1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả ngắn hạn và trung hạn điều trị đặt stent ống động mạch ở bệnh nhân tim bẩm sinh phụ thuộc ống động mạch

7 84 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 320,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Stent ống động mạch là 1 phương pháp hiệu quả, khả thi và tương đối an toàn cho trẻ sơ sinh với bệnh tim bẩm sinh có tuần hoàn phổi phụ thuộc ống động mạch, có thể thay thế cho phẫu thuật tạo shunt chủ phổi.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGẮN HẠN VÀ TRUNG HẠN ĐIỀU TRỊ ĐẶT STENT ỐNG ĐỘNG MẠCH Ở BỆNH NHÂN TIM BẨM

SINH PHỤ THUỘC ỐNG ĐỘNG MẠCH

Nguyễn Minh Trí Việt*, Tăng Chí Thượng **Hoàng Quốc Tưởng*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nhận xét kết quả tức thời và theo dõi trung hạn sau stent ống động mạch

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả

Kết quả: Có 55 bệnh nhân tim bẩm sinh có tuần hoàn phổi phụ thuộc ống động mạch được tiến hành đặt

stent Tuổi trung bình: 8 ngày Cân nặng trung bình 3kg Có hơn 50% thuộc nhóm bệnh lý bất thường cấu trúc vách nón với thông liên thất kèm thiểu sản đường ra thất phải (TOF, PA – IVS), ¼ số trường hợp thuộc nhóm bệnh lý thiểu sản tim phải và 13 tim bẩm sinh tím phức tạp khác sẽ phẫu thuật theo hướng tim 1 thất Tỷ lệ đặt thành công stent ống động mạch 98% (54/55), 1 trường hợp thất bại được Stent RVOT.SpO 2 trung vị tăng từ 66% lên 93%, PaO 2 trung vị tăng từ 33 mmHg lên 58 mmHg Sau can thiệp, 34 bệnh nhân trên hình ảnh chụp mạch máu cải thiện đáng kể kích thước cũng như Zcore 2 nhánh động mạch phổi phải và trái từ 4,5mm và 4,0mm tăng lên 7,2mm và 5,7 mm Trung bình chỉ số NAKATA trước can thiệp là 138,9 ± 2,3 sau can thiệp là 205,54 ± 54,1 Có 13% bệnh nhân cần can thiệp lại sớm lúc nằm viện Trong đó tắc stent sớm do huyết khối chiếm 4%, lưu lượng không đều qua 2 nhánh ĐMP chiếm 5,5% 2 trường hợp tử vong (1 nhiễm khuẩn nặng, 1 tử vong trể sau phẫu thuật sữa chữa cấu trúc tim) 1 trường hợp trôi stent (gắp thành công và đặt stent khác) Đa số trường hợp cần can thiệp lại một thời gian sau đó 14/36 trường hợp có tuần hoàn 2 thất được can thiệp hoặc phẫu thuật sữa chữa hoàn toàn 8/17 trường hợp tim bẩm sinh phức tạp kiểu tuần hoàn 1 thất đã đươc phẫu thuât Glenn 31 bệnh nhân đang theo dõi để chuẩn bị can thiệp hoặc phẫu thuật tiếp

Kết luận: Stent ống động mạch là 1 phương pháp hiệu quả, khả thi và tương đối an toàn cho trẻ sơ sinh với

bệnh tim bẩm sinh có tuần hoàn phổi phụ thuộc ống động mạch, có thể thay thế cho phẫu thuật tạo shunt chủ phổi

Từ khóa: Còn ống động mạch, stent ống động mạch, tuần hoàn phổi phụ thuộc ống, động mạch phổi, shunt

chủ phổi

ABSTRACT

INITIAL RESULTS AND MEDIUM –TERM FOLLOW UP OF STENT IMPLANTATION OF PATEN

DUCTUS ARTERIOSUS IN DUCT DEPENDENT PULMONARY CIRCULATION

Nguyen Minh Tri Viet, Tang Chí Thuong, Hoang Quoc Tuong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 22 - No 4- 2018: 290 – 296

Objective: To describle clinical features and the outcome after Stent implatation in the ductus arteriosus for pulmonary blood supply in congenital heart disease at Children’s Hospital 2 from January 2016 to April 2017 Method: Case series report

