1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu thực hành tự khám vú của phụ nữ và các yếu tố liên quan

9 159 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 342,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc xác định tỷ lệ phụ nữ có thực hành tự khám vú và những yếu tố liên quan đến thực hành tự khám vú của phụ nữ.

Trang 1

NGHIÊN CỨU THỰC HÀNH TỰ KHÁM VÚ CỦA PHỤ NỮ

VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Võ Thị Ngọc Hà *, Trần Thiện Trung**, Jane Dimmitt Champion***

TÓM TẮT

Mục đích: Xác định tỷ lệ phụ nữ có thực hành tự khám vú và những yếu tố liên quan đến thực hành tự khám vú của phụ nữ

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang qua khảo sát 317 phụ nữ từ 18

tuổi trở lên tại thành phố Đà Nẵng thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp Số liệu được nhập và quản lý bằng

sử dụng phần mềm Epidata và được phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0 Phép kiểm Chi-bình phương

được sử dụng để đánh giá mối liên quan với p <0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê

Kết quả: 45,7% phụ nữ có thực hành tự khám vú Trong số những phụ nữ thực hành tự khám vú có 42,8%

phụ nữ có thực hành tự khám vú hàng tháng Chỉ có 11,7% đối tượng tham gia nghiên cứu thực hành tự khám

vú vào đúng thời điểm vài ngày sau sạch kinh, có đến 31% phụ nữ thực hiện việc khám vú lần gần nhất là trên 6 tháng Bên cạnh đó nhiều phụ nữ chưa thực hành đầy đủ 5 bước tự khám vú Các yếu tố được xác định có mối liên quan đến thực hành tự khám vú là trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, có con hay chưa, tiền

sử gia đình bị UTV Thiếu kiến thức và nhận thức cũng ảnh hưởng đến thực hành tự khám vú Các khó khăn như không biết làm thế nào để làm điều đó, sợ hãi khi chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú, lúng túng khi tự khám vú, tự khám vú mất nhiều thời gian và không nghĩ rằng tự khám vú là quan trọng cũng được xác định có liên quan đến

thực hành tự khám vú

Kết luận: Tỷ lệ thực hành tự khám vú của phụ nữ tại Đà Nẵng tuy cao nhưng chất lượng và hiệu quả mang

lại còn thấp Cần tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe về phòng ngừa ung thư vú cho phụ nữ,

nhằm khuyến khích động viên phụ nữ chủ động hơn trong việc phát hiện sớm ung thư vú

Từ khóa: Tự khám vú, yếu tố liên quan

ABSTRACT

RESEARCH PRACTICE BREAST SELF-EXAMINATION OF WOMEN AND RELATED FACTORS

Vo Thi Ngoc Ha, Tran Thien Trung, Jane Dimmitt Champion

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 5 - 2016: 244 - 252

Aim: To determine the proportion of women performing breast self-examination and related factors that influence its practicing

Methods: This was a cross-sectional study with 317 women participants aged 18 and older in Da Nang

through the interview Data was collected and evaluated by using software called Epidata, and were analyzed using SPSS version 16.0 software Chi-squared-test was used to assess the relationship, p < 0.05 was considered as statistic

Results: The research found out that only 45.7% women performed breast self-examination Among that,

there were 42.8% women who practice breast self-examination monthly Only 11.7% of participant did breast self-examination after their period 31% of women performed breast self-examination last time 6 months ago

*Đại học Kỹ Thuật Y-Dược Đà Nẵng ** Đại học Y-Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 2

Besides that, many women did not perform five full steps of breast self-examination These factors are related with practice of breast self-examination including the level of education, occupation, marital status, having children or not, and family history of breast cancer Lack of knowledge and awareness are also identified as the barriers, which influence women to do breast screening program Furthermore, there were another factors which affecting women

to practice breast self-examination such as scared of being diagnosed with breast cancer, do not know how to

perform breast self -examination

Conclusion: The percentage of practicing breast self-examination increase in Da Nang but the benefits,

which they bring, is low for women Strengthening health education and training about breast cancer prevention

in order to improve health and wellbeing of women

Keywords: Breast self-examination, factors

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư vú được coi là một trong những loại

ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ trên toàn thế

giới, chiếm 22% trong tổng số các trường hợp

ung thư mới(16) Ung thư vú đứng hàng đầu các

nguyên nhân gây tử vong của bệnh ung thư liên

quan đến phụ nữ và chiếm khoảng 1/5 tất cả các

trường hợp tử vong do ung thư ở phụ nữ tuổi từ

40 đến 50 mỗi năm(15) Hàng năm, hơn một triệu

phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú và

có hơn 600.000 ca tử vong do ung thư vú

Ở Việt Nam, theo số liệu ghi nhận ung thư

năm 2010, ung thư vú đứng hàng đầu trong các

ung thư ở phụ nữ với tỷ lệ mắc bệnh trên cả

nước là 29,9/100.000 người Theo Nguyễn Bá

Đức (2009)(10), ung thư vú chiếm 23% của tất cả

các loại ung thư mới ở phụ nữ

Mặc dù ung thư vú không thể ngăn ngừa,

nhưng ung thư vú có thể chẩn đoán sớm cũng

như tăng cơ hội điều trị thành công và cải thiện

tỷ lệ sống thêm đến hơn 90%(13) Vì vậy, phát

hiện sớm và sàng lọc ung thư vú vẫn là ưu tiên

hàng đầu và thúc đẩy điều trị hiệu quả nhất

nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống, sự tồn tại,

và dự báo tiên lượng ung thư vú Tự khám vú ở

phụ nữ là một phương pháp sàng lọc được đề

nghị để phát hiện sớm ung thư(8)

Vấn đề được đặt ra là khi người bệnh ung

thư vú ngày càng gia tăng Cũng như bất kỳ một

bệnh ung thư, nếu phát hiện sớm thì tỷ lệ chữa

khỏi bệnh cao Do vậy điều quan trọng là người

phụ nữ phải hiểu và biết tự khám vú Đây là một

vấn đề mà tất cả các đội ngũ cán bộ y tế rất trăn trở trong đó có người điều dưỡng Người điều dưỡng làm thế nào để hỗ trợ những người phụ

nữ trong vấn đề trên Vì vậy chúng tôi tiến hành

đề tài "Nghiên cứu thực hành tự khám vú của phụ nữ và các yếu tố liên quan” với các mục tiêu

- Xác định tỷ lệ phụ nữ có thực hành tự khám vú

- Xác định những yếu tố liên quan đến thực hành tự khám vú của phụ nữ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang

Đối tượng nghiên cứu

Phụ nữ độ tuổi từ 18 trở lên, sống tại 7 quận, huyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

ít nhất 6 tháng

Cỡ mẫu

sử dụng công thức

n = Z2(1- α/2) p (1 - p)

d2

Trong đó n: là số lượng mẫu nghiên cứu

Z(1-α/2) = 1,96 với độ tin cậy 95%

d = 0.05 với độ chính xác mong muốn 95%

p: Tỷ lệ phụ nữ có thực hành tự khám vú

Theo nghiên cứu của tác giả Lưu Thị Thủy(6)

(2013) có 28,9% phụ nữ có thực hành tự khám vú nên chọn p= 0,29

Trang 3

Thay các giá trị vào công thức trên ta có:

n = 317

Kỹ thuật chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu cụm 3

giai đoạn

Quy trình chọn mẫu:

- Bước 1: chọn ngẫu nhiên 3 quận từ 7 quận,

huyện của thành phố Đà Nẵng

- Bước 2: Mỗi quận đã chọn, chọn ngẫu nhiên

2 phường

- Bước 3: trong mỗi phường, số người tham

gia đã được tính toán bằng cách sử dụng công

thức tỷ lệ như sau

ni : số phụ nữ tham gia của mỗi phường

n : 317 phụ nữ

Ni : số phụ nữ của mỗi phường

N : tổng số phụ nữ của 6 phường

- Bước 4: nghiên cứu viên gặp lãnh đạo của

trạm để có được danh sách tên của những người

phụ nữ sống tại phường Những phụ nữ được

lựa chọn bằng cách sử dụng đơn giản kỹ thuật

lấy mẫu ngẫu nhiên

Tiêu chí chọn mẫu

Tiêu chí chọn vào

Phụ nữ trong độ tuổi từ 18 trở lên, sống tại 7

quận, huyện thành phố Đà Nẵng ít nhất 6 tháng,

có khả năng giao tiếp bình thường

Tiêu chí loại ra

Phụ nữ bị UTV, phụ nữ bị suy giảm nhận

thức

Phương pháp thu thập số liệu

Các thông tin sẽ được lấy thông qua cuộc

phỏng vấn trực tiếp tại nhà riêng của họ bằng bộ

câu hỏi thiết kế sẵn

Nghiên cứu viên thông báo các thông tin về

nghiên cứu và sự tham gia của những người phụ

nữ được thể hiện qua bảng đồng ý tham gia

nghiên cứu

Những người tham gia quyết định tham gia

vào nghiên cứu này có thể dừng bất cứ lúc nào

Công cụ thu thập số liệu

Nghiên cứu được tiến hành thông qua bộ câu hỏi dành cho mỗi đối tượng nghiên cứu Bộ câu hỏi này được xây dựng dựa theo sự tham khảo những bộ câu hỏi của các đề tài nghiên cứu trước(1,6,11)

