệ dạ dày của nghệ vàng và hợp chất chính là curcumin đã được chứng minh trên lâm sàng trong việc cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân bị loét dạ dày. Nghệ đen (Curcuma zedoaria), một dược liệu thuộc họ Gừng, đã được sử dụng phổ biến trong y học dân gian. Mục đích của đề tài là khảo sát tác dụng của chế phẩm từ nghệ đen (gọi tắt là viên Vị an) trên các bệnh cảnh gây loét dạ dày thực nghiệm.

Trang 1

KHẢO SÁT TÁC DỤNG CỦA CHẾ PHẨM TỪ NGHỆ ĐEN

(VIÊN VỊ AN) TRÊN CÁC THỰC NGHIỆM GÂY LOÉT DẠ DÀY

Nguyễn Thị Thu Hương*, Chung Thị Mỹ Duyên*, Trần Mỹ Tiên*

TÓM TẮT

Tình hình chung và mục tiêu nghiên cứu: Theo điều tra của Hội Khoa học Tiêu hóa Việt Nam, 70% người

Việt có nguy cơ bị đau dạ dày và viêm loét dạ dày chiếm khoảng 26% các bệnh ở đường tiêu hóa Tác dụng bảo vệ

dạ dày của nghệ vàng và hợp chất chính là curcumin đã được chứng minh trên lâm sàng trong việc cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân bị loét dạ dày Nghệ đen (Curcuma zedoaria), một dược liệu thuộc họ Gừng, đã được

sử dụng phổ biến trong y học dân gian Mục đích của đề tài là khảo sát tác dụng của chế phẩm từ nghệ đen (gọi

tắt là viên Vị an) trên các bệnh cảnh gây loét dạ dày thực nghiệm

Phương pháp nghiên cứu: Các tổn thương đại thể và vi thể dạ dày, chỉ số loét và hàm lượng

malondialdehyd (MDA) và glutathion (GSH) trong dịch đồng thể niêm mạc dạ dày được đánh giá trên các thực nghiệm gây viêm loét dạ dày ở chuột nhắt trắng chủng Swiss albino bằng rượu, stress bất động lạnh hay bằng aspirin Hoạt tính kháng Helicobacter pylori in vitro được thực hiện trên các chủng vi khuẩn được phân lập từ bệnh phẩm bệnh nhân bị loét dạ dày

Kết quả: Viên Vị an (liều 2 viên/kg) làm giảm chỉ số loét dạ dày đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng bệnh lý

Viên Vị an liều 1 viên/kg thể hiện tác dụng hiệp lực với omeprazol và ranitidin trong thực nghiệm gây loét dạ dày bằng stress bất động lạnh hay bằng aspirin Khảo sát mô học thành dạ dày chuột được cho uống viên Vị an cho thấy có sự giảm tổn thương xuất huyết và làm tăng tiết chất nhầy bảo vệ niêm mạc.Ngoài raviên Vị an làm giảm hàm lượng MDA và tăng hàm lượng GSH trong dịch đồng thể dạ dày, đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng bệnh

lý Viên Vị an thể hiện hoạt tính kháng Helicobacter pylori in vitro với MIC là 0,25 g/ml

Kết luận: Viên Vị an, một chế phẩm từ nghệ đen, có tác dụng bảo vệ dạ dày trước các tổn thương loét thực

nghiệm

Từ khóa: Nghệ đen Curcuma zedoaria, Viên Vị an, tác dụng bảo vệ dạ dày, chỉ số loét, malondialdehyd,

glutathion

ABSTRACT

STUDY ON THE GASTROPROTECTIVE EFFECT OF A PREPARATION FROM CURCUMA

ZEDOARIA (“VI AN” CAPSULES) ON GASTRIC ULCER MODELS

Nguyen Thi Thu Huong, Chung Thi My Duyen, Tran My Tien

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - No 6 - 2016:102 - 109 Background and Aims: According the survey of Vietnamese Intestinal Association, 70% Vietnamese people

have subjected the incidence of gastric pain and gastric ulcer rate is approximate 26% in gastrointestinal diseases The gastro protective potentials of Curcuma longa and its main component curcumin might protect patients from gastrointestinal ulcer thereby improving the quality of life for patients Curcumazedoaria is a medicinal plant from the Zingiberaceae family, which is widely used as folk medicine The aim of the present study is to investigate the gastro protective activity of “Vi an” capsules contained Curcuma zedoaria, honey and turmeric essential oil, against gastric ulcers in mice

