1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Liệu pháp kích điện thần kinh chày sau điều trị bảo tồn các rối loạn chức năng sàn chậu

7 61 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 313,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có hai dạng kích điện thần kinh chày sau được thực hiện: (1) Kích điện thông qua điện cực dán trên da (transcutaneous tibial nerve stimulation - tTNS); (2) Kích điện thông qua một kim xuyên da (percutaneous tibial nerve stimulation - pTNS)(18,23).

Trang 1

LIỆU PHÁP KÍCH ĐIỆN THẦN KINH CHÀY SAU ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN

CÁC RỐI LOẠN CHỨC NĂNG SÀN CHẬU

MỞ ĐẦU

Có hai dạng kích điện thần kinh chày sau

được thực hiện: (1) Kích điện thông qua điện cực

dán trên da (transcutaneous tibial nerve

stimulation - tTNS); (2) Kích điện thông qua một

kim xuyên da (percutaneous tibial nerve

stimulation - pTNS)(18,23) Trong một số nghiên

cứu ngẫu nhiên (randomized controlled trial -

RCT) cho thấy rằng pTNS đạt hiệu quả hơn so

với tTNS(12,18,23) pTNS bắt nguồn từ thuật châm

cứu được sử dụng trong y học cổ truyền Trung

Quốc và được mô tả đầu tiên vào đầu những

năm 1980(5) Đây là một thủ thuật ít xâm lấn và

an toàn, sử dụng luồng xung điện kích thích

thần kinh chày sau qua kim nhỏ xuyên da ở mặt

trong cẳng chân gần mắt cá trong Qua đó, các

kích thích này được dẫn truyền đến đám rối

thần kinh cùng và gián tiếp kích thích thần kinh

thẹn, có tác dụng điều trị các chứng rối loạn vận

động cơ chóp (detrusor dysfunction) như bàng

quang tăng hoạt (overactive bladder), kể cả các

chứng bí tiểu không do bế tắc; và gần đây hơn,

một số nghiên cứu đã khám phá việc sử dụng

pTNS để điều trị són phân (fecal incontinence)

hay các chứng đau vùng chậu mạn tính (chronic

pelvic pain syndrome)(27,23,16)

Một số liệu pháp điều trị ban đầu được đề

xuất để điều chỉnh các rối loạn chức năng sàn

chậu như thay đổi chế độ ăn uống, sửa chữa thói

quen và thay đổi cách sống, tập vật lý cơ sàn

chậu (bài tập Kegel), tập bọng đái và sử dụng

một số thuốc kháng cholinergic hay nhóm các

hormone tự nhiên beta-agonist Dù vậy, nhiều

tác dụng phụ khi sử dụng các biện pháp trên kéo

dài và sự cải thiện triệu chứng không rõ ràng

khiến nhiều bệnh nhân từ chối điều trị(14,19)

Trong một hướng dẫn của Hội niệu khoa Hoa kỳ

(American Urological Association - AUA) về điều trị bàng quang tăng hoạt, có hoặc không kèm theo tiểu mất tự chủ khẩn cấp trong trường hợp không có nhiễm trùng hoặc các bệnh lý khác(16,17), pTNS đã được khuyến cáo là một trong các lựa chọn điều trị ban đầu cho người bệnh, nhất là người cao tuổi(15,16) Bài viết này sẽ chú trọng thảo luận một số vấn đề cập nhật gần đây

về chỉ định của liệu pháp pTNS

DỊCH TỄ HỌC

Những biểu hiện của rối loạn sàn chậu có thể liệt kê như chứng bàng quang tăng hoạt được định nghĩa là tình trạng tiểu gấp, tiểu nhiều lần hoặc tiểu đêm, là một tình trạng lâm sàng thường gặp ở cả nam lẫn nữ Tuy nhiên, phụ nữ

có xu hướng mắc nhiều hơn (9,3% so với 2,6%)