Results: Ductal stenting was performed in 55 neonates and infants to maintain pulmonary blood supply in

cyanotic congenital heart disease.Majority of patients were diagnosed TOF and PA IVS (50%), and right

Tác giả liên lac: ThS.BS Nguyễn Minh Trí Việt ĐT: 0928798879 Email: vietnguyenmt@yahoo.com

Trang 2

ventricular hypoplasia Patent ductus arteriosus stenting was successful in 54 patients (98%) and failed in 1 patient (2%) SpO 2 and PaO 2 inproved from 66% and 33 mmHg to 93% and 58 mmHg, respectively RPA and LPA diameter increased after cardiac catheterization NAKATA index improved from 138.9 ± 2.3 to 205.54 ± 54.1 Seven patients (13%) were required reintervention soon including embolization (4%), unbalance two pulmonary branch blood flow (5.5%), stent stenosis (3.6%) One neonates died a few days ater the procedure due

to sepsis and one patient died after bidirectional Glenn shunt 14/36 patients with biventricular circulation were completed repair and 8/17 patients with univentricular circulation were operated Gleen shunt

Conclusion: Patent ductus arteriosus stenting is an attractive alternative to surgical shunt in a majority of

patients with duct-dependent circulation

Key words: Patent ductus arteriosus, stent implatation, duct dependent pulmonary circulation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tim bẩm sinh là một trong các dị tật thường

gặp ở trẻ em, theo thống kê của Trung tâm kiểm

soát và quản lý bệnh tật Hoa kỳ (CDC-Centers

for Disease Control and Prevention), tỷ lệ trẻ

sinh ra mắc bệnh tim chiếm 1% tương đượng

khoảng 40000 trẻ sinh sống, trong đó tim bẩm

sinh phức tạp chiếm gần 25%(1,5) Trước đây, các

bệnh tim phức tạp gần như không thể chữa khỏi

hoặc để lại di chứng rất nặng nề Tuy nhiên, với

những tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật mổ và chăm

sóc hồi sức sau mổ, ngày nay nhiều bệnh tim

bẩm sinh phức tạp đã được điều trị hiệu quả Tại

những trung tâm tiên tiến, ngày càng nhiều bệnh

nhi sơ sinh có tim bẩm sinh được điều trị triệt để

Mặt khác, đối với đa số bệnh tim phức tạp có

tuần hoàn phổi phụ thuộc ống động mạch, ở giai

đoạn sơ sinh, việc giữ ống động mạch lưu thông

được xem như điều trị bảo tồn sinh mạng, giúp

cho những phẫu thuật triệt để sau này (tim bẩm

sinh với tuần hoàn một thất về mặt sinh lý bệnh

và tứ chứng fallot với teo van động mạch phổi là

những ví dụ trong hoàn cảnh này)

Điều trị thông thường và được nhiều trung

tâm chấp nhận hiện nay đối với tim bẩm sinh

THPPTÔĐM là duy trì ống động mạch bằng

thuốc prostaglandine E1 (PGE1), sau đó là phẫu

thuật tạo shunt chủ phổi (một ống nhân tạo,

không tự đóng lại) Rõ ràng là việc giữ ống động

mạch tồn tại một cách tự nhiên xem ra có vẻ hợp

lý hơn là gắn cho tuần hoàn phổi một ống nhân

tạo PGE1 là một loại thuốc có thể duy trì hiệu

tiền, khó sử dụng, hiệu quả trong thời gian ngắn, nếu sử dụng lâu dài sẽ giảm hiệu quả và rất nhiều tác dụng phụ Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương và Vũ Minh Phúc(11), tỷ lệ tim bẩm sinh của trẻ chiếm khoảng 11,2% trong đó có 16,4% bệnh nhi là tim bẩm sinh tím phức tạp và hầu hết cần được can thiệp phẫu thuật tạm thời hoặc triệt để ngay giai đoạn sơ sinh Tuy nhiên, để thực hiện phẫu thuật ở trẻ sơ sinh trong điều kiện phẫu nhi hiện nay của Việt Nam nói chung hay tại TP.HCM nói riêng không phải là điều dễ dàng Vì vậy mà việc can thiệp đặt stent ống động mạch ở trẻ bị tim bẩm sinh THPPTÔĐM là một cứu cánh khả thi và đạt hiệu quả cao Mặc dù phương pháp này đã được áp dụng tại một số trung tâm tim mạch lớn tại TP.HCM như Viện Tim, bệnh viện Nhi Đồng 1, bệnh viện Nhi Đồng 2 nhưng vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề này Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Nhằm khảo sát hiệu quả của phương pháp can thiệp này trong việc điều trị các bệnh lý tim bẩm sinh phức tạp của trẻ em