Methods: To determine the gastro protective effect of “Vi an” capsules, gross and histological gastric lesions,

* Trung tâm Sâm và Dược liệu TP.HCM

Trang 2

ulcer index, and the contents of malondialdehyde (MDA) or glutathione (GSH) in gastric mucosal homogenate were evaluated in gastric ulcer models induced by ethanol, cold-restraint stressor aspirin in Swiss albino mice The anti-Helicobacter pylori activity was in vitro evaluated by using bacterial species isolated from samplings of gastric ulcer patients

Results: The oral administration of “Vi an” capsules at a dose of 2 capsules/kg remarkably attenuated ulcer

index in mice subjected to gastric ulcer models “Vi an” capsules at a dose of 1 capsules/kg provided the synergistic effect with omeprazole or ranitidine on gastric lesions induced by cold-restraint stress or aspirin administration Histological assessment of gastric walls obtained from mice treated with “Vi an” capsules demonstrated a decrease in hemorrhagic mucosal lesions and stimulating the secretion of mucus Further examination of gastric mucosal homogenate revealed significant reduction of MDA and elevation in GSH level in

“Vi an” capsules-treated group as compared to the lesion control group “Vi an” capsules exhibited the anti-Helicobacter pylori activity with MIC as 0.25 g/ml

Conclusion: Taken together, these findings confirmed the gastro protective effect of “Vi an” capsules, a

preparation from Curcuma zedoaria, against experimental gastric damage.

Keywords: Curcuma zedoaria,“Vi an” capsules, gastroprotective effect, ulcer index, malondialdehyde,

glutathione

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo điều tra của Hội Khoa học Tiêu hóa

Việt Nam, 70% người Việt có nguy cơ bị đau dạ

dày và viêm loét dạ dày chiếm khoảng 26% các

bệnh ở đường tiêu hóa, gây ảnh hưởng lớn đến

chất lượng sống Loét dạ dày do lạm dụng rượu,

sử dụng không hợp lý các thuốc giảm đau hay

do stress tâm lý rất phổ biến Các thuốc điều trị

bệnh loét dạ dày như thuốc kháng acid (nhôm

hydroxid, magnesi hydroxid), thuốc kháng thụ

thể H2 (cimetidin, ranitidin), thuốc ức chế bơm

proton (omeprazol) hay thuốc bảo vệ niêm mạc

(bismuth, sucralfat) khi sử dụng dài ngày đều

gây ít nhiều tác dụng phụ Do đó các liệu pháp

hỗ trợ điều trị từ dược liệu hay các bài thuốc y

học dân gian đang được các nhà nghiên cứu

quan tâm

Trong dân gian củ nghệ thường được sử

dụng trong việc chữa các bệnh về dạ dày Nghệ

vàng (Curcuma longa) có tác dụng chống viêm,

làm lành vết loét dạ dày, giảm tiết dịch vị và nhờ

tinh dầu nghệ có tính kiềm nên giúp làm giảm

độ acid của dịch vị(3,6,7) Dân gian hay dùng

chung nghệ vàng với mật ong với tính năng

kháng khuẩn, giảm kích ứng niêm mạc, giảm độ

acid của dịch vị và tạo vị dễ uống Nghệ đen

(Curcuma zedoaria, Curcuma alba, thuộc họ gừng

Zingiberaceae) được trồng phổ biến ở miền Bắc

Về hình dáng, củ nghệ đen rất giống nghệ vàng nhưng có màu tím đậm, chứa rất nhiều tinh dầu Theo y học cổ truyền, nghệ đen có vị đắng, tính cay, mùi hăng, tính ấm, tác dụng hành khí, thông huyết, tiêu thực, mạnh Tỳ, kích thích tiêu hóa, tiêu viêm, tiêu xơ Nghệ đen đã được các nhà khoa học Ấn Độ chứng minh có tác dụng kháng viêm loét dạ dày thực nghiệm(8), tuy nhiên, ở nước ta chưa có nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh, chủ yếu sử dụng nghệ đen theo kinh nghiệm dân gian Do đó, mục đích của đề tài là khảo sát tác dụng của chế phẩm từ nghệ đen (viên thực phẩm chức năng Vị an, gọi tắt là viên Vị an) phối hợp từ nghệ đen, mật ong và tinh dầu nghệ trên các bệnh cảnh gây loét dạ dày thực nghiệm ở chuột nhắt trắng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Viên Vị an được cung cấp bởi Công ty TNHH Giai Cảnh, đóng gói hộp 30 viên nang Thành phần trong mỗi viên gồm: Nghệ đen (150 mg), Mật ong (100 mg) và tinh dầu nghệ (30 mg) Viên được tháo bỏ vỏ nang và bột viên được hòa trong nước cất Các liều thử nghiệm được quy theo số lượng viên uống/kg trọng lượng chuột