và gia tăng theo tuổi(31) Theo thống kê, cứ 3 phụ

nữ đã từng mang thai và sinh đẻ, có một người mắc chứng bàng quang tăng hoạt Khảo sát của tác giả Schlenk EA (1998) cho thấy xấp xỉ 34 triệu người lớn ở Mỹ bị mắc chứng này(29) Tương tự, són phân gặp xấp xỉ khoảng 2 – 10% dân số và tỷ

lệ mắc phải có thể còn cao hơn vì chưa thể thống

kê một cách toàn diện do liên quan đến yếu tố xấu hổ khi đi khám(8,12,23,26) Ngoài ra, các rối loạn sàn chậu cũng có thể dẫn đến biểu hiện táo bón mạn tính, chiếm khoảng 2,5 triệu lượt người thăm khám mỗi năm, tương ứng khoảng 2% dân

số Hoa kỳ ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống cũng như mang lại gánh nặng kinh tế cho việc điều trị của bệnh nhân(16,34)

CÁC BIỂU HIỆN CỦA RỐI LOẠN CHỨC NĂNG SÀN CHẬU

Sàn chậu được ví như một cái võng nâng hình thành từ nhiều tấm / bó mô liên kết (mạc và các dây chằng chứa nhiều bó mạch thần kinh) và

cơ đan xen nhau, khối mạc cơ này bám chắc vào

* Bệnh viện Triều An TP Hồ Chí Minh

Trang 2

phía trước là xương mu, hai bên là xương chậu

hông, phía sau là cột sống cùng cụt Sàn chậu

bao gồm các cấu trúc giải phẫu nâng đỡ tổng thể

ba hệ thống từ trước ra sau: hệ thống tiết niệu

(bàng quang, niệu đạo), hệ thống sinh dục (tử

cung, âm đạo) và hệ thống tiêu hóa dưới (trực

tràng, hậu môn) Nhiệm vụ của sàn chậu là cố

định các cơ quan này nằm đúng vị trí trên

đường giữa, không bị sa xuống khi làm việc

nặng, vận động chạy nhảy Mặt khác, sàn chậu

còn có vai trò cơ thắt đóng mở các lỗ niệu đạo,

âm đạo và hậu môn giúp kiểm soát hoạt động đi

tiêu và tiểu theo ý muốn, hoạt động tình dục và

giúp quá trình sinh đẻ dễ dàng hơn Ba hệ thống

này hoạt động hài hòa nhịp nhàng với nhau, hệ

thống này điều phối hệ thống kia theo sự điều

khiển chủ động của con người (Lý thuyết hợp

nhất – integral theory)

Rối loạn chức năng sàn chậu bao gồm một

loạt các biểu hiện đặc trưng do mất chức năng

của các cơ thần kinh hoặc của các cơ quan chứa

đựng nằm trong khung chậu Nói cách khác, có

thể chia chúng thành rối loạn nâng đỡ sàn chậu

(sa tạng chậu, hội chứng sa đáy chậu) và rối loạn

chức năng cơ thắt (mất tự chủ với phân và nước

tiểu)(16,27) Nguyên nhân của các rối loạn này là do

nhão yếu trương lực cơ theo tuổi tác, tổn thương

giãn hoặc rách sẽ dẫn đến khiếm khuyết nâng

đỡ của bất kỳ hoặc tất cả các tạng chậu Tuy

nhiên, nguyên nhân thông thường nhất là tổn

thương thoái hóa thần kinh (denervation injury)

do sinh đẻ hoặc do chấn thương vùng lưng dưới

(bao gồm vùng chậu hông và sàn chậu), hậu quả

nặng nhất là liệt bán phần nhóm cơ do tổn

thương thần kinh chi phối Trong đó, tổn thương

thần kinh thẹn có thể dẫn đến rối loạn chức năng

của cơ thắt niệu đạo, cơ thắt hậu môn, rối loạn

cảm giác và vận động vùng sàn chậu (rối loạn

chức năng đa cơ quan)(27)

