1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật nội soi điều trị phình đại tràng bẩm sinh: Kinh nghiệm của Bệnh viện Trung ương Huế

6 138 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 393,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi ổ bụng kết hợp kỹ thuật phẫu tích qua đường hậu môn một thì điều trị bệnh lý phình đại tràng bẩm sinh ở trẻ em.

Trang 1

PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ PHÌNH ĐẠI TRÀNG BẨM SINH:

KINH NGHIỆM CỦA BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ

Phạm Trung Vỹ*, Phạm Như Hiệp*, Hồ Hữu Thiện*, Phạm Anh Vũ*, Phan Hải Thanh*, Nguyễn Thanh

Xuân*, Trần Nghiêm Trung*, Văn Tiến Nhân*, Phạm Minh Đức*,

Phạm Xuân Đông*, Mai Trung Hiếu*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi ổ bụng kết hợp kỹ thuật phẫu tích qua đường hậu môn một

thì điều trị bệnh lý phình đại tràng bẩm sinh ở trẻ em

Phương pháp nghiên cứu: Gồm 17 bệnh nhân (10 nam,7 nữ) phình đại tràng bẩm sinh với đoạn vô hạch ở

phần xa của đại tràng (ĐT) được phẫu thuật nội soi kết hợp kỹ thuật phẫu tích qua đường hậu môn từ 1/2012 đến 6/2017 Nghiên cứu tiến cứu có theo dõi và tái khám nong hậu môn sau mổ

Kết quả: Tuổi trung bình 6,7 ± 1,3 tháng (2 - 65), tỷ lệ nam/nữ 1,4/1, 100% chụp đại tràng cản quang trước

mổ với vị trí vô hạch cao Vị trí vô hạch trong mổ: chỗ nối sigma-trực tràng 5,9%, đại tràng sigma 29,4%, chỗ nối đại tràng xuống-sigma 17,6%, đại tràng xuống 41,2%, góc lách 5,9%, không gặp vô hạch toàn bộ đại tràng Chiều dài đoạn đại tràng cắt bỏ trung bình 23,2 ± 4,3 cm, thời gian phẫu thuật trung bình 162,2 ± 15,5 phút, thời gian nằm viện trung bình 5,8 ± 3,2 ngày (4 - 9) Thời gian theo dõi trung bình 37,3 ± 2,6 tháng ghi nhận 17,6%

viêm ruột, điều trị nội khoa thành công, hẹp miệng nối nong được 11,8% và không gặp các biến chứng khác

Kết luận: Phẫu thuật nội soi kèm phẫu tích qua đường hậu môn điều trị phình đại tràng bẩm sinh là an toàn

và hiệu quả, giải quyết được mọi thể vô hạch cao và có thể thay thế cho kỹ thuật mở bụng để hỗ trợ

Từ khóa: Phình đại tràng bẩm sinh, phẫu tích qua đường hậu môn

ABSTRACT

LAPAROSCOPIC SURGERY FOR HIRSCHSPRUNG DISEASE: EXPERIENCES OF HUE CENTRAL

HOSPITAL

Pham Trung Vy, Pham Nhu Hiep, Ho Huu Thien, Pham Anh Vu, Phan Hai Thanh, Nguyen Thanh

Xuan, Tran Nghiem Trung, Van Tien Nhan, Pham Minh Duc, Pham Xuan Dong, Mai Trung Hieu

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 4- 2018: 68 – 73

Objectives: To evaluate the results of laparoscopic surgical techniques combined transanal one-stage

endorectal pull-through, the treatment of Hirschsprung’s disease (HD) in children

Methods: Including 17 patients of HD (10 males, 7 females) with distal colon aganglionosis were considered

candidates for laparoscopic techniques combined transanal one-stage endorectal pull-through from 1/2012 to 6/2017 Prospective studies with follow-up and re-examination of postoperative anal dilatation

Results: Average age 6.7 ± 1.3 months (2 - 65), male/female 1.4/1, 100% preoperative barium enema with

long aganglionic segment Intraoperative aganglionic location: sigmoid-rectum joint 5.9%, sigmoid colon 29.4%, descending-sigmoid colon joint 17.6%, descending colon 41.2%, splenic flexure 5.9%, without total aganglionic colon Average length of aganglionic segment 23.2 ± 4.3 cm, the average length of the surgical procedure was 162.2 ± 15.5 minutes, the length of hospital stays of 5.8 ± 3.2 days (4 - 9) Follow-up time of 37.3 ± 2.6 months with 17.6% enteritis, successful medical treatment, 11.8% anastigmatic stenosis of successful dilatation, without

*Bệnh viện Trung Ương Huế

Trang 2

other complications, all children have been well now

Conclusions: Laparoscopic surgical techniques combined transanal one-stage endorectal pull-through, the

treatment of Hirschsprung’s disease is safe and effective, can solve all very high and can be alternative for assisted laparotomy

Keywords: Hirschsprung’s disease, transanal one-stage endorectal pull-through

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phình đại tràng bẩm sinh (Hirschsprung) là

một bệnh khá phổ biến ở trẻ em được

Hirschsprung báo cáo đầu tiên tại hội nghị nhi

khoa Berlin năm 1886 Bệnh có thể có biểu hiện

lâm sàng rất sớm ở trẻ sơ sinh bằng bệnh cảnh

tắc ruột cấp tính dễ đưa đến tử vong nếu không

can thiệp kịp thời hoặc có biểu hiện bán cấp và

mạn tính ở trẻ nhũ nhi và trẻ lớn với bệnh cảnh

táo bón và tiêu chảy kéo dài đưa đến tình trạng

suy dinh dưỡng, chướng bụng, chậm phát triển

về thể chất cũng như tinh thần(9,6)

Phẫu thuật qua đường trực tràng (phẫu

thuật Soave hoặc endorectal pull-through) điều

trị bệnh lý này lần đầu tiên được Franco Soave

giới thiệu tại học viện Gaslini năm 1955 tuy

nhiên phải đến năm 1980 ca phẫu thuật thành

công lần đầu tiên mới được báo cáo(8)

Năm 1998, Georgeson báo cáo đầu tiên kết

quả phẫu thuật nội soi 80 bệnh nhân phình đại

tràng bẩm sinh tại 6 trung tâm trong vòng 5 năm

với kết quả đáng khích lệ(3,6)

Tại Bệnh viện Trung ương Huế, phẫu thuật

qua đường trực tràng (Soave) điều trị phình đại

tràng bẩm sinh đã được thực hiện từ năm 2002(8)

Tuy nhiên trong trường hợp đoạn vô hạch nằm

cao, phẫu thuật phải kèm theo mở bụng phối

hợp hạ đại tràng cùng với những bất lợi của việc

làm này sau mổ cũng như kết quả lâu dài

Xuất phát từ thực tế ứng dụng phẫu thuật

nội soi điều trị bệnh lý phình đại tràng bẩm sinh,

chúng tôi báo cáo đề tài này nhằm đánh giá kết

quả ứng dụng phẫu thuật nội soi ổ bụng kết hợp

kỹ thuật phẫu tích trực tràng qua đường hậu

môn một thì điều trị bệnh lý phình đại tràng

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi ổ bụng kết hợp kỹ thuật phẫu tích qua đường hậu môn một thì điều trị bệnh lý phình đại tràng bẩm sinh

ở trẻ em

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Gồm 17 bệnh nhân phình đại tràng bẩm sinh: Triệu chứng lâm sàng điển hình: táo bón trường diễn, đòi hỏi phải bơm hậu môn để đi cầu Kết quả chụp đại tràng cản quang có một đoạn hẹp, đoạn chuyển tiếp và đoạn đại tràng giãn ngay trên đoạn chuyển tiếp Vị trí đoạn vô hạch ở phần xa của đại tràng (góc lách, đại tràng xuống và đoạn đầu sigma) Chẩn đoán được khẳng định lại bằng sinh thiết tức thì trong mổ

và kết quả giải phẫu bệnh sau mổ

Được phẫu thuật nội soi kết hợp kỹ thuật phẫu tích trực tràng qua đường hậu môn theo kỹ thuật của Georgeson KE(3) từ 1/2012 đến 6/2017 Nghiên cứu tiến cứu có theo dõi, tái khám và nong hậu môn sau mổ

Chuẩn bị trước mổ

Thụt tháo đại tràng bằng nước muối sinh lý hằng ngày trước mổ

Kháng sinh Cephalosporin thế hệ ba, tiêm tĩnh mạch

Bệnh nhân được gây mê nội khí quản, tư thế sản khoa

Đặt xông tiểu để làm xẹp bàng quang trong

mổ và rút ngay sau mổ

Kỹ thuật phẫu thuật

Thì bụng (phẫu thuật nội soi) (3) (Hình 1)

Đặt 4 trocar: một trocar 5 hoặc 10 mm dưới rốn, một trocar 5 mm ở hố chậu trái, trocar 5mm

Trang 3

Bơm hơi ổ phúc mạc với áp lực 8 – 10

mmHg

Sau khi đặt các trocar, vùng chuyển tiếp đại

tràng cũng như vùng giãn trên đoạn chuyển tiếp

sẽ được đánh giá cẩn thận để quyết định vị trí

đại tràng cần phẫu tích, di động và sẽ cắt bỏ

Giải phóng đại tràng sigma và phẫu tích

trực tràng xuống tiểu khung dưới nếp phúc

mạc phía trước 2 – 3 cm và phía sau ngang

mức xương cụt Chú ý phẫu tích sát thành trực

tràng để tránh làm tổn thương các nhánh thần

kinh niệu – sinh dục

Các nhánh động mạch sigma được clip và cắt

gần sát thành đại tràng

Thông thường, mạc treo đại tràng được giải

phóng ngang mức động mạch mạc treo tràng

dưới Tuy nhiên, nếu đoạn vô hạch nằm cao trên

đại tràng sigma thì việc phẫu tích và di động đại

tràng góc lách là kỹ thuật bắt buộc Việc phẫu

tích và di động đại tràng xuống, đại tràng góc

lách và thậm chí đại tràng ngang nhằm 2 mục

đích: vừa giúp cho việc cắt bỏ hết đoạn đại tràng

vô hạch hoặc giãn mất trương lực do ứ đọng lâu

ngày và vừa tránh được sự căng của miệng nối

đại tràng - ống hậu môn(3)

Thì hậu môn (3) (Hình 2)

Dùng van Lone Star để bộc lộ hậu môn Rạch đường vòng ống niêm mạc trên đường lược khoảng 0,5-1 cm

Phẫu tích ống niêm mạc lên cao 5-6 cm, mở lớp thanh cơ thành trước trực tràng theo chiều dọc Vào tiểu khung gặp đoạn trực tràng đã được phẫu tích bằng nội soi, giải phóng hoàn toàn trực tràng

Trực tràng, đại tràng sigma được kéo ra ngoài qua ống hậu môn Vị trí đại tràng dự định khâu nối được làm sinh thiết tức thì để khẳng định

Đoạn đại - trực tràng vô hạch và đoạn giãn được cắt bỏ Nối đại tràng bình thường với ống hậu môn trên đường lược 0,5-1 cm bằng các mũi khâu rời

Chăm sóc sau mổ

Cho trẻ uống nước, sữa hoặc bú mẹ sau khi có đại tiện sau mổ

Hướng dẫn nong hậu môn từ 2 tuần sau

mổ và 1 tháng tiếp theo

Khám kiểm tra sau mổ mỗi 3-6 tháng

Hình 1 Vị trí trocar và phẫu tích di động đại trực tràng (3)

Trang 4

Hình 2 Kéo đại trực tràng ra ngoài, cắt và khâu nối qua ống hậu môn(3)

KẾT QUẢ

Bảng 1: Đặc điểm chung

Bảng 2 Kết quả phẫu thuật

Vị trí vô hạch trong mổ

phút) Tai biến, biến chứng

Bảng 3 Kết quả theo dõi và tái khám

Thời gian theo dõi trung bình

(tháng)

37,3 ± 2,6 (thấp nhất 5,cao

nhất 62) Viêm ruột, điều trị nội khoa

BÀN LUẬN

Qua 17 trường hợp được phẫu thuật nội soi một thì kết hợp phẫu tích qua đường hậu môn trong hơn 5 năm, điều trị bệnh lý phình đại tràng bẩm sinh tại bệnh viện Trung ương Huế, chúng tôi rút ra một số kinh nghiệm và nhấn mạnh 3 vấn đề cần bàn luận sau đây

Thứ nhất, độ tuổi nào thì phẫu thuật nội soi được chỉ định

Phẫu thuật nội soi là kỹ thuật xâm nhập tối thiểu đã được ứng dụng vào phẫu thuật nội soi nhi từ nhiều năm nay

Với sự tiến bộ của phương pháp chẩn đoán cũng như những phát triển về gây mê hồi sức, việc phẫu thuật sớm và một thì để điều trị bệnh Hirschsprung đã chứng tỏ nhiều ưu điểm, bệnh nhân không phải chịu phẫu thuật 3 thì như trước với những biến chứng về phẫu thuật, gây mê hồi sức cũng như chăm sóc hậu môn nhân tạo

Trang 5

là 2 tháng, cao nhất là 65 tháng, nghiên cứu của

Jona JZ(4), tuổi trung bình là 7 tuần, thấp nhất 1

tuần và cao nhất 28 tuần

Việc tiến hành phẫu thuật nội soi cần có một

khoảng không gian thao tác (Surgical space) Vì

vậy trong trường hợp trẻ nhỏ, các quai ruột

chướng hơi và dịch vì ứ đọng sẽ khó có thể áp

dụng kỹ thuật này Tuy nhiên theo Georgeson và

cộng sự tuổi thấp nhất mà tác giả phẫu thuật nội

soi là 3 ngày tuổi (cao nhất là 96 tháng) điều này

có thể thấy việc sàng lọc chẩn đoán và theo dõi

trong thai kỳ đối với bệnh lý này cũng như các

tổn thương phối hợp đã được tiến hành một

cách có hệ thống Bên cạnh đó, sự ra đời các

dụng cụ và camera có đường kính nhỏ từ 2 – 5

mm cũng như sự phát triển của gây mê hồi sức

nhi đã giúp cho việc áp dụng kỹ thuật nội soi

cho trẻ sơ sinh ngày càng được rộng rãi (2)

Thứ hai, vì sao phải phẫu thuật nội soi mà

không ứng dụng kỹ thuật khác:

Về mặt kỹ thuật, đây là sự phối hợp của kỹ

thuật xâm nhập tối thiểu và phẫu tích truyền

thống qua đường hậu môn Mục đích của việc

ứng dụng phẫu thuật nội soi là để tránh phải

phẫu thuật mở bụng cùng với những ưu điểm

của việc tổn thương phúc mạc tối thiểu Việc

phẫu tích và di động đại tràng xuống, đại

tràng góc lách và thậm chí đại tràng ngang

hoặc toàn bộ đại tràng nhằm 2 mục đích: vừa

giúp cho việc cắt bỏ hết đoạn đại tràng vô

hạch hoặc mất trương lực do ứ đọng lâu ngày

và vừa tránh được sự căng của miệng nối đại

tràng - ống hậu môn(1,3)

Cùng một mục đích phẫu thuật là phải phẫu

tích và di động đoạn đại phía trên đoạn vô hạch

(đại tràng xuống, góc lách, đại tràng ngang) và

đoạn đại tràng giãn mất trương lực, tuy nhiên so

với đường mổ mở để phối hợp thì đây là kỹ

thuật gây tổn thương tối thiểu phúc mạc và khác

với các tác giả khác áp dụng phẫu thuật nội soi

cho mọi vị trí vô hạch đại trực tràng(1,2), chúng tôi

chỉ áp dụng kỹ thuật này cho những trường hợp

đoạn vô hạch nằm cao, còn những trường hợp

thấp thì phẫu thuật một thì qua đường hậu môn

là chọn lựa hàng đầu, điều này cũng phù hợp với quan điểm với một số tác giả(1,2)

Theo Georgeson KE và Cohen RD(3), việc phẫu tích các mạch máu và di động đoạn đại tràng sigma trực tràng qua phẫu thuật nội soi ổ bụng làm tăng sự di động của đại trực tràng và như vậy, việc phẫu tích cuối cùng qua đường hậu môn – trực tràng trỡ nên dễ dàng hơn Theo Nguyễn Thanh Liêm(5) PTNS cho phép nhìn thấy rõ ràng hơn các thành phần của tiểu khung, giảm thiểu gây sang chấn cho các cơ quan lân cận, tránh được tai biến xoắn đại tràng khi hạ xuống PTNS còn cho phép giải quyết mọi thể loại vô hạch cao

Thứ ba, kết quả và ưu điểm mang lại như thế nào

Qua nghiên cứu phẫu thuật nội soi và theo dõi đánh giá 17 trường hợp, chúng tôi ghi nhận

vị trí đoạn vô hạch trong mổ thường gặp nhất là đại tràng xuống 41,2%, đại tràng góc lách 5,9%

và chiều dài đoạn đại trực tràng cắt bỏ trung bình là 23,2 ± 4,3 cm Việc sinh thiết tức thì trong

mổ được tiến hành thường quy, vị trí đại tràng

dự định cắt nối được đánh giá trong thì phẫu thuật nội soi và việc sinh thiết được tiến hành qua đường hậu môn sau khi đại trực tràng được kéo ra ngoài

Thời gian phẫu thuật trung bình 162,2 ± 15,5 phút cao hơn so với nghiên cứu của Ahmad

M(1)và Georgeson KE(3), thời gian phẫu thuật trung bình 150 phút, nghiên cứu của Jona JZ(4)

thời gian phẫu thuật trung bình 140 phút

Thời gian theo dõi trung bình 37,3 ± 2,6 tháng, thấp nhất 5 tháng, cao nhất 62 tháng và ghi nhận viêm ruột, điều trị nội khoa thành công 17,6%, hẹp miệng nối nong được 11,8% Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Liêm gặp dò miệng nối 1,3% và theo báo cáo của các tác giả hẹp miệng nối sau mổ là 5%(2)

KẾT LUẬN

Kết quả bước đầu cho thấy phẫu thuật nội

Trang 6

soi kết hợp phẫu tích qua đường hậu môn điều

trị phình đại tràng bẩm sinh là an toàn và hiệu

quả, giải quyết được mọi thể vô hạch cao nên có

thể thay thế cho kỹ thuật mở bụng hỗ trợ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ahmad M, Sadat El (2009), Laparoscopic-Assisted Transanal

Endorectal Pull-Through for Hirschsprung’s Disease: Experience

with 15 Cases, Annals of Pediatric Surgery, Vol 5, No 3, pp: 181-186

2 Aubdoollah TH, Li K, Zhang X, Li S, Yang L, Lei HJ, Dolo PR

(2015), Clinical outcomes and ergonomics analysis of three

laparoscopic techniques for Hirschsprung's disease, World J

Gastroenterol, Vol 21(29), pp: 8903-8911

3 Georgeson KE, Cohen RD, Hebra A (1999), Primary

laparoscopic-assisted endorectal colon pull-through for

Hirschsprung’s disease: A new gold standard, Ann Surg,

Vol.229(5), pp: 678-682

4 Jona JZ (2005), Laparoscopic pull through for Hirschsprung’s

disease in infants, J Indian Assoc Pediatr Surg, Vol 10 (1), pp: 28 – 30

5 Nguyễn Thanh Liêm, Bùi Đức Hậu, Trần Anh Quỳnh (2011), So

sánh kết quả ban đầu giữa hai phương pháp phẫu thuật một thì

nội soi và đường qua hậu môn điều trị bệnh phình đại tràng

bẩm sinh, Y Học TP Hồ Chí Minh, Tập 15, Phụ bản của Số 3,

Chuyên Đề Ngoại Nhi, tr: 33 – 36

6 Thomson D, Allin B, Long AM, Bradnock T, Walker G (2015), Laparoscopic assistance for primary transanal pull-through in Hirschsprung’s disease: a systematic review and meta-analysis,

BMJ Open, doi: 10.1136/bmjopen-2014-006063

7 Trương Nguyễn Uy Linh, Phan Thị Ngọc Linh, Nguyễn Kinh Bang, Đào Trung Hiếu (2005), Điều trị phẫu thuật triệt để, một

thì ở trẻ bệnh Hirschsprung dưới ba tháng tuổi, Y Học TP Hồ

Chí Minh, Tập 9, Phụ bản của Số 1, tr: 1 – 4

8 Vu PA, Thien HH, Hiep PN (2010), Transanal one-stage endorectal pull-through for Hirschsprung disease: experiences

with 51 newborn patients, Pediatr Surg Int, DOI

101007/s00383-010-2599-0

9 Vũ Tuấn Ngọc, Trương Nguyễn Uy Linh, Đào Trung Hiếu (2005), Điều trị phẫu thuật triệt để ở trẻ bệnh Hirschsprung bằng

kỹ thuật hạ đại tràng qua ngã hậu môn, Y Học TP Hồ Chí Minh,

Tập 9, Phụ bản của Số 1, tr: 5-11

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/06/2018 Ngày bài báo được đăng: 15/08/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 04:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w