Trang 3

Động vật nghiên cứu

Chuột nhắt trắng đực (chủng Swiss albino,

trọng lượng trung bình 25 g ± 2 g) được cung cấp

bởi Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế Nha Trang

và được để ổn định 1 tuần trước thực nghiệm

Chuột được nuôi bằng thực phẩm viên được

cung cấp bởi Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế

Nha Trang và nước uống đầy đủ Thể tích cho

uống mẫu thử hoặc tiêm phúc mạc là 10 ml/kg

thể trọng chuột Thời điểm cho chuột uống hay

tiêm trong khoảng 8–9 giờ sáng

Thuốc đối chiếu

Aspirin (bột nguyên liệu) được cung cấp bởi

Công ty Cổ phần Dược phẩm DOMESCO

Zantac® 150 mg: viên nén chứa ranitidin 150

mg/viên, được sản xuất bởi GlaxoSmithKline

Losec®: viên nang chứa omeprazol 20 mg/viên,

được sản xuất bởi AstraZeneca, Thụy Điển

Phương pháp nghiên cứuin vivo

Bố trí thí nghiệm

Các thực nghiệm gây loét dạ dày bằng

ethanol 60% (pha trong 0,3 M HCl), stress bất

động lạnh hay thuốc aspirin được thực hiện trên

chuột được để nhịn đói 24 giờ Viên Vị an được

cho uống riêng lẻ (liều 2 viên/kg) hay được cho

uống phối hợp (liều 1 viên/kg) với các thuốc điều

trị loét dạ dày như omeprazol (liều 20 mg/kg) và

ranitidin (liều 100 mg/kg)

Viên Vị an được cho uống theo phác đồ dự

phòng trước 7 ngày Một giờ sau lần uống cuối

cùng, chuột được gây loét dạ dày bằng ethanol

60%/HCl 0,3M, tiến hành mổ lấy dạ dày sau 2

giờ để đánh giá đại thể, vi thể và xác định hàm

lượng malondialdehyd (MDA) và glutathion

(GSH) trong dịch đồng thể dạ dày

Thực nghiệm loét dạ dày bởi stress bất động

lạnh (2,1)

Viên Vị an được cho uống theo phác đồ dự

phòng trước 7 ngày Một giờ sau lần uống cuối

cùng, chuột được giữ cố định trong hộp có nhiệt

độ lạnh 80C trong 2 giờ Tiến hành mổ lấy dạ dày

để đánh giá đại thể, vi thể và xác định hàm lượng MDA và GSH trong dịch đồng thể dạ dày

Chuột được cho nhịn đói 24 giờ trước khi cho uống thuốc aspirin liều 300 mg/kg (pha trong 1% carboxymethylcellulose) mỗi ngày và liên tục trong 6 ngày Viên Vị an liều uống 2 viên/kg hay các thuốc đối chiếu omeprazol (liều

20 mg/kg) và ranitidin (liều 100 mg/kg) được cho uống vào thời điểm 2 giờ sau khi gây loét bằng aspirin Vào ngày thứ 6, 4 giờ sau liều uống cuối cùng của aspirin và 2 giờ sau các liều uống của viên Vị an hay thuốc đối chiếu, tiến hành mổ dạ dày để đánh giá đại thể, vi thể và xác định hàm lượng MDA và GSH trong dịch đồng thể dạ dày

Quan sát đại thể và vi thể

Sử dụng kính lúp có đường kính 80 mm, độ phóng đại 5X để đánh giá điểm số loét dựa trên thang điểm của Dekanski và cộng sự(2) như sau:

0 = không tổn thương; 1= điểm phù trắng, bóng sáng; 2 = điểm tổn thương (xuất huyết) nhỏ; 3 = 1 đến 5 điểm tổn thương nhỏ hoặc vùng loét nhỏ hơn 2 mm; 4 = nhiều hơn 5 điểm tổn thương nhỏ hoặc vùng loét nhỏ hơn 2 mm; 5 = 1 đến 3 vùng loét xuất huyết lớn hơn 2 mm (không quá 2/3 diện tích dạ dày) và 6 = nhiều hơn 3 vùng loét xuất huyết lớn hơn 2 mm (gần như toàn bộ bề mặt dạ dày) Xác định chỉ số loét (ulcer index, UI) theo công thức: UI = Tổng số điểm loét/số chuột bị loét