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhi tim bẩm sinh với THPPTÔĐM chẩn đoán trên siêu âm tim, được thông tim can thiệp đặt stent ống động mạch tại

bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/16 đến 04/17

Phương pháp nghiên cứu

Trang 3

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tiêu chí chọn vào là tất cả bệnh nhi tim bẩm

sinh với THPPTÔĐM được thông tim can thiệp

đặt stent ống động mạch tại bệnh viện Nhi Đồng

2 trong thời gian nghiên cứu và được theo dõi

hơn 3 tháng sau can thiệp

Xử lý số liệu

Xử lý bằng Excel 2010 và phần mềm SPSS

2010

KẾT QUẢ

Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng trước

thông tim can thiệp

Bảng1 Đặc điểm dịch tễ của mẫu nghiên cứu (n=55)

Đặc điểm dịch tễ mẫu nghiên cứu Kết quản (%)

Tuổi phát hiện bệnh (ngày) 3.16 (0 – 45)

Sơ sinh (n)

Ngoài sơ sinh (n)

53 (96,3)

2 (3,7) Giới

Nam (n)

Nữ (n)

36 (65,5)

19 (34,5) Địa chỉ

Hồ Chí Minh (n)

Tỉnh khác (n)

11 (20)

44 (80) Tiền căn sản khoa

Đủ tháng (n)

Non tháng (n)

42 (76.4)

13 (23.6)

Đặc điểm dịch tễ mẫu nghiên cứu Kết quản (%)

Lý do nhập viện Tím tái Thở nhanh Tuyến dưới chuyển

55 (100)

3 (5,5)

4 (7,3) Chẩn đoán tiền sản

Có (n) Không (n)

17 (31)

38 (69)

Bảng 2 Đặc điểm siêu âm của mẫu nghiên cứu

Tật TBS được chẩn đoán

TOF

PA - IVS

PA - IVS - Coronary sinusoides TBS phức tạp kèm hẹp/teo phổi

PA -VSD

7 (12)

11 (20)

2 (4)

13 (24)

22 (40) Sinh lý tim

1 thất

2 thất Chưa rõ

14 (26)

38 (69)

3 (5) Hợp lưu động mạch phổi

Có Không

53 (96)

2 (4) Kích thước động mạch phổi

Vòng van (n=18) Zscores Thân ĐMP (n=20) Zscores Nhánh ĐMP phải (n=55) Zscores Nhánh ĐMP trái (n=55) Zcores

5,2 (2 – 7,5) -2,5 ± 1,7

7 (4 – 10) -0,5 ± 0,7 4,4 (3 – 5) -0,4 ± 0,7 3,8 (2 – 4,8) -0,8 ± 0,9

Bảng 3 So sánh đặc điểm giữa 2 nhóm có sinh lý tim 2 thất với nhóm 1 thất hoặc chưa rõ

Giới, n (%) Nam

Nữ Cân nặng lúc sanh (kg)

Chẩn đoán tiền sản (có)

Tuổi phát hiện bệnh (ngày)

Tuổi nhập viện (ngày)

Sốc Toan chuyển hóa SpO 2

PaO 2

Truyền Prostaglandin

Vận mạch

36

19

17

1

3

44

3

22 (40)

14 (25) 3,2(2,3 – 4)

6 4,1 6,2

1

3

65

32

29

3

14 (25)

5 (10) 3,2(2,5 – 3,6)

11 1,5 2,1

0

0

72

43

15

0

Trang 4

Kết quả ngay sau thông tim can thiệp

Thất bại 1/55 chiếm 2% Biến chứng mạch

máu 3/55 (5,5%), rối loạn nhịp 4/55 (7,5 %), tụt

huyết áp 12/55 (22%), trôi stent PDA 1/55 (2%)