Bộ câu hỏi gồm có 4 phần Phần 1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu Phần này gồm 7 câu hỏi

Phần 2: Nhận thức, kiến thức về UTV và tự khám vú Gồm 8 câu hỏi

Phần 3: Thực hành tự khám vú Gồm 10 câu hỏi

Phần 4: Các khó khăn trong thực hành tự khám vú Gồm 11 câu hỏi

Phân tích dữ liệu

Nhập và quản lý số liệu bằng sử dụng phần mềm Epidata 3.1

Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0

Phép kiểm Chi-bình phương được sử dụng

để đánh giá mối liên quan giữa thực hành tự kiểm tra vú với các biến đặc điểm chung, nhận thức, kiến thức về UTV, tự khám vú và các khó khăn Kết quả nghiên cứu được coi là có ý nghĩa thống kê với p <0,05

KẾT QUẢ Thực hành tự khám vú của đối tượng nghiên cứu

54,3% phụ nữ không thực hành tự khám

vú Tỷ lệ phụ nữ tự khám vú 1 lần/ tháng là 42,8% Chỉ có 11,7% phụ nữ thực hành tự khám vú vào đúng thời điểm vài ngày sau sạch kinh Có đến 31% phụ nữ thực hiện việc khám vú gần nhất là trên 6 tháng Chưa đến 50% phụ nữ đứng trước gương để quan sát 2 bên ngực cũng như nặn đầu vú để kiểm tra dịch hoặc máu chảy ra với tỷ lệ 48,3% và 40,0% 91% phụ nữ thực hành tự khám vú là

để kiểm tra vú thường xuyên

Trang 4

Bảng 1- Thực hành tự khám vú của đối tượng nghiên cứu

Tự thực hành khám vú Có 145 45.7

Không 172 54.3

Tần suất tự thực hành khám vú

1 lần trong 1 tháng 62 42.8

1 lần trong 2 tháng 24 16.6

1 lần trong 3-5 tháng 23 15.9 1-2 lần trong năm 36 24.8

Thời điểm tự khám vú

Vài ngày sau sạch kinh 17 11.7 Bất cứ thời gian nào 108 74.5 Thời gian khác 20 13.8 Tuổi bắt đầu tự khám vú < 20 tuổi 10 6,9

≥ 20 tuổi 135 93,1

Lần gần đây nhất thực hành tự khám vú

1 tháng trước 75 51,7

2 6 tháng trước 25 17.3

> 6 tháng trước 45 31,0

Có đứng trước gương quan sát 2 bên ngực Có 70 48,3

Không 75 51,7

Có nặn đầu núm vú xem có dịch hoặc có máu chảy ra Có 58 40,0

Không 87 60,0

Có chụm các ngón tay lại dùng phần phẳng của ngón

tay để cảm nhận tổ chức của vú xem có u cục

Không 47 32,4

Có dùng tay kiểm tra hõm nách xem có hạch không Có 100 69,0

Không 45 31,0

Lý do tự khám vú

Kiểm tra vú thường xuyên 132 91,0 Gia đình có người bị UTV 15 10,3

Một số yếu tố liên quan đến thực hành tự khám vú của đối tượng nghiên cứu

Bảng 2 Mối liên quan giữa thực hành tự khám vú và các đặc điểm chung

Thực hành tự khám vú Thông tin chung

OR 95%CI p – value

Tuổi

18 – 29 tuổi 47 38,5 75 61,5 - -

p > 0,05

30 - 44 tuổi 54 55,1 44 44,9 1,6 1,14 – 3,36

≥ 45 tuổi 44 45,4 53 54,6 1,33 0,77 – 2,78

Trình độ học vấn

≤ Tiểu học 8 25,0 24 75,0 - -

p < 0,05 THCS 39 45,9 46 54,1 2,54 1,03 – 6,30

THPT 35 42,2 48 57,8 2,19 0,88 – 5,44

> THPT 63 53,8 54 46,2 3,50 1,45 – 8,43

Nghề nghiệp chính

Công chức 42 66,7 21 33,3 -

p < 0,05

Công nhân 20 36,4 35 63,6 0,29 0,13 – 0,61 Nông dân 4 17,4 19 82,6 0,11 0,03 – 0,35 Buôn bán 42 45,2 51 54,8 0,41 0,21 – 0,80 HS-SV 12 32,4 25 67,6 0,24 0,10 – 1,57 Khác 25 54,3 21 45,7 0,60 0,27 – 1,30