Mẫu dạ dày được cố định trong dung dịch formol 10% và các đánh giá vi thể được thực hiện bởi Khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Chợ Rẫy

Định lượng malondialdehyd (MDA) và glutathion (GSH) trong dạ dày

Tách dạ dày chuột nghiền đồng thể trong KCl 10% theo tỉ lệ 1:10 (dạ dày: KCl), tốc độ

13000 vòng/ phút, ở nhiệt độ 50C Lấy dịch đồng thể để định lượng MDA và GSH theo các phương pháp đã công bố trước đây Hàm lượng MDA hay GSH (nM/ml) được tính theo phương trình hồi quy tuyến tính của chất chuẩn MDA hay GSH Sau khi tính được nồng độ MDA hay

Trang 4

GSH (nM/ml dịch đồng thể) suy ra được hàm

lượng MDA hay GSH (nM/g protein)

Các kết quả in vivo được biểu thị bằng số

trung bình M ± SEM (Standar Error of the mean:

sai số chuẩn của giá trị trung bình) và được xử lý

thống kê dựa vào phép kiểm One-way ANOVA

bằng phần mềm Sigma Stat 3.5 với độ tin cậy

95% (p < 0,05)

Phương pháp nghiên cứu hoạt tính kháng

Thử nghiệm được thực hiện tại Công ty

TNHH Dịch vụ và thương mại Nam Khoa và

được tóm tắt như sau: Vi khuẩn Helicobacter

pylori được phân lập từ bệnh phẩm bệnh nhân bị

viêm loét dạ dày gồm các chủng nhạy cảm (S) hay đề kháng (R) với các kháng sinh và được nuôi cấy trong môi trường thạch máu Columbia

có thêm 5% huyết thanh ngựa Vi khuẩn ở nồng

độ tương đương chuẩn Mc Farland 4 (khoảng 12

x 108 CFU/ml) được cấy truyền vào các đĩa thạch

có môi trường Mueller-Hinton và được nuôi cấy hiếu khí trong 72 giờ ở điều kiện 85% N2, 10%

CO2, 5% O2 Xác định đường kính vùng ức chế vi khuẩn (inhibition zone diameter, mm) và nồng

độ ức chế tối thiểu (MIC) sau 72 giờ ủ bằng phương pháp khuếch tán Tất cả thí nghiệm được lập lại 2 lần

KẾT QUẢ-BÀN LUẬN

Kết quả khảo sát đại thể tác dụng của viên Vị an trong các thực nghiệm gây loét dạ dày

Bảng 1 Tác dụng của viên Vị an trên chỉ số loét trong các thực nghiệm gây loét dạ dày

(n = 10)

Liều uống (đơn vị/kg trọng lượng)

Chỉ số loét Ethanol Stress bất động lạnh Aspirin

Viên Vị an 2 viên/kg 4,30 ± 0,37*# (28,3%) 4,31 ± 0,24*# (28,1%) 2,10 ± 0,18*# (43,2%) Omeprazol 20 mg/kg 4,0 ± 0,30*# (33,0%) 4,27 ± 0,17*# (28,8%) 1,40 ± 0,16*# (62,2%) Ranitidin 100 mg/kg 4,10 ± 0,31*# (31,7%) 4,35 ± 0,27*# (27,5%) 2,0 ± 0,21*# (45,9%) Viên Vị an + Omeprazol 1 viên/kg + 20 mg/kg 4,40 ± 0,31*# (26,7%) 1,40 ± 0,16*#$ (75,4%) 1,10 ± 0,10*#$ (70,3%) Viên Vị an + Ranitidin 1 viên/kg + 100 mg/kg 4,30 ± 0,37*# (28,3%) 3,0 ± 0,6*#$ (47,4%) 1,90 ± 0,18*#$ (48,6%)

# p < 0,001 đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng sinh lý; * p < 0,001 đạt ý nghĩa thống kê so với lô bệnh lý; $ p < 0,001 đạt ý nghĩa thống kê so với lô uống viên Vị an liều 2 viên/kg; (…) Tỷ lệ % điều trị loét của mẫu thử hay thuốc đối chiếu