Bảng 4 Đặc điểm giải phẫu và kỹ thuật khi can thiệp

(n=55)

Hợp lưu động mạch phổi (ĐMP)

Không

1 (2)

54 (98) Hình dạng ống động mạch

Phểu thẳng

Ngoằn ngoèo

Xuất phát từ động mạch dưới đòn

2 ống động mạch

Kích thước

12 (22)

39 (71)

3 (5)

1 (2)

Kích thước ĐMP

Vòng van (n=18)

Zscores

Thân ĐMP (n=19)

Zscores

Nhánh ĐMP phải (n=55)

Zscores

Nhánh ĐMP trái (n=55)

Zcores

5,3(2 – 7,5) -2,5 ± 1,8 7,2 (4 – 10) -0,7 ± 1,1 4,5 (3,2 – 5,5) -0,3 ± 0,7 3,8 (2 – 4,8) -0,7 ± 0,8

Bảng 5 Đặc điểm về kỹ thuật

Đường can thiệp

Retrograde

Anterograde

Loại stent

Yukon

Energy

Kathy

Omega

Can thiệp khác

Rashkind

Mở van ĐMP

Nong nhánh ĐMP

Đường kính stent được chọn

(mm)

Chiều dài stent được chọn

(mm)

55

0

26

14

3

12

4

6

2 3,3 (3,0 – 4,5)

19 (12 – 30)

55

100

0

47

26

5

22

7

10 3,5

(40 – 78)

Bảng 6 So sánh đặc điểm oxy hóa máu trước và sau

can thiệp (n = 55)

Biến Trước can thiệp Sau can thiệp

SpO 2 (%) 68 (30 – 80) Thở máy 93 (80 – 99)

Khí trời 87 (74 – 95)

Kết quả sau can thiệp ≥ 3 tháng

Trên 55 bệnh nhân can thiệp đặt stent ống động mạch được tiếp tục theo dõi sau can thiệp bằng khám lâm sàng, siêu âm tim với thời gian trung bình là 7,5 tháng, ngắn nhất là 4 tháng và dài nhất là 16 tháng Có 2 bệnh nhân tử vong Thực hiện chụp mạch máu để khảo sát đặc điểm giải phẫu tuần hoàn phổi đồng thời can thiệp lại nếu cần được thực hiện trên 34 trường hơp

Bảng 7 Đặc điểm lâm sàng lần tái khám gần nhất

(n=53)

Đặc điểm lâm sàng Số bệnh nhân (%)

Suy dinh dưỡng Nhẹ

Trung bình Nặng

4 (7)

1 (2)

0 (0 SpO 2

≥75%

< 75%

78 (58 – 94)

38 (72)

15 (28)

Bảng 8 Đặc điểm siêu âm lần tái khám gần nhất

(n=53)

Hợp lưu động mạch phổi

Có Không

52 (98)

1 (2) Lưu lượng qua Stent

Tốt Hạn chế

39 (73)

14 (27) Kích thước động mạch phổi

Vòng van (n=16) Zscores Thân ĐMP (n=16) Zscores Nhánh ĐMP phải (n=53) Zscores

Nhánh ĐMP trái (n=53) Zcores

7(2 – 9) -2 ± 2,1

9 (6 – 11) -0,5 ± 1,3 6,5 (3,8 – 11) 0,4 ± 0,9 5,4 (3 – 11) -0,2 ± 1

Trang 5

Bảng 9 Đặc điểm giải phẫu và kỹ thuật khi can thiệp

mạch máu (n=34)

Hợp lưu động mạch phổi

Không

33 (97)

1 (3) Stent ống động mạch

Nội mạc hóa

Hướng về thân

Hướng về 1 nhánh ĐMP

Gập góc

2 ống động mạch

Thiểu sản 1 nhánh độnh mạch

phổi

34 (100)

25 (73)

9 (17)

5 (15)

1 (3)

15 (44) Kích thước ĐMP

Vòng van (n=5)

Zscores

Thân ĐMP (n=6)

Zscores

Nhánh ĐMP phải (n=34)

Zscores

Nhánh ĐMP trái (n=34)