Tình trạng hôn nhân

Kết hôn 119 49,8 120 50,2 - -

p < 0,05 Độc thân 25 32,9 51 67,1 0,49 0,29 – 0,85

Khác 1 50,0 1 50,0 1,01 0,06 – 16,31

Đã sinh con Có 114 50,2 113 49,8 - - p < 0,05

Chưa 31 34,4 59 65,6 0,52 0,31 – 0,86 Tiền sử gia đình bị

UTV

Có 16 80,0 4 20,0 - -

p < 0,05 Không 129 43,4 168 56,6 0,19 0,06 – 0,59

Trang 5

Thực hành tự khám vú Thông tin chung

OR 95%CI p – value

Tiền sử gia đình có bất

kỳ bệnh ung thư

Có 23 65,7 12 34,3 - -

p < 0,05 Không 122 43,3 160 56,7 0,40 0,19 – 0,83

Nhận xét: đối tượng tham gia nghiên cứu

có trình độ học vấn cao thì thực hành tự khám

vú nhiều Phụ nữ là công chức thì có tỷ lệ thực

hành tự khám vú cao hơn các nghề khác Đối

tượng là độc thân có thực hành tự khám vú là

32,9% ít hơn so với đối tượng kết hôn và khác

lần lượt là 49,8% và 50% ( OR = 0,49, KTC 95%:

0,29-0,85) Phụ nữ chưa sinh con thực hành tự khám vú 34,4% ít hơn so với phụ nữ đã sinh con 50,2% (OR = 0,52, KTC 95%: 0,31-0,86) Phụ

nữ không có tiền sử gia đình bị ung thư vú thực hành tự khám vú 43,4%, ít hơn so với phụ

nữ gia đình có tiền sử UTV 80% (OR = 0,19, KTC 95%: 0,06-0,59)

Mối liên quan giữa thực hành tự khám vú và kiến thức về ung thư vú, tự khám vú của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3 Mối liên quan giữa thực hành tự khám vú và kiến thức về ung thư vú, tự khám vú

Thực hành tự khám vú Kiến thức Có Không OR 95%CI p – value

Bệnh UTV là bệnh

có thể gây chết người

không

Có 123 50,8 119 49,2 - - p > 0,05 Không 15 42,9 20 57,1 1,04 0,43 – 2,51

Không biết 7 17,5 33 82,5 0,42 0,14 – 1,22 UTV có phát hiện sớm

được không

Có 131 58,5 93 41,5 - - p < 0,05 Không 3 15,0 17 85,0 0,28 0,71 – 1,13

Không biết 11 15,1 62 84,9 0,27 0,27 – 0,61 Biết làm thế nào

để thực hành tự khám vú

Có 90 90,0 10 10,0 - - p < 0,05 Không 55 25,3 162 74,7 0,05 0,02 – 0,11

Nhận xét: Phụ nữ không có kiến thức về

UTV có thể phát hiện sớm được thì thực hành

tự khám vú là 15% ít hơn so với phụ nữ gia

đình có kiến thức 58,5% (OR = 0,28, KTC 95%:

0,71-1,13).Phụ nữ không biết làm thế nào để

thực hành tự khám vú thì thực hành tự khám

vú là 25,3% rất ít so với phụ nữ biết làm thế nào để thực hành tự khám vú 90% (OR = 0,05, KTC 95%: 0,02 – 0,11)

Mối liên quan giữa thực hành tự khám vú và nhận thực về ung thư vú, tự khám vú của đối tượng nghiên cứu

Bảng 4 Mối liên quan giữa thực hành tự khám vú và nhận thức về ung thư vú, tự khám vú

Thực hành tự khám vú Nhận thức Có Không OR 95%CI p – value

Nghe nói về UTV Có 139 47,3 155 52,7 - - p > 0,05

Không 6 26,1 17 73,9 0,47 0,17 – 1,29

Tự khám vú là quan trọng

để phát hiện sớm UTV

Có 138 50,5 137 49,5 - - p < 0,05 Không 7 16,7 35 83,3 0,22 0,09 – 0,57

Phụ nữ nên thực hành

tự khám vú từ 20 tuổi trở lên

Có 138 49,8 139 50,2 - - p < 0,05 Không 7 17,5 33 82,5 0,32 0,13 – 0,79

Nhận xét: Phụ nữ không có nhận thức tự

khám vú là quan trọng để phát hiện sớm UTV

thì thực hành tự khám vú là 14,3% ít hơn so

với phụ nữ có nhận thức 50,5% (OR = 0,22,

KTC 95%: 0,09-0,57).Phụ nữ 20 tuổi trở lên

không có nhận thức về thực hành tự khám thì thực hành tự khám vú là 17,5% ít hơn so với phụ nữ có nhận thức 49,8% (OR = 0,32 KTC 95%: 0,13-0,79)

Trang 6

Mối liên quan giữa thực hành tự khám vú và các khó khăn khi thực hành tự khám vú của đối tượng nghiên cứu

Thực hành tự khám vú Khó khăn

OR 95%CI p – value

Không biết làm thế nào để

làm điều đó

Đồng ý 88 36,1 156 63,9 - -

p < 0,05 Không đồng ý 57 78,1 16 21,9 4,19 2,03 – 8,67

Không có bất kỳ triệu

chứng gì

Đồng ý 114 42,5 154 57,5 - -

p > 0,05 Không đồng ý 31 63,3 18 36,7 1,51 0,67 – 3,38

Sợ hãi khi bị chẩn đoán

mắc bệnh UTV

Đồng ý 133 46,0 156 54,0 - -

p < 0,05 Không đồng ý 12 42,9 16 57,1 0,33 0,12 – 0,92

Lo lắng về bệnh UTV khi

tự khám vú

Đồng ý 86 38,5 140 61,5 - -

p > 0,05 Không đồng ý 58 63,7 33 36,3 1,29 0,65 – 2,55

Lúng túng khi tự khám vú Đồng ý 56 29,0 137 71,0 - - p < 0,05

Không đồng ý 89 71,8 35 28,2 3,41 1,78 – 6,54 Không có đủ sự riêng tư

để tự khám vú

Đồng ý 24 31,2 53 68,8 - -

p > 0,05 Không đồng ý 121 50,4 119 49,6 0,82 0,40 – 1,72

Tự khám vú mất nhiều

thời gian

Đồng ý 10 13,0 67 87,0 - -

p < 0,05 Không đồng ý 135 56,3 105 43,8 3,41 1,45 – 8,02

Khó chịu khi tự khám vú Đồng ý 17 18,5 75 81,5 - - p > 0,05

Không đồng ý 128 56,9 97 43,1 1,57 0,75 – 3,37 Không bao giờ có thể bị

UTV

Đồng ý 21 27,6 55 72,4 - -

p > 0,05 Không đồng ý 124 51,5 117 48,5 1,25 0,61 – 2,57

Không tin vào hiệu quả

của việc tự khám vú

Đồng ý 19 25,7 55 74,3 - -

p > 0,05 Không đồng ý 126 51,9 117 48,1 1,65 0,72 – 3,74

Không nghĩ rằng tự khám

vú là quan trọng

Đồng ý 21 22,6 72 77,4 - -

p < 0,05 Không đồng ý 124 55,4 100 44,6 2,14 1,06 – 4,34

Tổng 145 45.7 172 54.3

Bảng 5 Mối liên quan giữa thực hành tự khám vú và các khó khăn khi thực hành tự khám vú

Nhận xét: liên quan giữa không biết làm

thế nào để làm điều đó, sợ hãi khi chẩn đoán

mắc bệnh UTV, lúng túng khi tự khám vú, tự

khám vú mất nhiều thời gian và không nghĩ

rằng tự khám vú là quan trọng với thực hành

tự khám vú là có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

BÀN LUẬN

Tỷ lệ thực hành tự khám vú

Nghiên cứu của chúng tôi có 317 đối tượng

tham gia Trong số này có 45,7% phụ nữ có thực

hành tự khám vú Tỷ lệ này cao hơn so với tỷ lệ

28,9% của Lưu Thị Thủy (2013)(6) ở quận Thanh

Khê thành phố Đà Nẵng Tuy nhiên con số này

thấp hơn một nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bích

(2009)(11) tại xã Hưng Đạo huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải

Dương với tỷ lệ phụ nữ có thực hành tự khám

vú ở nhà khá cao 64,7%, thấp hơn các tác giả

nước ngoài trong nghiên cứu của Al-Naggar

(2011)(2)tỷ lệ thực hành tự khám vú là 55,4% và của tác giả Minhat (2014)(7) là 71,6%

Trong số những phụ nữ có thực hành tự khám vú có đến 42,8% phụ nữ có thực hành tự khám vú hàng tháng Tỷ lệ này khá cao so với một số nghiên cứu khác Như của tác giả Al-Dubai (2012)(1) là 28,5%, tác giả Minhat (2014)(7)

là 24,2%

Tỷ lệ phụ nữ tự khám vú đúng thời điểm (vài ngày sau sạch kinh) trong nghiên cứu của chúng tôi là rất thấp 11,7% Đa phần phụ nữ được phỏng vấn trả lời rằng họ tự khám vú bất

cứ khi nào họ nhớ đến như khi đi tắm, trước khi ngủ Điều này cho thấy phụ nữ trong nghiên cứu của chúng tôi thiếu kiến thức về thời điểm tự khám vú, dẫn đến việc thực hành tự khám vú chưa hiệu quả trong việc phát hiện sớm các bất thường trên vú