Kết quả ở bảng 1 cho thấy lô chứng bệnh lý

bị gây loét dạ dày bằng ethanol, stress bất động

lạnh hay do sử dụng các liều lập lại của thuốc

aspirin (liều 300 mg/kg trong 6 ngày) có chỉ số

loét tăng đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng

sinh lý Các lô bị gây loét dạ dày và được điều trị

bằng viên Vị an (liều 2 viên/kg) hay thuốc đối

chiếu omeprazol (liều 20 mg/kg) và ranitidin

(liều 100 mg/kg) có chỉ số loét giảm đạt ý nghĩa

thống kê so với lô chứng bệnh lý

Trong thực nghiệm gây loét dạ dày bằng

ethanol không có sự khác biệt đạt ý nghĩa thống

kê giữa chỉ số loét của lô điều trị bằng viên Vị an

liều 2 viên/kg so với các thuốc đối chiếu

omeprazol và ranitidin.Tuy nhiên khi so sánh

với kết quả điều trị riêng lẻ thì việc phối hợp viên Vị an (giảm ½ liều) với các thuốc điều trị loét dạ dày không cho kết quả tốt hơn

Chỉ số loét của lô uống viên Vị an liều 1 viên/kg phối hợp với omeprazol (liều 20 mg/kg) hay ranitidin (liều 100 mg/kg) trong thực nghiệm gây loét bằng stress bất động lạnh hay bằng aspirin đều giảm đạt ý nghĩa thống kê so với lô uống viên Vị an liều 2 viên/kg So sánh với kết quả điều trị riêng lẻ thì việc phối hợp viên Vị an (giảm ½ liều) với các thuốc điều trị loét dạ dày trong thực nghiệm gây loét dạ dày bằng stress bất động lạnh hay bằng thuốc aspirin cho kết quả tốt hơn Cụ thể là trong thực nghiệm gây loét dạ dày bằng stress bất động lạnh việc phối hợp viên Vị an với thuốc điều trị loét dạ dày

Trang 5

omeprazol (đạt 75,4%), với ranitidin (đạt 47,4%)

so với chỉ điều trị bằng omeprazol (đạt 28,8%)

hay ranitidin (27,5%) Trong thực nghiệm gây

loét dạ dày bằng thuốc aspirin việc phối hợp

viên Vị an với thuốc điều trị loét dạ dày omeprazol (đạt 70,3%), với ranitidin (đạt 48,6%)

so với chỉ điều trị bằng omeprazol (đạt 62,2%) hay ranitidin (45,9%)

Kết quả khảo sát tác dụng của viên Vị an trên vi thể dạ dày chuột nhắt trắng

Bảng 2 Tỷ lệ phần trăm các chỉ tiêu đánh giá vi thể dạ dày chuột nhắt trắng trong các thực nghiệm gây loét bằng

ethanol và bằng stress bất động lạnh

Nhóm Lô (n=6) Mô dạ dày

bình thường (%)

Sung huyết lớp niêm mạc (%)

Hỗn hợp

tế bào viêm (%)

Tăng tiết chất nhầy (%)

Ethanol

Stress bất

động lạnh

Kết quả khảo sát vi thể dạ dày ở Bảng 2 cho

thấy việc điều trị dự phòng trước 7 ngày bằng

viên Vị an liều 2 viên/kg trọng lượng chuột làm

giảm sung huyết niêm mạc dạ dày, làm giảm

hỗn hợp tế bào viêm, làm tăng tiết chất nhầy bảo

vệ niêm mạc Tác dụng của viên Vị an trên vi thể

dạ dày yếu hơn thuốc đối chiếu omeprazol

nhưng tốt hơn ranitidin

Kết quả ở bảng 3 cho thấy việc điều trị bằng

viên Vị an liều 2 viên/kg sau khi gây loét bằng

aspirin trong 6 ngày làm hồi phục mô dạ dày về

bình thường (88,9%) với 11,1% mô dạ dày có sự nghịch sản tế bào tuyến niêm mạc dạ dày mức

độ nhẹ và thoái hóa tế bào mức độ nhẹ Các thuốc đối chiếu omeprazol (20 mg/kg) hay ranitidin (100 mg/kg) thể hiện tác dụng trên vi thể dạ dày yếu hơn tác dụng của viên Vị an (liều

2 viên/kg) nhưng khi được sử dụng phối hợp với viên Vị an liều 1 viên/kg cho kết quả bình phục 100% mô dạ dày về giá trị sinh lý bình thường