Zcores

7 (5 – 8) -1,5 ± 0,5

9 (8 – 11) -0,8 ± 0,4 7,2 (3,6 – 13) -0,8 ± 1,2 5,7 (3 – 11) -0,1 ± 0,9

Can thiệp lại

Nong stent

Nong nhánh động mạch phổi

Đặt Stent mới

34 (100)

26 (76)

21 (62)

Bảng 10 So sánh đặc điểm giải phẩu tuần hoàn phổi

bằng siêu âm qua theo dõi

Đặc điểm

Trước can thiệp Sau can thiệp

Giá trị p (b)

Số ca Kết quả

Số ca Kết quả

Kích thước

ĐMP

Vòng van

Zscores

Thân ĐMP

Zscores

Nhánh ĐMP(P)

Zscores

Nhánh ĐMPtrái

Zcores

18

18

20

20

55

55

55

55

5,2 ± 1,4 -2,4 ± 1,7

7 ± 1,4 -0,5 ±0,7 4,4 ± 0,5 -0,4 ± 0,7 3,8 ± 0,5 -0,8 ±0,9

16

16

16

16

53

53

53

53

7 ±1,6 -2 ± 2,1

9 ± 1,5 -0,5 ±1,2 6,5 ± 1,6 0,4 ± 0,9 5,4 ± 1,3 -0,2 ± 1

> 0,1

> 0,05

> 0,1

> 0,5

< 0,001

< 0,001

< 0,001

< 0,001

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận

tuổi trung vị lúc được thông tim can thiệp đặt

stent PDA là 8 ngày, tuổi thông tim nhỏ nhất là 1

ngày và lớn nhất là 2 tháng 10 ngày Phần lớn

thuộc giai đoạn sơ sinh tương tự các nghiên cứu

ngoài nước Nhìn chung tuổi trung bình được can thiệp là trong những ngày đầu sau sanh, phù hợp bệnh lý tim bẩm sinh có tuần hoàn phổi phụ thuộc ÔĐM nên bệnh nhân sẽ nhập viện sớm giai đoạn sơ sinh khi ÔĐM đóng, trễ hơn có thể tới 2 tháng khi ÔĐM đóng trễ hơn Cân nặng lúc can thiệp đặt stent PDA trong nghiên cứu của chúng tôi trung bình là 3 kg, cân nặng thấp nhất ghi nhận là 1,8 kg và lớn nhất là 4kg Kết quả này khá tương đồng so với các nghiên cứu khác (1,6)

cân nặng này thích hợp cho việc tiếp cận hệ thống động, tĩnh mạch đùi khi thông tim ở trẻ Mặt khác, chúng tôi cũng ghi nhận trong nghiên cứu có 6 ca (11%) được can thiệp với cân nặng ≤ 2.500 gam.Tất cả 3 bệnh nhân này đều đạt được thành công với phương pháp đặt stent PDA điều trị tạm thời Cân nặng ≤ 2.500 gam là một trong những yếu tố nguy cơ của phẫu thuật tim(3,7,12,19) Đây cũng là một thách thức không nhỏ đối với thông tim can thiệp(13) Với sự tiến bộ không ngừng về kĩ thuật cũng như sự phát triển của các dụng cụ can thiệp nội mạch, hiện nay trên thế giới(4,15,17,20) tỉ lệ những bệnh nhi có cân nặng dưới 2.500 gam được phẫu thuật tim và thông tim can thiệp ngày càng nhiều, tuy nhiên cũng cần có sự

nổ lực đáng kể về nhiều lãnh vực có liên quan như chăm sóc sơ sinh và hồi sức

Độ bão hòa oxy trung bình là 68% giao động

từ 55 – 80% trước thông tim can thiệp với oxy hóa máu PaO2 trung bình 33 mmHG Thông thường bệnh nhân dễ dàng dung nạp với SPO2

từ 60% trở lên Khi tình trạng giảm oxy hóa máu nặng nề hơn, tình trạng toan chuyển hóa xuất hiện, trong nghiên cứu này chỉ có 5,5% trường hợp Cũng như trong nghiên cứu khác(2,6,9,10,15)

siêu âm là phương tiện để chẩn đoán xác định và chỉ định can thiệp ban đầu Siêu âm cho thấy hình ảnh giải phẫu mạch máu phổi đồng thời phân loại sinh lý bệnh kiểu tuần hoàn sẽ được sữa chữa về cấu trúc sau này Nhóm bệnh nhân

có dị tật tim sẽ được sữa chữa theo kiểu tuần hoàn hai thất chiếm 2/3, chỉ có số ít bệnh nhân chưa rõ kiểu phẫu thuật sữa chữa sau này 5% Nhóm bệnh lý tim bẩm sinh do bất thường quá