Một hội thảo chuyên về thuật ngữ được tổ

chức bởi Viện Quốc gia về Sức khỏe (National

Institutes of Health - NIH) bàn về các rối loạn

sàn chậu nữ (pelvic floor disorders - PFDs), đã

đưa ra một số biểu hiện của rối loạn chức năng sàn chậu như sau:

Đường tiểu dưới

Tiểu không tự chủ khi gắng sức: són tiểu khi cười, ho, hắt hơi, khi chạy nhảy hoặc mang vật nặng

Tiểu gấp: không nín tiểu được theo ý muốn khi mắc tiểu

Tiểu đêm > 1 lần

Tiểu nhiều lần: khoảng cách giữa 2 lần đi tiểu < 1 giờ hoặc tiểu > 8 lần /ngày

Tiểu không kiểm soát liên tục: nước tiểu rỉ liên tục cả ngày

Tiểu khó phải rặn

Cảm giác đi tiểu không hết

Đường tiêu hóa dưới

Són hơi, són phân khi ho, hắt hơi hay chạy nhảy

Không giữ được theo ý muốn khi buồn trung tiện hoặc đại tiện

Táo bón kéo dài, đại tiện khó phải dùng thuốc thụt hậu môn hoặc thuốc uống

Rối loạn tình dục

Giao hợp đau hoặc giảm cảm giác

Đau âm vật hay rối loạn dương cương Cảm giác cửa mình rộng

Đau vùng chậu mạn tính

Đau vùng thắt lưng chậu

Đau vùng bụng dưới

Các yếu tố rủi ro ở nữ có nguy cơ bị rối loạn chức năng sàn chậu:

- Cơ sàn chậu suy yếu dần theo tuổi, số lần mang thai và sinh đẻ

- Tình trạng thiếu nội tiết ở phụ nữ tuổi mãn kinh cũng là một nguyên nhân gây rối loạn chức năng sàn chậu

- Áp lực ổ bụng tăng mãn tính: béo phì, ho mãn tính (lao, COPD), táo bón mãn tính, nâng vật nặng lặp đi lặp lại

Trang 3

Tất cả phụ nữ có biểu hiện rối loạn chức

năng sàn chậu và sa các tạng chậu cần được tư

vấn và điều trị

GIẢI PHẪU ỨNG DỤNG TRONG pTNS

Cơ sàn chậu được cung cấp bởi các dây thần

kinh thân thể (thần kinh tủy gai) và hệ thần kinh

tự chủ (giao cảm và phó giao cảm) Hai dây thần

kinh chính thuộc hệ thần kinh thân thể cung cấp

cho vùng sàn - đáy chậu thần kinh cơ nâng hậu

môn và thần kinh thẹn

Thần kinh thẹn (pudendal nerve)(27) có

nguyên ủy từ các nhánh trước, ngành trước

S2, S3 và S4 Từ trong chậu hông, chui qua

khuyết ngồi lớn ở bờ dưới cơ hình lê để ra

mông, cùng động mạch thẹn trong vòng qua

gai ngồi, chui qua khuyết ngồi bé rồi vòng trở

lại ở mặt trong gai ngồi đi sát mạc cơ bịt trong

qua ống Alcock và đi xuống đáy chậu Thần

kinh thẹn chia làm ba nhánh chính: thần kinh

trực tràng dưới, thần kinh đáy chậu và thần

kinh mu âm vật (hoặc mu dương vật) vận

động các cơ thắt ngoài niệu đạo, cơ thắt ngoài

hậu môn và các cơ đáy chậu (cơ hành xốp, cơ

ngồi hang, cơ ngang đáy chậu nông, sâu); nó

chi phối cảm giác âm vật, da vùng hội âm

(hoặc mặt lưng dương vật) Trong hội chứng

sa đáy chậu (descending perineum syndrome -

DPS), khi các cơ sàn chậu (bao gồm hoành

chậu - cơ nâng hậu môn) sa nhão kéo dài, thần

kinh thẹn có thể cũng bị kéo giãn đến một

mức độ nào đó thì dẫn đến bệnh đau thần

kinh thẹn (pudendal neuralgia/ neuropathy)