Trang 7

Hầu hết phụ nữ kiểm tra vú lúc trên 20 tuổi

93,1% Kết quả này cũng gần giống với kết quả

của Al-Dubai (2012)(1) là 77,2 % phụ nữ khám vú

lúc sau 19 tuổi

Tỷ lệ phụ nữ tự khám vú lần gần nhất là

một tháng trước ngày phỏng vấn cao 51,7 %,

còn lại là lâu hơn Tỷ lệ này cao hơn và khác so

với kết quả của Al-Dubai (2012)(1) 14,6%, trong

đó có 45,5% phụ nữ khám lần gần nhất là một

năm trước

Phần lớn lý do thực hành tự khám vú là để

kiểm tra vú thường xuyên, một số ít với lý do gia

đình họ có tiền sử bị ung thư vú hoặc lý do khác

Kết quả này cũng tương tự như kết quả nghiên

cứu của Al-Dubai (2012)(1)

Liên quan giữa thực hành tự khám vú và

đặc điểm chung của đối tượng nghiên

cứu

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy liên quan

giữa nhóm tuổi và thực hành tự khám vú không

có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Theo tác giả

Balogun (2005)(3) ở Nigeria cũng cho kết quả

tương tự

Trong nghiên cứu của chúng tôi liên quan

giữa thực hành tự khám vú và trình độ học vấn

có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Mối liên quan này

phù hợp với kết quả nghiên cứu của Al-Dubai và

cộng sự (2012)(4), tác giả Ogunbode (2015)(12)

Nghiên cứu của tác giả Balogun (2007)(3), cho

thấy không có sự liên quan giữa thực hành tự

khám vú và trình độ học vấn của phụ nữ Theo

Nguyễn Ngọc Bích (2009)(11) cũng có kết quả

tương tự

Liên quan giữa thực hành tự khám vú và

nghề nghiệp trong nghiên cứu của chúng tôi

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với

(p<0,05) Phụ nữ là công chức viên chức có tỷ

lệ thực hành tự khám vú 66,7% cao hơn so với

phụ nữ có nghề khác Kết quả cuả chúng tôi

cũng tương tự như kết quả của Al-Dubai

(2012)(1), Ogunbode (2015)(12)

Đối tượng tham gia nghiên cứu là độc thân

có thực hành tự khám vú ít hơn so với đối tượng

kết hôn và khác, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Điều này phù hợp với nhiều nghiên cứu của tác giả Minhat (2014)(7), tác giả Montazeri (2008)(9)

Liên quan giữa thực hành tự khám vú và việc có con hay chưa có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Phụ nữ có con thì thực hành tự khám

vú nhiều hơn phụ nữ chưa có con

Liên quan giữa thực hành tự kiểm tra vú với tiền sử gia đình bị UTV có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Phụ nữ có tiền sử gia đình bị ung thư

vú quan tâm đến thực hành tự khám vú nhiều hơn phụ nữ gia đình không có tiền sử UTV Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới(2,5)

Liên quan giữa thực hành tự khám vú và kiến thức về ung thư vú, tự khám vú của đối tượng nghiên cứu

Những phụ nữ cho rằng UTV có thể phát hiện sớm được thì có tỷ lệ thực hành tự khám vú cao hơn với tỷ lệ là 58,5% so với những phụ nữ khác Những phụ nữ có kiến thức về việc làm thế nào để khám vú thì có tỷ lệ thực hành tự khám vú cao so với những phụ nữ không biết gì

về tự khám vú Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trên thế giới họ cũng nhận định rằng nguyên nhân để phụ nữ không thực hành tự khám vú là do thiếu kiến thức(2,4,14)

Liên quan giữa thực hành tự khám vú và nhận thực về ung thư vú, tự khám vú của đối tượng nghiên cứu

Liên quan giữa nghe nói về ung thư vú với thực hành tự khám vú của đối tượng nghiên cứu không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Trong 92,7% (294/317) phụ nữ có nghe nói về ung thư vú chỉ

có 47,3% (199/317) phụ nữ có thực hành tự khám

vú Kết quả này có thấp hơn so với nghiên cứu của Al-Dubai (2012)(1), với 81,1% phụ nữ có nghe nói về UTV và 55% trong số đó có thực hành tự khám vú

Liên quan giữa nhận thức tự khám vú là quan trọng để phát hiện sớm UTV với thực hành

Trang 8

tự khám vú có ý nghĩa thống kê (p< 0,05) Tỷ lệ

thực hành tự khám vú cao hơn ở những phụ nữ

có sự nhận thức về tầm quan trọng của tự khám

vú trong việc phát hiện sớm UTV Kết quả trong

nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả

của một số tác giả khác trên thế giới(5,17)

Liên quan giữa thực hành tự khám vú và

các khó khăn khi thực hành tự khám vú

của đối tượng nghiên cứu

Liên quan giữa thực hành tự khám vú và

không biết làm thế nào để làm điều đó có ý

nghĩa thống kê (p< 0,05) Không biết làm thế nào

để tự khám vú là khó khăn đầu tiên có liên quan

đến thực hành tự khám vú Những phụ nữ

không gặp phải khó khăn này thì có tỷ lệ thực

hành tự khám vú cao gấp 4,19 lần so với những

phụ nữ gặp phải khó khăn này Kết quả này

cũng phù hợp so với nhiều tác giả, họ cho rằng

một khi phụ nữ không biết làm thế nào để tự

khám vú thì họ sẽ không làm(1,2,17)

Bên cạnh đó có các mối liên quan có ý

nghĩa thống kê (p< 0,05) giữa thực hành tự

khám vú của đối tượng tham gia nghiên cứu

với các khó khăn như sợ hãi khi chẩn đoán

mắc bệnh UTV, lúng túng khi tự khám vú, tự

khám vú mất nhiều thời gian và không nghĩ

rằng tự khám vú là quan trọng Kết quả trên

cho thấy một khi phụ nữ gặp phải những khó

khăn trên sẽ là những trở ngại cho việc thực

hành tự khám vú của họ Đặc biệt khó khăn

lúng túng khi tự khám vú, không nghĩ rằng tự

khám vú là quan trọng cho thấy rằng phụ nữ

gặp vấn đề trong nhận thức và kiến thức về

thực hành tự khám vú Có một lỗ hổng trong

việc tuyên truyền và tư vấn tầm soát ung thư

vú của nhân viên Y tế Khi tỷ lệ phụ nữ nhận

thông tin về thực hành tự khám vú từ nhân

viên Y tế cao nhất là 47% nhưng nhận thức và

kiến thức của họ thì còn kém Cần chú trọng

hơn trong chất lượng giáo dục sức khỏe cho

phụ nữ

KẾT LUẬN

Có 45,7% phụ nữ có thực hành tự khám vú

Trong số những phụ nữ có thực hành tự khám

vú có: 42,8% phụ nữ có thực hành tự khám vú hàng tháng, Chỉ có 11,7% đối tượng tham gia nghiên cứu thực hành tự khám vú vào đúng thời điểm vài ngày sau sạch kinh Có đến 31% phụ

nữ thực hiện việc khám vú gần nhất là trên 6 tháng Chưa đến 50% phụ nữ đứng trước gương

để quan sát 2 bên ngực cũng như nặn đầu vú để kiểm tra dịch hoặc máu chảy ra lần lượt là 48,3%

và 40,0%

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có mối liên quan giữa trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, có con hay chưa, tiền sử gia đình bị UTV của đối tượng nghiên cứu và thực hành tự khám vú Liên quan giữa thực hành tự khám vú với kiến thức UTV có thể phát hiện sớm và biết làm thế nào để thực hành tự khám

vú Cũng như liên quan giữa nhận thức tự khám

vú là quan trọng để phát hiện sớm UTV và phụ

nữ nên thực hành tự khám vú từ 20 tuổi trở lên Bên cạnh đó, liên quan giữa thực hành tự khám vú còn có các khó khăn như không biết làm thế nào để làm điều đó, sợ hãi khi chẩn đoán mắc bệnh UTV, lúng túng khi tự khám vú, tự khám vú mất nhiều thời gian và không nghĩ rằng tự khám vú là quan trọng

Vì vậy, cần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, tư vấn và tầm soát ung thư vú cho phụ

nữ trên toàn thành phố dưới nhiều hình thức như: pano, áp phích, tờ rơi Việc tư vấn, tuyên truyền rộng rãi trên tất cả các đối tượng, trong

đó cần chú ý đối tượng trẻ, chưa có gia đình, người có trình độ học vấn thấp, công nhân, nội trợ Người cán bộ Y tế đóng vai trò nòng cốt trong việc phát huy kỹ năng giáo dục sức khỏe

để tư vấn và khuyến khích phụ nữ nhận thức đúng và duy trì hành vi thực hành tự khám vú đúng và hiệu quả Vì vậy đội ngũ nhân viên Y tế phải được tập huấn thật tốt về kiến thức cũng như kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe cộng đồng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Al Dubai, Ganasegeran SAR, Alabsi K, Manaf AM, Ijaz MRA, Kassim SS (2012), "Exploration of barriers to

Trang 9

breast-self examination among urban women in Shah Alam,

Malaysia: a cross sectional study" Asian Pac J Cancer Prev,

13, (4), pp 1627-1632

2 Al-Naggar, Al-Naggar RA, Bobryshev DH, Chen YV,

Assabri RA (2011), "Practice and barriers toward breast

self-examination among young Malaysian women" Asian Pac J

Cancer Prev, 12, (5), pp 1173-1178

3 Balogun MO, Owoaje ET (2007), "Knowledge and practice

of breast self-examination among female traders in Ibadan,

Nigeria" Annals of Ibadan Postgraduate Medicine, 3, (2), pp

52-56

4 Chong PN, Krishnan M, Hong CY, Swah TS (2002),

"Knowledge and practice of breast cancer screening

amongst public health nurses in Singapore" Singapore

medical journal, 43, (10), pp 509-516

5 Loh SY, Chew SL (2011), "Awareness and practice of breast

self examination among Malaysian women with breast

cancer" Asian Pac J Cancer Prev, 12, (1), pp 199-202

6 Lưu Thị Thủy (2013), "Nghiên cứu kiến thức, thái độ và

thực hành chăm sóc phòng ngừa ung thư vú ở phụ nữ trong

độ tuổi sinh đẻ từ 15 đến 49 tuổi, quận Thanh Khê – thành

phố Đà Nẵng" Tạp chí Y học thực hành, (862-863), tr 282-288

7 Minhat HS, Mustafa J, Zain NM (2014), "The practice of

breast self-examination (bse) among women living in an

urban setting in malaysia" International Journal of Public

Health and Clinical Sciences, 1, (2), pp 91-99

8 Mittra I, Baum M, Thornton H, Houghton J (2000), "Is

clinical breast examination an acceptable alternative to

mammographic screening?" BMJ: British Medical Journal,

321, (7268), pp 1071

9 Montazeri A, Vahdaninia M, Harirchi I, Harirchi AM,

Sajadian A, Khaleghi F, Ebrahimi M, Haghighat S, Jarvandi

S (2008), "Breast cancer in Iran: need for greater women

awareness of warning signs and effective screening

methods" Asia Pacific Family Medicine, 7, (1), pp.1

10 Nguyễn Bá Đức (2009), "Tình hình mắc bệnh ung thư vú ở

phụ nữ tại một số tỉnh thành giai đoạn 2001-2007" Hội thảo

quốc gia chuyên đề ung thư vú, Huế, Việt Nam

11 Nguyễn Ngọc Bích (2009), "Một số yếu tố liên quan đến hành vi tự khám vú tại nhà ở phụ nữ độ tuổi 15-49 tại xã

Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương " Tạp chí Y tế công cộng, 1, (11), tr 38-43

12 Ogunbode AM, Fatiregun AA, Ogunbode OO (2015),

"Breast self-examination practices in Nigerian women

attending a tertiary outpatient clinic" Indian journal of cancer, 52, (4), pp 520

13 Parkin DM, Bray F, Ferlay J, Pisani P (2005), "Global cancer

statistics, 2002" CA: a cancer journal for clinicians, 55, (2), pp

74-108

14 Seif NY, Aziz M (2000), "Effect of breast self-examination training program on knowledge, attitude and practice of a

group of working women" J Egypt Natl Canc Inst, 12, (2), pp

105-115

15 Shabani M, Moghimi M, Zamiri RE, Nazari F, Mousavinasab N, Shajari Z (2014), "Life Skills Training Effectiveness on Non-Metastatic Breast Cancer Mental

Health: A Clinical Trial" Iranian Red Crescent medical journal,

16, (1)

16 Voogd AC, Van Oost FJ, Rutgers EJ, Elkhuizen PH, Van Geel AN, Schei-jmans, LJ (2005), "Long-term prognosis of patients with local recur-rence after conservative surgery

and radiotherapy for early breast cancer" Eur J Cancer, 41,

(17), pp 2637–2644

17 Yoo BN, Choi KS, Jung KW, Jun JK (2012), "Awareness and practice of breast self-examination among Korean women:

results from a nationwide survey" Asian Pac J Cancer Prev,

13, (1), pp 123-125

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 31/8/2016 Ngày bài báo được đăng: 05/10/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 04:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w