Trang 6

trình hình thành cấu trúc thân chung vách nón

chiếm ½ số bệnh nhân (bao gồm TOF và PA –

VSD), số còn lại chia đều cho nhóm bệnh lý thiểu

sản tim phải và nhóm tim bẩm sinh phức tạp với

hẹp nặng hoặc teo phổi Có 2 trường hợp (5%)

được chần đoán bằng siêu âm không có hợp lưu

giữa hai động mạch phổi Kích thước động mạch

phổi hai bên của các bệnh nhân đều có khuynh

hướng thiểu sản hơn so với nhóm dân số bình

thường với zcore trung bình thấp hơn zero

Các nghiên cứu trong thời gian đầu vào

những năm 90, có tỉ lệ thành công 70 – 90%, về

sau can thiệp có tỉ lệ thành công hơn 90% do sự

tiến bộ về mặt kỹ thuật, có những hướng dẫn kỹ

thuật can thiệp tốt hơn và chọn lọc bệnh nhân để

can thiệp Nghiên cứu chúng tôi có 1 trường hợp

thất bại chiếm 2%, tỉ lệ thành công cao 98%

Nguyên nhân ngoài vấn đề liên quan thời gian,

chúng tôi thực hiện can thiệp gần đây với nhiều

tiến bộ về kỹ thuật và ngày càng dày dạn kinh

nghiệm.Nguyên nhân thất bại là do không tìm

thấy ống động mạch khi can thiệp Bệnh nhân

này được can thiệp lúc 24 ngày tuổi, với cân

nặng 3,2 kg Bệnh nhân nhập viện trong bệnh

cảnh nặng kèm sốc do diễn tiến cơn tím kéo dài

dẫn đến toan chuyển hóa nặng Việc điều trị hồi

sức trước can thiệp diễn tiến không thuận lợi

mặc dù bệnh nhân đã được giúp thở máy, bù

toan, bù dịch, vận mạch và truyền PGE1 Tại

bệnh viện Nhi đồng 2 không thể thực hiện BT

Shunt ở trẻ sơ sinh, chúng tôi quyết định làm

thông tim cấp cứu với dự định nếu tìm không

thấy ống động mạch, chúng tôi sẽ tiến hành đặt

Stent buồng thoát tim phải để cứu sống bệnh

nhân (siêu âm tim chẩn đoán không gợi ý mở

được ống động mạch)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả 100%

bệnh nhi được can thiệp qua đường động mạch

đùi (retrograde) Hình dạng ÔĐM dài ngoằn

ngoèo (chiều dài từ đầu chủ đến đầu phổi > 20

mm và có hình chữ V chữ S, hình zigzag, hay

phức tạp kiểu xoắn trôn ốc)(16) ghi nhận ở 71%

trường hợp Ở nhóm bệnh nhân thiểu sản tim

hình dạng phểu thẳng 22% trường hợp Vài bệnh nhân có ống động mạch xuất phát từ động mạch dưới đòn (5%) và kết nối với động mạch phổi cùng bên.1 trường hợp xuất hiện 2 ống động mạch tưới máu riêng biệt cho hai động mạch phổi không hợp lưu Hình thái ÔĐM trước đây là một trở ngại và khó khăn cho kĩ thuật đặt stent, vì vậy là chống chỉ định khi giải phẫu ÔĐM phức tạp là khuyến cáo của vài nghiên cứu(15,18) Tuy nhiên, theo kinh nghiệm với kỹ thuật không ngừng cải tiến, chúng tôi cho rằng việc đặt Stent ống động mạch có thể thực hiện với mọi kiểu giải phẫu ống động mạch nếu đã được xác định bằng hình ảnh chụp mạch máu Giống như rất nhiều nghiên cứu, đường kính Stent được chọn từ 3 – 4,5 mm, chiều dài stent từ 12 – 30 mm Khi can thiệp cần tuân thủ đúng nguyên