ảnh hưởng đến các chức năng tiểu, đại tiện và

tình dục

Hệ thần kinh tự chủ gồm các dây thần kinh

giao cảm được cấu tạo bởi các sợi trước hạch

giao cảm phát xuất từ chuỗi hạch giao cảm cạnh

sống (các hạch ngực T12 – L5), đi xuống nối với

các nhánh từ đám rối động mạch chủ tạo thành

đám rối hạ vị trên Các thần kinh hạ vị này nối

với các sợi trước hạch phó giao cảm có nguyên

ủy từ các rễ trước S2 – S4 tạo thành đám rối hạ vị

dưới cho ra các đám rối: trực tràng giữa, bàng

quang, tiền liệt tuyến và tử cung âm đạo Thần kinh cung cấp cho trực tràng và ống hậu môn phát xuất từ các đám rối trực tràng trên, giữa và dưới Các sợi phó giao cảm từ đám rối trực tràng trên và giữa tiếp hợp với các tế bào thần kinh hậu hạch của đám rối cơ (myenteric plexus) trong thành trực tràng, chứa hai thành phần: kích thích và ức chế Phản xạ kích thích giữ vai trò quan trọng trong nhu động đẩy tới của đại trực tràng, nhất là giai đoạn tống phân Phản xạ

ức chế cho phép đại tràng thích nghi với thể tích chứa chất thải và cũng gián tiếp ức chế đại tràng xuống làm giãn rộng đại tràng phía trên khối phân

NGUYÊN LÝ CỦA pTNS

Các thành phần của thiết bị gồm: máy phát xung điện với nhiều tần số và cường độ khác nhau(4,16,23,27) Hai điện cực gồm: một điện cực được gắn vào một thân kim có kích cỡ khoảng 34-gauge (0,1842 mm), dài 3 – 5cm, vị trí kim cách mắt cá trong khoảng 1,5 – 2 thốn ngón tay, đồng thời cách bờ sau trong xương chày khoảng 0,5 – 1 thốn ngón tay Đầu kim sâu khoảng 2 – 4cm và nghiêng khoảng 60 – 900, không đâm trực tiếp vào dây thần kinh chày sau Điện cực còn lại được nối với điện cực dán ở lòng bàn chân cùng bên, ngay phía dưới vị trí của xương sên (Hình 1) Mục đích chính của liệu pháp này nhằm đưa được luồng điện đến kích hoạt thần kinh thẹn - thần kinh chi phối chủ yếu vùng sàn

- đáy chậu (Hình 2) Biên độ của xung khoảng 9 volts, độ rộng từ 200 – 300 microsec và tần số khoảng 20Hz Chế độ truyền xung liên tục 30 phút, tăng dần cường độ từ 0,5 – 10 mA đến khi ngón cái của bệnh nhân duỗi ra hoặc biểu hiện giật nhẹ hoặc bệnh nhân có cảm giác đau thì dừng Một liệu trình điều trị thường kéo dài 10 -

12 tuần, 1 - 3 lần/tuần và mỗi lần khoảng 30 phút Khoảng 5 – 6 tuần mới thấy những kết quả đầu tiên và rất thay đổi tùy theo cá thể pTNS có thể được thực hiện bởi bác sĩ, y tá, kỹ thuật viên vật lý trị liệu, hoặc chuyên viên chăm sóc sức khỏe đã được đào tạo