Bảng 3 Tỷ lệ phần trăm các chỉ tiêu đánh giá vi thể dạ dày chuột nhắt trắng trong thực nghiệm gây loét bằng

aspirin

Mô dạ dày bình thường (%)

Nghịch sản tế bào tuyến niêm mạc dạ dày mức độ nhẹ và thoái hóa tế bào mức độ nhẹ (%)

Nghịch sản tế bào tuyến niêm mạc dạ dày mức độ trung bình và thoái hóa tế bào mức độ nhẹ (%)

Nghịch sản tế bào tuyến niêm mạc dạ dày mức độ nặng và thoái hóa tế bào mức độ nhẹ (%)

Viên Vị an 1 viên/kg +

Viên vị an 1 viên/kg +

Kết quả khảo sát tác dụng của viên Vị an

hàm lượng MDA và GSH trong dịch đồng

thể dạ dày

Kết quả ở bảng 4 cho thấy lô chứng bệnh lý

bị gây loét dạ dày bằng ethanol, stress bất động lạnh hay do sử dụng các liều lập lại của thuốc

Trang 6

aspirin có hàm lượng MDA tăng (13 - 25%) và

hàm lượng GSH giảm (20 - 45%) đạt ý nghĩa

thống kê so với lô chứng sinh lý, chứng tỏ có sự

tổn thương oxy hóa mô dạ dày Việc điều trị

bằng viên Vị an liều 2 viên/kg, tương tự như các

thuốc đối chiếu omeprazol (20 mg/kg) hay ranitidin (100 mg/kg), làm hồi phục về bình thường hàm lượng MDA và hàm lượng GSH trong dịch đồng thể dạ dày

Bảng 4 Tác dụng của viên Vị an trên hàm lượng MDA và GSH trong dịch đồng thể dạ dày

Nhóm Lô (n=10) Liều uống

(đơn vị/kg trọng lượng)

Hàm lượng MDA (nmol/g protein)

Hàm lượng GSH (nmol/g protein)

Ethanol

Viên Vị an 2 viên/kg 166,55 ± 8,58* (28,3%) 4540,1 ± 387,75# (8,81%) Omeprazol 20 mg/kg 180,32 ± 10,9* (22,4%) 7469,46 ± 798,29* (79,01%) Ranitidin 100 mg/kg 181,09 ± 8,12* (22,1%) 5978,64 ± 801,33* (43,28%)

Stress bất

động lạnh

Viên Vị an 2 viên/kg 202,53 ± 7,25# (4,4%) 6087,01 ± 224,43*# (20,5%) Omeprazol 20 mg/kg 173,18 ± 4,72* (18,26%) 6801,36 ± 276,53*# (34,6%) Ranitidin 100 mg/kg 185,16 ± 12,23 (12,6%) 6239,57 ± 454,5*# (23,5%)

Aspirin

300 mg/kg

Viên Vị an 2 viên/kg 108,12 ± 6,28* (18,4%) 10598,43 ± 322,73* (37,6%) Omeprazol 20 mg/kg 106,08 ± 3,79* (19,9%) 11029,05 ± 592,13* (43,2%) Ranitidin 100 mg/kg 110,15 ± 5,56* (16,9%) 13970,6 ± 1729,03*# (81,4%)

# p < 0,001 đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng sinh lý; * p < 0,001 đạt ý nghĩa thống kê so với lô bệnh lý; (…): Tỷ lệ % giảm hàm lượng MDA hay GSH trong dạ dày của mẫu thử hay thuốc đối chiếu so với lô chứng bệnh lý

Kết quả khảo sát hoạt tính kháng

Helicobacter pylori in vitro

Nồng độ ức chế tối thiểu trên vi khuẩn

Helicobacter pylori (được phân lập từ bệnh phẩm

của bệnh nhân bị loét dạ dày) của Viên Vị an là

0,25 g/ml, điển hình trên chủng Helicobacter pylori

nhạy cảmvới các kháng sinh như amoxicillin,

metronidazol, clarithromycin, levofloxacin,

tetracyclin; và trên chủng Helicobacter pylori đề

kháng với metronidazol và nhạy cảmvới các

kháng sinh như amoxicillin, clarithromycin,

levofloxacin, tetracyclin Đường kính vùng ức

chế vi khuẩn Helicobacter pylori của viên Vị an ở

nồng độ 1 g/ml đạt 18 - 25 mm

BÀN LUẬN

Loét dạ dày là do sự mất cân bằng nội môi

giữa các yếu tố gây loét dạ dày (như acid dịch vị,

pepsin, mật, Helicobacter pylori) và tác động bảo

vệ của màng nhầy niêm mạc dạ dày (như chất

nhầy, prostaglandin E2, sự tiết bicarbonat, nitric

oxid, các yếu tố đề kháng của tế bào niêm mạc

dạ dày)