tắc Stent phải phủ kín hết chiều dài ống động mạch bởi vì những chỗ không được phủ stent, mô ống động mạch sẽ co thắt lại sau can thiệp và khi đó rất khó tiếp cận trở lại Loại stent được sử dụng có thể là bất kỳ loại stent mạch vành nào trên thị trường Trong nghiên cứu của cung tôi đó là Omega (Boston Scientific, MA, US), hay Energy (Biotronik, Berlin, Germany) Thời gian can thiệp trong vòng 60 phút, không kéo dài quá 150 phút 2/3 số bệnh nhân cần chỉ 1 Stent để đặt phủ kín hết chiều dài ống động mạch Một số cần 2 Stent chiếm tỉ lệ 30% (17 bệnh nhân)

Bệnh nhân cải thiện oxy hóa máu can thiệp SpO2 tăng từ trung vị 66% đến 93% ngay sau can thiệp khi còn thở máy (FiO2 40%) và 87% tại thời điểm xuất viện thở khí trời Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,0001 < 0,01, độ tin cậy 99%) Phân áp oxy trong khí máu trung vị 33 mmHg tăng lên 58 mmHg (nhỏ nhất 45 mmHg, lớn nhất 114 mmHg) Trung bình PaO2 cải thiện sau can thiệp là 25,28 mmHg (KTC 99%: 22,19 – 28,35 mmHg) khác biệt có ý nghĩa thống kê với p

= 0,0001 < 0,01, độ tin cậy 99% Nghiên cứu của Qian-zhen Li sự oxy hóa máu với SpO2 tăng từ 76% lên 89,5%(20) Nghiên cứu Cheung Y, oxy

Trang 7

88,67 ± 4,68%(6) Như vậy, việc đặt stent ÔĐM

giúp tăng lưu lượng máu lên phổi để trao đổi

oxy, từ đó tăng phân áp oxy máu với giá trị thấp

nhất 45 mmHg, khoảng mức tối thiểu cần thiết

cho trao đổi chất cho cơ thể, tránh những biến

chứng tổn thương cơ quan do thiếu oxy máu quá

mức đặc biệt chuyển hóa của não(8)

KẾT LUẬN

Tỉ lệ can thiệp thành công là 98%, thất bại

2% Ngay sau can thiệp, SpO2 trung vị tăng từ

66% lên 93%, PaO2 trung vị tăng từ 33 mmHg lên

58 mmHg Sau can thiệp, 34 bệnh nhân trên hình

ảnh chụp mạch máu cho thấy cài thiện đáng kể

kích thước cũng như Zcore 2 nhánh động mạch

phổi phải và trái từ 4,5mm và 4,0mm tăng lên

7,2mm và 5,7 mm Trung bình chỉ số NAKATA

trước can thiệp là 138,9 ± 2,3 cải thiện sau can

thiệp là 205,54 ± 54,1 Có 13% bệnh nhân cần can

thiệp lại sớm lúc nằm viện Trong đó tắc stent

sớmdo huyết khối chiếm 4%, lưu lượng không

đều qua 2 nhánh ĐMP chiếm 5,5% Sau thông

tim can thiệp, theo dõi trung bình 7,5 tháng (4

tháng – 16 tháng) trên 53 bệnh nhân, 14/36 bệnh

nhân tuần hoàn 2 thất đã được phẫu thuật tim

sữa chữa hoàn toàn, 8/17 ca tuần hoàn một thất

đã được làm phẫu thuật Glenn Một trường hợp

tử vong sớm sau can thiệp Sau xuất viện, có 1

trường hợp tử vong muộn sau phẫu thuật sữa

chữa cấu trúc tim, chiếm 4%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Coe J, Olley P (1991) “A novel method to maintain ductus

arteriosus patency” J Am Coll Cardiol; 18:3: p.837–41

2 Gewillig M, Boshoff DE, Dens (2004) Stenting the Neonatal

Arterial Duct in Duct-Dependent Pulmonary Circulation:

New Techniques, Better Results J Am Coll Cardiol;

43:p.107-112

3 Helmut Baumgartner, Philipp Bonhoeffer, Natasja MS (2010)

“ESC Guidelines for the management of grown-up congenital

heart disease (new version 2010) The Task Force on the

Management of Grown-up Congenital Heart Disease of the

European Society of Cardiology (ESC)” European Heart

Journal 31, p.2915–2957

4 Hoffman JL, Kaplan S (2002) “The incidence of congenital

heart disease” J Am Coll Cardiol 39(12):p.1890-1900

5 Huang FK, Lin CC, Huang TC, Weng KP, Liu PY, Chen YY,

Wang HP, Ger LP (2013) “Reappraisal of the prostaglandin

E1 dose for early newborns with patent ductus

arteriosus-dependent pulmonary circulation” Pediatr Neonatol 54(2): p

102-6

6 Hussain A, Al-Zharani S, Muhammed AA (2008) Midterm outcome of stentdilatation of patent ductus arteriosus in

ductal-dependent pulmonary circulation Congenit Heart Dis;

3:p.241-249

7 Mouledoux JH, Walsh WF (2013) “Evaluating the Diagnostic Gap: Statewide Incidence of Undiagnosed Critical Congenital Heart Disease Before Newborn Screening With Pulse

Oximetry” PediatricCardiology; 34:p.1680-1686

8 Nguyễn Hoàng Tâm (2010), Đặc điểm tim bẩm sinh phụ thuộc ống động mạch ở trẻ sơ sinh tại bệnh viện Nhi Đồng 1,

Luận văn Bác sĩ Nội Trú, ĐH Y Dược Tp.HCM, tr.25

9 Nguyễn Minh Trí Việt, Trương Bá Lưu (2012), Kết quả bước đầu đặt stent ống động mạch trong bệnh tim bẩm sinh có tuần hoàn phổi phụ thuộc ống động mạch, Hội PT TM & LN Việt

Nam, http://phauthuattim.org.vn/?cat_id=157&id=210

10 Nguyễn Thị Phương Châu (2016), Khảo sát đặc điểm tật đứt đoạn cung động mạch chủ trước và sau phãu thuật tại bệnh

viện Nhi Đồng 1 and 2 Tp.HCM từ 2010 đến 2016, Luận văn Bác sĩ Nội Trú, Đại học Y Dược, tr.37

11 Nguyễn Thị Thanh Hương, Vũ Minh Phúc (2010), “ Đặc điểm bệnh lý tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh tại bệnh viện Nhi Đồng 1”,

Tạp chí y học, tr14:1

12 Odemis E, Haydin S, Guzeltas A (2012) Stent implantation in the arterial duct of the newborn with duct-dependent pulmonary circulation: single centre experiencefrom Turkey

Eur J Cardiothorac Surg; 42:p.57-60

13 Oxenius A, Attenhofer Jost CH, Prêtre R (2013) “Management

and outcome of Ebstein’s anomaly in children” Cardiol Young;

23(1):p.27-34

14 Rao PS (2009) “ Diagnosis and management of cyanotic

congenital heart disease: part I.” Indian J Pediatr Jan

76(1):p.57-70

15 Santoro G (2008) “Stenting of the arterial duct in newborns

with duct-dependent pulmonary circulation” Heart; 94:

p.925-929

16 Schneider M, Zartner P (1998) “Stent implantation of the

arterial duct in newborns with duct-dependent circulation” Eur Heart J; 19: p.1401-1409

17 Strickland MJ, Reller MD, Riehle-Colarusso T, Correa A (2008) “Prevalence of congenital heart defects in Atlanta,

1998-2005” J Pediatr 153:p.807-13

18 Vijayalakshmi IB, Reema Chugh (2013) “A Comprehensive

Approach to Congenital Heart Diseases” JP MedicalLtd,

5:p.89-93

19 Vitiello R, McCrindle BW, Nykanen D (1998), "Complications associated with pediatric cardiac

catheterization", J Am Coll Cardiol 32(5), p.1433-1440

20 Yun WS (2011), "Congenital heart disease in the newborn

requiring early intervention", Korean J Pediapp 54(5),

pp.183-191

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 18/05/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 04:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w