Trang 4

Tương tự với kích điện thần kinh cùng

(SNM), cơ chế của pTNS trong việc cải thiện các

rối loạn chức năng vùng chậu vẫn chưa rõ ràng,

nhưng nhiều tác giả tin rằng chúng có chung

một cơ chế(10,23) trong việc tác động đa thức điều

hòa và kích thích các cung phản xạ đến và đi chi

phối hoạt động của các cơ sàn chậu liên quan

đến sự chứa đựng và tống xuất của bọng đái

cũng như co giãn trực tràng và ống hậu

môn(23,27,30,32) Các dữ liệu hiện nay chưa cho phép

đưa ra kết luận cuối cùng về cơ chế chính xác

của pTNS Tác giả Cooperberg (2005)(3) cho rằng vẫn chưa xác định ảnh hưởng của các tác động này chủ yếu ở trung ương hay ngoại biên Các cải thiện điều trị cho đến nay có thể do kích thích này ảnh hưởng trên các khu vực khác nhau của

hệ thần kinh trung ương, nhưng cũng có thể chỉ qua cung phản xạ ngoại vi từ đó có tác dụng đối với cơ quan đích(11) Các tác giả thừa nhận rằng kích hoạt thần kinh tác động đồng thời trên cả dây thần kinh vận động lẫn cảm giác(10)

Hình 1 Liệu pháp Ptns Hình 2 Giải phẫu thần kinh của pTNS

CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Chỉ định

Những bệnh nhân bị hội chứng bàng

quang tăng hoạt, các chứng tiểu gấp, tiểu

nhiều lần, tiểu đêm hoặc tiểu không kiểm soát

Ứ đọng nước tiểu không do bế tắc hoặc bàng

quang thần kinh Rối loạn tiểu tiện ở trẻ em

Các biểu hiện đau âm vật hay rối loạn

dương cương

Điều trị cho các trường hợp són phân hoặc

táo bón mạn tính do giảm nhu động

Đau vùng chậu mạn tính, đau hậu môn do

kẹt thần kinh thẹn, do sa nhão đáy chậu hoặc

đau kéo dài sau phẫu thuật trĩ hoặc phẫu thuật

Longo

Điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính không

do vi khuẩn

Chống chỉ định

Các bệnh nhân có đặt máy điều hòa nhịp tim hoặc máy khử rung

Những bệnh nhân có rối loạn đông máu Bệnh nhân bị tổn thương thần kinh có thể ảnh hưởng đến thần kinh chày sau

Bệnh nhân đang mang thai hoặc có kế hoạch mang thai trong suốt thời gian điều trị

MỘT SỐ KẾT QUẢ CỦA LIỆU PHÁP pTNS

Điều trị các rối loạn tiết niệu

pTNS có thể được lựa chọn như một liệu pháp điều trị chính sau khi đã áp dụng các liệu trình điều trị bằng thuốc Một số nghiên cứu cho thấy pTNS cải thiện thành công các triệu chứng của bàng quang tăng hoạt với tỷ lệ khá cao 60 - 70%(9,33) Không giống như các thuốc đang lưu hành trên thị trường, pTNS hiệu quả hơn và có ít

Trang 5

tác dụng phụ hơn(1) Liệu pháp này có hiệu quả

tương đương hoặc cao hơn thuốc kháng

cholinergic nhưng ít tác dụng phụ hơn như khô

miệng hoặc táo bón Gần 80% bệnh nhân phải

ngưng dùng thuốc (trung bình 4,8 tháng) trong

năm đầu tiên cũng vì những tác dụng phụ bất lợi

trên(14) Một lợi thế khá thú vị và quan trọng của

pTNS là nó mang lại một hiệu ứng kéo dài, duy

trì tác dụng và tiếp tục cải thiện triệu chứng khi

dừng kích thích thần kinh Trong khi đó, các

thuốc kháng cholinergic và liệu pháp kích hoạt

thần kinh cùng gần như mất tác dụng khi ngừng

điều trị(6,22,25)

Điều trị các rối loạn đại tiện

pTNS còn được cho là có hiệu quả đối với

tình trạng són phân Trong một nghiên cứu 57

bệnh nhân mất tự chủ đại tiện, trong đó có 9

bệnh nhân bị loại trừ, tỷ lệ thành công được ghi

nhận là 72,5% cải thiện khả năng chứa đựng và

tống xuất của trực tràng(23) Một báo cáo gần đây

cũng cho thấy trong số 62 – 83% bệnh nhân bị

són phân được báo cáo có đến hơn 50% cải thiện

chất lượng cuộc sống sau khi áp dụng pTNS(18)