Ethanol (rượu) được xem là tác nhân gây viêm loét dạ dày ở người khi sử dụng liều lập lại trong thời gian dài Do khả năng hòa tan các chất nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày nên ethanol dễ dàng được hấp thu qua niêm mạc dạ dày, gây phân giải protein, làm giảm sự bài tiết của bicarbonat, giảm sản xuất chất nhầy ở dạ dày, tăng acid dịch vị (HCl) và pepsin, gây tổn thương niêm mạc dạ dày(1) Mô hình stress bất động lạnh ở chuột cống hay chuột nhắt trắng gây bệnh cảnh tương tự loét dạ dày do căng thẳng tâm lý ở người Stress gây sự giải phóng histamin, dẫn đến sự gia tăng bài tiết HCl, giảm sản xuất chất nhầy, gây trào ngược dịch tụy và giảm lưu lượng máu trong dạ dày Ngoài ra stress còn làm tăng nhu động dạ dày, tạo cơ hội cho acid tác kích vào thành niêm mạc dạ dày(2) Aspirin hay acid acetylsalicylic (ASA), một thuốc kháng viêm non-steroid (NSAID) kinh điển, khi

sử dụng dài ngày có thể gây loét dạ dày do làm

Trang 7

giảm tiết chất nhầy và bicarbonat trong dạ dày,

ức chế cyclooxygenase (COX) dẫn đến ức chế

tổng hợp prostaglandin, là chất nội sinh có vai

trò bảo vệ niêm mạc dạ dày(1)

Các kết quả thực nghiệm cho thấy viên Vị an

có tác động làm giảm bệnh cảnh loét dạ dày gây

bởi ethanol, stress căng thẳng hay do sử dụng

aspirin Tác dụng của viên Vị an tương tự như

các thuốc điều trị loét dạ dày là ranitidin (ức chế

cạnh tranh với histamin ở thụ thể H2 của tế bào

thành dạ dày, làm giảm lượng acid dịch vị) hay

omeprazol (ức chế bơm proton do gắn với H+/K+-

ATPase ở tế bào thành dạ dày, ức chế và ngăn

cản quá trình tiết HCl của tế bào thành vào niêm

mạc dạ dày) Ngoài ra, viên Vị an còn thể hiện

tác dụng hiệp đồng tác dụng với các thuốc điều

trị loét dạ dày trong mô hình loét dạ dày gây bởi

stress căng thẳng hay do sử dụng thuốc giảm

đau nhóm NSAID Cao chiết cồn và cao

ethylacetat chiết từ nghệ vàng đã được chứng

minh có tác dụng bảo vệ dạ dày trong tổn

thương gây loét do thắt môn vị theo cơ chế ức

chế ức chế cạnh tranh với histamin ở thụ thể

H2(4), gợi ý hướng nghiên cứu tiếp trên cơ chế tác

động của viên Vị an

Những nghiên cứu cho thấy ethanol, stress

gây căng thẳng tâm lý hay aspirin gây các tổn

thương loét xuất huyết ở niêm mạc dạ dày, dẫn

đến tăng sản sinh các gốc tự do, gây tổn thương

màng lysosom, làm giải phóng các enzym thủy

phân và gây tổn thương oxy hóa tế bào biểu mô

dạ dày Tổn thương này dẫn đến co các tĩnh

mạch và động mạch trong niêm mạc dạ dày, gây

sung huyết, viêm và tổn thương tế bào dạ dày(10)

Việc tăng sản sinh các gốc tự do như

hydroperoxy, superoxid, gây nên sự mất cân

bằng trong quá trình chống oxy hóa tế bào, tăng

sự peroxy hóa lipid trong tế bào niêm mạc dạ

dày và dẫn đến làm tăng sản phẩm của quá trình

này là malondialdehyd (MDA)(10) Những nghiên

cứu trước đây cho thấy nghệ, curcumin và tinh

dầu nghệ làm giảm các tổn thương loét dạ dày

gây bởi aspirin, stress hay ethanol theo cơ chế ức

chế pepsin và sự tăng tiết acid dạ dày, điều hòa

giảm các cytokin tiền viêm, ức chế các protein gây hoại tử, ức chế COX-2 và lipoxygenase, ức chế sinh tổng hợp prostaglandin gây viêm và các peroxid, giảm các tổn thương oxy hóa dạ dày qua việc bảo vệ các peroxidase (phân giải các peroxid) trong dạ dày, làm tăng hàm lượng các chất chống oxy hóa nội sinh như glutathion peroxidase, superoxid dismutase, catalase và glutathion(12) Kết quả nghiên cứu cho thấy viên