Hàng loạt các nghiên cứu khác cũng có nhận

định tương tự về hiệu quả điều trị bằng liệu

pháp pTNS đối với són phân(10,12,18,19,30)

Trong tạp chí Đại trực tràng 2012, tác giả

Collins B đã tiến hành nghiên cứu và ghi

nhận pTNS là một phương pháp tiềm năng và

hợp lý trong điều trị táo bón do chậm nhu

động ruột Điểm táo bón trong thanh điểm

Wexner cải thiện rõ rệt sau điều trị Tần suất

đại tiện tăng (P = 0,048) và giảm sử dụng thuốc

nhuận tràng (P = 0,025)(2)

Điều trị các rối loạn tình dục

Tuy ngoài hướng dẫn được khuyến cáo và

chưa có nhiều nghiên cứu về việc áp dụng pTNS

trong các vấn đề rối loạn tình dục, nhưng

Elkattah R và cộng sự (2014) đã có bài báo cáo

nhân hai trường hợp hiếm hoi được chỉ định

điều trị đau âm vật và cải thiện triệu chứng đáng

kể chỉ sau 12 buổi ứng dụng liệu pháp pTNS(7)

Điều này có ý nghĩa to lớn đối với chất lượng

cuộc sống và chức năng tình dục của các bệnh nhân, đồng thời mở ra cánh cửa đầy hứa hẹn về một cuộc cách mạng ứng dụng các liệu pháp mới trong điều trị các rối loạn chức năng sàn chậu

Điều trị các chứng đau vùng chậu

Trong điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính không do vi khuẩn (chronic non-bacterial prostatitis) và chứng đau vùng chậu mạn tính, pTNS cũng cho thấy tính hiệu quả dựa trên sự cải thiện triệu chứng đáng kể các chỉ số NIH trong viêm tuyến tiền liệt mạn tính và thang điểm đau VAS (Visual Analogue Score) (p

<0,001)(21) Tác giả Ayse Istek (2014)(20) đã phác họa kết quả bước đầu rất khả quan về ảnh hưởng dài hạn của pTNS đối với các biểu hiện đau vùng chậu mạn tính Đây là một liệu pháp

có triển vọng trong việc kiểm soát đau và cải thiện chất lượng cuộc sống ở phụ nữ bị mắc chứng này Tác giả cũng nhận định, pTNS duy trì tác dụng kéo dài lên đến 6 tháng sau đó Kết quả nghiên cứu trước đó của tác giả Gokyildiz S (2012) cũng có nhận định tương tự(13)

Một vấn đề nữa được đặt ra là hiệu quả về chi phí khi so với các phương thức điều trị khác, pTNS được cho là ít tốn kém trong một loạt các nghiên cứu so sánh chi phí giữa pTNS so với SNS(10,24) Ước tính ở Mỹ, một liệu trình 12 tuần của pTNS tiêu tốn khoảng $770–1800 USD, rẻ hơn rất nhiều so với $8850–15.000 của SNS(10) Liệu pháp này an toàn cho cả người lớn và trẻ

em, cũng như rất ít đau Bệnh nhân thường mô

tả cảm giác như “tê" hoặc “giật" nhẹ ở ngón cái hoặc mắt cá chân Ghi nhận từ nhiều nghiên cứu khảo sát đều cho thấy, pTNS không có tác dụng phụ nào nghiêm trọng đáng kể, chủ yếu liên quan đến biểu hiện ửng đỏ tạm thời gần khu vực kích thích hoặc bầm tím tại vị trí kim châm (0,9%), khó chịu (1,8%), chảy máu nhẹ(5)

Mặc dù là một phương pháp xâm lấn tối thiểu, dễ áp dụng nhưng một trong những hạn chế của pTNS là tốn thời gian, bệnh nhân cần phải đi đến cơ sở y tế để kích điện hàng tuần (> 6

- 12 tuần), điều đó là một trở ngại không nhỏ đối

Trang 6

với sinh hoạt của một số bệnh nhân Tuy nhiên,

trong tương lai, việc phát triển các thiết bị cá

nhân có thể cấy ghép sẽ là giải pháp để giải

quyết bất tiện này(5)

KẾT LUẬN

Ngày nay, pTNS là một liệu pháp được ghi

nhận là có hiệu quả trong điều trị các triệu

chứng rối loạn chức năng sàn chậu và ngày càng

dần mở rộng chỉ định Liệu pháp này an toàn, rẻ

tiền cho cả người lớn và trẻ em, ít xâm hại, ít tai

biến và tương đối không đau Nó không đòi hỏi

phải cấy ghép hoặc có tác dụng phụ kéo dài Các

bệnh nhân đáp ứng với điều trị có thể duy trì tác

dụng bằng các đợt điều trị giãn cách sau đó

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Andersson KE, Chapple CR, Cardozo L, Cruz F (2009)

Pharmacological treatment of overactive bladder: report from

the International Consultation on Incontinence Current

Opinion in Urology, 19(4): 380–394

2 Collins B, Norton C, and Maeda Y (2012) Percutaneous tibial

nerve stimulation for slow transit constipation: a pilot study

Colorectal Dis, 14(4): 165-170

3 Cooperberg MR, Stoller ML (2005) Percutaneous

neuromodulation Urol Clin North Am, 32: pp 71–78

4 David RS, Kenneth MP (2012) Percutaneous Tibial Nerve

Stimulation: A Clinically and Cost Effective Addition to the

Overactive Bladder Algorithm of Care Curr Urol Rep, 13(5):

327–334

5 De Wall LL, Heesakkers JP (2017) Effectiveness of

percutaneous tibial nerve stimulation in the treatment of

overactive bladder syndrome Res Rep Urol, 9: 145–157

6 Del Río-Gonzalez S, Aragon IM, et al (2017) Percutaneous

Tibial Nerve Stimulation Therapy for Overactive Bladder

Syndrome: Clinical Effectiveness, Urodynamic, and Durability

Evaluation Urology, 108: 52-58

7 Elkattah R, Trotter-Ross W, Huffaker RK (2014) Percutaneous

tibial nerve stimulation as an off-label treatment of clitoral

pain Female Pelvic Med Reconstr Surg, 20(6): 1-4

8 Faltin DL, Sangalli MR, et al (2001) Prevalence of anal

incontinence and other anorectal symptoms in women Int

Urogynecol J Pelvic Floor Dysfunct, 12: 117–120

9 Finazzi-Agro E, Petta F, et al (2010) Percutaneous tibial nerve

stimulation effects on detrusor overactivity incontinence are

not due to a placebo effect: a randomized, double-blind,

placebo controlled trial J Urol, 184(5): 2001–2006

10 Findlay JM, Maxwell-Armstrong C (2011) Posterior tibial

nerve stimulation and faecal incontinence: a review Int J

Colorectal Dis, 26, pp 265–273

11 Gabriele G, Luca T, et al (2013) Percutaneous tibial nerve

stimulation (PTNS) efficacy in the treatment of lower urinary

tract dysfunctions: a systematic review BMC Urol, 13(1): 61

12 George AT, Kalmar K, et al (2013) Randomized controlled

trial of percutaneous versus transcutaneous posterior tibial

nerve stimulation in faecal incontinence Br J Surg, 100: 330–

338

13 Gokyildiz S, Kizilkaya Beji N, et al (2012) Effects of percutaneous tibial nerve stimulation therapy on chronic

pelvic pain Gynecol Obstet Invest, 73(2): 99-105

14 Gopal M, Haynes K, Bellamy SL, Arya LA (2008) Discontinuation Rates of Anticholinergic Medications Used for the Treatment of Lower Urinary Tract Symptoms