Vị an, với thành phần chính là nghệ đen, tinh dầu nghệ làm giảm MDA và làm tăng hàm lượng GSH trong dịch đồng thể mô dạ dày, cho thấy cơ chế bảo vệ chống tổn thương oxy hóa (stress oxy hóa) là một trong những cơ chế tác động của viên Vị an

Kết quả khảo sát hoạt tính kháng Helicobacter

pylori in vitro cho thấy viên Vị an có thể được sử

dụng trong điều trị bệnh lý loét dạ dày do nhiễm

Helicobacter pylori Helicobacter pylori sống tại lớp

nhày ngay sát lớp biểu mô niêm mạc dạ dày Vi khuẩn gây bệnh này có vai trò quan trọng trong bệnh sinh loét dạ dày, tá tràng, thúc đẩy viêm dạ dày phát triển sang ung thư dạ dày Nghệ và hoạt chất curcumin được chứng minh là có tác dụng làm giảm sự sản sinh các chất trung gian gây viêm cytokin và chemokin như interleukin (IL)-8, IL-1β, TNF-α và COX-2 trong viêm loét dạ

dày gây bởi Helicobacter pylori ở chuột nhắt

trắng(9) và ở người(5) Ngoài ra, mật ong trong thành phần của chế phẩm còn góp phần làm giảm mức độ viêm loét và giảm hoạt lực của

Helicobacter pylori trên dạ dày

KẾT LUẬN

Viên Vị an liều 1-2 viên/kg trọng lượng chuột

có tác dụng bảo vệ dạ dày trước các tổn thương loét gây bởi ethanol (rượu), stress tâm lý hay do dùng aspirin Viên Vị an có thể được sử dụng phối hợp với các thuốc điều trị điều trị viêm loét

dạ dày do Helicobacter pylori hay do các nguyên

nhân khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Adinortey MB, Ansah C , Galyuon I, Nyarko A (2013) In Vivo Models Used for Evaluation of Potential Antigastroduodenal

Ulcer Agents Hindawi Publishing Corporation, 1-12

Trang 8

2 Dekanski JB, et al (1975) Effects of fasting, stress and drugs on

gastric glycoprotein synthesis in the rat British Journal of

Pharmacology; 55(3),387–392

3 Gupta SC, Patchva S, Aggarwal BB (2013) Therapeutic roles of

curcumin: lessons learned from clinical trials AAPS J.;

15(1):195-218

4 Kim DC, Kim SH, Choi BH, Baek NI, Kim D, Kim MJ, Kim KT

(2005) Curcuma longa extract protects against gastric ulcers by

blocking H2 histamine receptors Biol Pharm Bull.;

28(12):2220-2224

5 Koosirirat C, Linpisarn S, Changsom D, Chawansuntati K,

Wipasa J (2010) Investigation of the anti-inflammatory effect

of Curcuma longa in Helicobacter pylori-infected patients Int

Immunopharmacol.; 10(7):815-818

6 Kumar N and Sakhya SK (2013) Ethnopharmacological

Properties of Curcuma longa: A Review Int J Pharm Sci Res.:

4(1): 103-112

7 Liju VB, Jeena K, Kuttan R.(2015) Gastroprotective activity of

essential oils from turmeric and ginger.J Basic Clin Physiol

Pharmacol.; 26(1):95-103

(2003) Evaluation of anti-ulcer effect of root of Curcuma

zedoaria in rats Indian Journal of Tradional Knowledge,

2(1):375-377

9 Santos AM, Lopes T, Oleastro M, Gato IV, Floch P, Benejat L, Chaves P, Pereira T, Seixas E, Machado J, Guerreiro AS (2015) Curcumin inhibits gastric inflammation induced by

Helicobacter pylori infection in a mouse model Nutrients;

7(1):306-320

10 Yadav SK, Sah AK, Jha RK, Sah P, Shah DK(2013) Turmeric

(curcumin) remedies gastroprotective action Pharmacogn Rev.;

7(13):42-46

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 31/08/2016 Ngày bài báo được đăng: 25/11/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 04:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w