Obstetrics & Gynecology, 112(6): 1311-1318

15 Gormley EA, Lightner DJ, Burgio KL (2015) Diagnosis and treatment of overactive bladder (non-neurogenic) in adults:

AUA/SUFU guideline amendment The Journal of urology,

188(6): 2455–2463

16 Gupta P, Ehlert MJ, Sirls LT, Peters KM (2015) Percutaneous Tibial Nerve Stimulation and Sacral Neuromodulation: an

Update Curr Urol Rep, 16(4): 2-6

17 Haylen BT, de Ridder D, Freeman RM, Swift SE, Berghmans B (2010) An International Urogynecological Association (IUGA)/International Continence Society (ICS) joint report on

the terminology for female pelvic floor dysfunction Neurourol Urodyn, 29(1): 4–20

18 Horrocks EJ, Thin N, et al (2014) Systematic review of tibial

nerve stimulation to treat faecal incontinence Br J Surg, 101(5):

457–468

19 Hotouras A, Murphy J, et al (2014) Outcome of percutaneous tibial nerve stimulation (PTNS) for fecal incontinence: a

prospective cohort study Ann Surg, 259(5): 939-943

20 Istek A, Gungor Ugurlucan F, et al (2014) Randomized trial

of long-term effects of percutaneous tibial nerve stimulation

on chronic pelvic pain Arch Gynecol Obstet, 290(2): 291-298

21 Kabay S, Kabay SC, et al (2009) Efficiency of posterior tibial nerve stimulation in category IIIB chronic prostatitis/chronic

pelvic pain: a Sham-controlled comparative study Urol Int,

83(1): 33–38

22 McDiarmid SA, Peters KM, et al (2010) Long-term durability

of percutaneous tibial nerve stimulation for the treatment of

overactive bladder J Urol, 183(1): 234–240

23 Marti L, Galata C, Beutner U, Hetzer F, Pipitone N (2017) Percutaneous tibial nerve stimulation (pTNS): success rate and

the role of rectal capacity Int J Colorectal Dis, 32(6): 789-796

24 Martinson M, MacDiarmid S, and Black E (2013) Cost of neuromodulation therapies for overactive bladder: percutaneous tibial nerve stimulation versus sacral nerve

stimulation J Urol, 189(1): 210–216

25 Maurelli V, Petta F, et al (2012) What to do if percutaneous tibial nerve stimulation (PTNS) works? A pilot study on

homebased transcutaneous tibial nerve stimulation Urologia,

79(19): 86–90

26 Nelson R, Norton N, et al (1995) Community-based

prevalence of anal incontinence JAMA, 274: pp 559–561

27 Nguyễn Trung Vinh (2015) Sàn chậu học Nhà xuất bản Y học

6-66

28 Schabert VF, Bavendam T, et al (2009) Challenges for managing overactive bladder and guidance for patient

support Am J Manag Care, 15(4): S118–122

29 Schlenk EA, Erlen JA, Dunbar-Jacob J (1998) Health-related quality of life in chronic disorders: a comparison across

studies using the MOS SF-36 Qual Life Res, 7(1): 57–65

30 Shafik A, Ahmed I, et al (2003) Percutaneous peripheral

neuromodulation in the treatment of fecal incontinence Eur Surg Res, 35: 103–107

Trang 7

31 Stewart WF, Van Rooyen JB, et al (2003) Prevalence and

burden of overactive bladder in the United States World J

Urol, 20(6): 327-336

32 Vaizey CJ, Kamm MA, Turner IC (1999) Effects of short term

sacral nerve stimulation on anal and rectal function in patients

with anal incontinence Gut, 44: pp 407–412

33 Van Balken MR, Vandoninck V, et al (2001) Posterior tibial

nerve stimulation as neuromodulative treatment of lower

urinary tract dysfunction J Urol, 166(3): 914–918

34 Wu JM, Vaughan CP, Goode PS (2014) Prevalence and trends

of symptomatic pelvic floor disorders in U.S women Obstet Gynecol, 123(1): 141–148

Ngày đăng: 15/01/2020, 04:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm