Bài viết đánh giá tính an toàn và hiệu quả điều trị qua mức độ cải thiện triệu chứng đường tiết niệu dưới, lưu lượng dòng tiểu tối đa và chất lượng cuộc sống sau cắt đốt nội soi bằng điện lưỡng cực trong điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt.
Trang 1ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CẮT ĐỐT NỘI SOI BẰNG ĐIỆN LƯỠNG CỰC TRONG ĐIỀU TRỊ TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT
Lê Trọng Khôi*, Nguyễn Minh Quang*, Nguyễn Văn Ân*, Nguyễn Tế Kha*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá tính an toàn và hiệu quả điều trị qua mức độ cải thiện triệu chứng đường tiết niệu dưới,
lưu lượng dòng tiểu tối đa và chất lượng cuộc sống sau cắt đốt nội soi bằng điện lưỡng cực trong điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bao gồm 24 bệnh nhân được cắt đốt nội soi bằng điện lưỡng cực
trong điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt Trong thời gian từ 01/9/2014 đến 30/04/2015, tại bệnh viện Bình Dân Thiết kế nghiên cứu mô tả hàng loạt ca
Kết quả: Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 68,95 ± 6,71 16 TH (trường hợp) nhập viện vì tiểu khó,
chiếm 66,67 %, còn lại là bí tiểu Thời gian phẫu thuật trung bình: 52,24 ± 17,52 phút Thời gian nằm viện trung bình 2,95 ± 1,08 Thời gian đặt thông niệu đạo trung bình 2,54 ± 0,97 ngày (dài nhất là 4 ngày, ngắn nhất 1 ngày) IPSS, Qmax, QoL đều cải thiện hơn sau mổ 3 tháng Tỷ lệ tai biến, biến chứng chung thấp Kết quả cải thiện tốt 75% và khá là 25%
Kết luận: Cắt cắt đốt nội soi bằng điện lưỡng cực trong điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt là phương
pháp an toàn hiệu quả ít tai biến biến chứng và tỉ lệ thành công cao
Từ khóa: tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt, điện lưỡng cực, cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt qua ngả niệu đạo
ABSTRACT
ACCESS RESULTS OF BIPOLAR TRANSURETHRAL RESECTION OF THE PROSTATE
TO TREAT BENIGN PROSTATE HYPERPLASIA
Le Trong Khoi, Nguyen Minh Quang, Nguyen Van An, Nguyen Te Kha
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016:206 - 211
Objective: To evaluate the safety and the outcome about bipolar transurethral resection of the benign
prostate hyperplasia by LUTS, Qmax and QoL
Patiens and method: This includes 24 patients undergone bipolar transurethral resection of the prostate to
treat BPH This was the case series at Bình Dân hospital from September 2014 to May 2015
Results: The average age: 68.95 ± 6.7years, dysuria: 16 (66.67 %) urinary retension 33.3%, operation time:
52.24 ± 17.52 mins, duration of hospitalization: 2.95 ± 1.08 days, duration of catheterization: 2.54 ± 0.97 days (1-4) IPSS, Qmax, QoL after 3 month were improved The rate of disasters and complications The good results 75% and average: 25%
Conclusion: Bipolar transurethral resection of the prostate to treat BPH is the method of safe, effective, less
complications and high success rate
Key words: Benign prostate hyperplasia, bipolar, transurethral resection
* Khoa Niệu A, BV Bình Dân
Tác giả liên lạc: PGS.TS Nguyễn Văn Ân ĐT: 0908163284 Email: vanan63@yahoo.comn
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, cắt đốt nội soi (CĐNS) bằng
điện đơn cực là tiêu chuẩn vàng trong chọn
lựa điều trị phẫu thuật (PT) đối với TSLTTTL
Tuy nhiên, những tai biến và biến chứng vẫn
còn đặc biệt trên những bệnh nhân cao tuổi có
bệnh lý nền nội khoa nặng Trong thập kỉ gần
đây, CĐNS với điện lưỡng cực (Bipolar-TURP)
kết quả thu được khả quan như trong báo cáo
phân tích gộp Mamoulakis và cộng sự (công
bố năm 2012 trên BJU, bao gồm 16 nghiên cứu
RCT đã được công bố trên các tạp chí y văn từ
2005-2011 với 1406 bệnh nhân) cho thấy ưu
điểm kỹ thuật của CĐNS bằng điện lưỡng cực
giúp hạn chế hội chứng sau CĐ, giảm tỉ lệ cần
truyền máu trong mổ, thời gian lưu thông và
nằm viện cũng ngắn hơn(9)…
Thực tế CĐNS bằng điện lưỡng cực trong
TSLT-TTL có thật sự mang lại hiệu quả cao trong
điều trị, an toàn và hạn chế được nhiều biến
chứng hơn so với CĐNS tiêu chuẩn như trên lý
thuyết và nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
hay không? Kỹ thuật này có nên được phổ biến
rộng rãi ở hầu hết các đơn vị y tế chuyên khoa
hay không?
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục
tiêu sau: đánh giá tính an toàn và hiệu quả điều
trị qua mức độ cải thiện triệu chứng đường tiết
niệu dưới (TCĐTND), lưu lượng dòng tiểu tối đa
và chất lượng cuộc sống sau CĐNS TSLTTTL
bằng Bipolar
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tiền cứu mô
tả hàng loạt ca, có kiểm chứng và theo dõi Trước
phẫu thuật bệnh nhân tự đánh giá vào bảng
điểm IPSS, QoL Các xét nghiệm tiền phẫu, PSA,
FPSA, %PSA, Siêu âm đo thể tích TLT và RUV,
đo niệu dòng đồ (Qmax)
Dụng cụ và trang thiết bị: Một máy phát điện
lưỡng cực Storz Autocon II400 (KARL STORZ),
ống soi 24-26 Fr 30o có dòng chảy 2 chiều liên tục,
dao cắt lưỡng cực, nước muối sinh lý (NaCl 0,9%) dùng làm dung dịch tưới rữa
Trong khi phẫu thuật theo dõi: thời gian mổ, các tai biến trong cuộc mổ Theo dõi (sau mổ, 3 tháng) :thời gian nằm viện, lưu thông niệu đạo, đánh giá lại TCĐTND theo bảng điểm IPSS, QoL Xét nghiệm Hb, Hct, Na ngay sau phẫu thuật, PSA, Siêu âm bụng: đánh giá kích thước TTL, RUV, Đo niệu dòng: Qmax
Thiết lập bệnh án nghiên cứu với đầy đủ chi tiết để thu thập các dữ liệu phục vụ cho việc thống kê Số liệu được xử lý và phân tích trên phần mềm SPSS 22.0
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian từ 01/9/2014 đến 30/04/2015, chọn được 24 TH (trường hợp) thỏa các tiêu chuẩn Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 68,95 ± 6,71, nhỏ nhất là 58 tuổi và lớn nhất là 82 tuổi 8 TH nhập viện vì lý do bí tiểu cấp có chiếm
33,33 % 16 TH vì tiểu khó, chiếm 66,67 %
Điểm số IPSS trung bình trước mổ là 25,87± 4,84 điểm, thấp nhất là 18 điểm, cao nhất là 35 điểm Trong đó mức độ nhẹ (< 7 điểm) 0 %, mức
độ nặng (20 – 35 điểm) chiếm đa số với 83,3 % Kết quả nhóm triệu chứng bế tắc nổi trội hơn nhóm triệu chứng kích thích
Bảng 1: Tương quan điểm số IPSS với các thông số
khác
Thông số P Tương quan
IPSS với VTTL > 0,05 Không tương quan IPSS với RU < 0,05 Tương quan thuận, mức độ
yếu IPSS với Qmax < 0,01 Tương quan thuận, mức độ
mạnh Điểm số QoL trung bình trước mổ là 4,87 ± 0,74 điểm, thấp nhất là 3 điểm, cao nhất là 6 điểm Trong đó mức độ nặng (5 – 6 điểm) chiếm
đa số với 83,3 %
Bảng 2: Tương quan điểm số Q max với các thông số khác
Thông số P Tương quan
Qmax với VTTL <0,05 Tương quan thuận, mức độ yếu Qmax với RU < 0,05 Tương quan thuận, mức độ mạnh
Trang 3VTTL trung bình của mẫu nghiên cứu là 57,4
± 15,2 gram (VTTL nhỏ nhất là 30 gram, VTTL lớn
nhất là 80 gram), phần lớn tập trung trong
khoảng 45 – 70 gram Dung tích nước tiểu tồn
lưu sau đi tiểu (RU) trung bình là 91,25 ±
30,26mL (thấp nhất là 40 mL và cao nhất là 150
mL)
PSA trung bình là 4,42 ± 2,96 ng/mL (thấp
nhất là 0,22 ng/mL và cao nhất là 11 ng/mL) 4
trường hợp cần sinh thiết trước phẫu thuật
Trong nghiên cứu có 8 TH nhập viện vì bí
tiểu và được đặt thông niệu đạo,xem như Qmax =
0 mL/giây Lưu lượng dòng tiểu tối đa (Qmax)
trung bình trước PT 3,97 ± 3,59 mL/giây (thấp
nhất là 0 mL/giây, cao nhất 10,6 mL/giây)
Xét nghiệm sinh hóa ngay sau PT và so sánh
với các kết quả trước PT cho thấy chủ yếu là thay
đổi về huyết động tuy nhiên sự thay đổi này
không lớn lắm
Bảng 3: So sánh kết quả sinh hóa trước và sau phẫu
thuật
Các thông số Trước PT Sau PT 1 giờ Giá trị p
Hb (g/dL) 12,2 ± 0,51 11,6 ± 0,49 0,001 < 0,05
Hct (%) 34,89 ± 2,24 33,95 ± 2,14 > 0,05
Na+ (mEq/L) 138,41 ± 3,61 138,79 ± 3,12 > 0,05
Thời gian phẫu thuật trung bình là 52,24 ±
17,52 phút
Thời gian nằm viện trung bình 2,95 ± 1,08
(dài nhất là 6 ngày, ngắn nhất 2 ngày) Số TH có
thời gian nằm viện ≤ 3 ngày chiếm 83,3 %
Thời gian đặt thông niệu đạo trung bình 2,54
± 0,97 ngày (dài nhất là 4 ngày, ngắn nhất 1
ngày)
Tai biến và biến chứng sớm của CĐNS
Chảy máu sau CĐNS: có 1/24 TH (chiếm 4,1
%) hậu phẫu ngày thứ 1
Nhiễm khuẩn đường niệu: có 1/24 TH
(chiếm 4,1 %)
Bí tiểu sau rút thông niệu đạo: kết quả có
2/24 TH (chiếm 8,3 %)
Sự cải thiện triệu chứng sau CĐNS 3 tháng
Bảng 4: Sự thay đổi số điểm trung bình IPSS sau 3
tháng
Các thông số Trước PT (trung
bình)
Sau 1 tháng (trung bình) p
IPSS (điểm) 29,30 ± 4,36 6,67 ± 3,84 < 0,05 QoL (điểm) 4,87 ± 0,74 1,42 ± 0,5 < 0,05 Qmax (mL/giây) 3.97 ± 3,59 15,01 ± 3,7 <0,05
RU (mL) 91,25 ± 30,26 29,2 ± 18,4 < 0,05
Bảng 5: Đánh giá sau CĐNS 3 tháng theo Nguyễn
Bửu Triều và cộng sự
Đánh giá Số th %
Kết quả kém
BÀN LUẬN
Tuổi trung bình mẫu nghiên cứu là 68,95 ± 6,78; nhỏ nhất là 58 tuổi và lớn nhất là 82 tuổi Kết quả này tương đồng với nghiên cứu CĐNS tăng sinh lành tính tuyến tiền: GS Trần Ngọc Sinh (tuổi trung bình 74,06 ± 6,98)(12), Orhun Sinanoglu và cộng sự (2014) tuổi trung bình 69,0±8,0(10)
Bệnh nhân nhập viện vì lý do bí tiểu cấp có 8
TH chiếm 33,33% được xử trí đặt thông bàng quang Còn lại 16 TH nhập viện vì tiểu khó, chiếm 66,67% Kết quả nghiên cứu của tác giả Dương Hoàng Lân (2015) với lý do vào viện bí tiểu cấp 54,6 % và tiểu khó là 34,6%(8)
Các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước CĐNS
VTTL trung bình là 57,4 ± 15,2 gram phần lớn tập trung trong khoảng 45 – 70 gram Kết quả này tương đồng kết quả của các tác giả trong nước và ngoài nước khác
Dung tích nước tiểu tồn lưu trung bình là 91,25 ± 30,26mL (thấp nhất là 40 mL và cao nhất
150 mL) Dung tích nước tiểu tồn lưu RU > 100
ml chiếm 41,7% Kết quả nghiên cứu của các tác giả như: Ozgu Aydogdu (2014, n = 42) RU trung bình là 123,7 ± 66,8 mL(11), Nguyễn Ngọc Thái (2013) RU trung bình là 80,25 ± 55,94 mL
Trang 4Nghiên cứu của chúng tôi có kết quả PSA
trung bình là 4.42 ± 2.96 ng/mL (thấp nhất là 0,22
ng/mL và cao nhất là 11 ng/mL) Trong đó có 4
TH (chiếm 16,7%) được sinh thiết TTL
Đánh giá kết quả trong và sau cđns
Thời gian phẫu thuật trung bình là 52,24 ±
17,52 phút, nhanh nhất là 30 phút và chậm nhất
là 100 phút Qua phân tích chúng tôi nhận thấy
giữa thời gian PT và VTTL là tương quan thuận,
mức độ tương quan rất chặt chẽ nên có thể dự
đoán thời gian PT
Hb trung bình trước PT là 12,2 ± 0,51 g/dL và
Hb trung bình sau PT 1 giờ là 11,6 ± 0,49 g/dL
Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có xảy ra
TH nào chảy máu khó cầm trong mổ Qua kết
quả phân tích Hb và Hct trước và ngay sau PT,
cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa
Hb trung bình và Hct trung bình trước và sau
phẫu thuật (p <0.05) nhưng không nhiều để ảnh
hưởng đến rối loạn huyết động học trong phẫu
thuật
Nồng độ Na+ trung bình trước PT là 138,41 ±
3,61 mmol/uL và sau PT 1 giờ là 138,79 ± 3,12
mmol/uL Sự khác biệt Na+ trước và sau PT
không có ý nghĩa thống kê
Thời gian đặt thông niệu đạo là yếu tố quan
trọng giúp đánh giá hiệu quả điều trị Thời gian
đặt thông niệu đạo trung bình 2,54 ± 0,97 ngày
(dài nhất là 4 ngày, ngắn nhất 1 ngày) Số TH có
thời gian đặt thông niệu đạo ≤ 3 ngày chiếm
91,67 %
Thời gian nằm viện là tương đối ngắn vì hơn
80% bệnh nhân chỉ nằm viện ≤ 3 ngày sau
CĐNS, hầu hết bệnh nhân sớm ổn định về lâm
sàng sau PT và được xuất viện khá sớm
Hội chứng CĐNS là tình trạng hấp thụ một
lượng lớn dịch rửa trong lúc phẫu thuật vào tuần
hoàn gây ra tình trạng loãng máu và giảm Na+
máu dưới 125 mEq/L, thường xảy ra trong vòng
1-2 ngày sau mổ Thực tế qua nghiên cứu này
không có TH nào nhờ sử dụng muối sinh lý
NaCl 0,9% làm dung dịch tưới rữa Điều này
phù hợp với kết quả phân tích sự thay đổi Na+
trước và sau PT không có ý nghĩa thống kê Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như: Mamoulakis và cs (2012, n = 141) Na+ giảm trung bình sau PT là 0,8 mEq/L(9), Autorino và cs (2009, n = 35) Na+ giảm trung bình sau PT là 0,6 mEq/L(1)
Biến chứng của CĐNS
Trong loạt nghiên cứu có 1/24 TH (chiếm 4,1
%) hậu phẫu ngày thứ 1 thông tiểu ra máu đỏ, lâm sàng có dấu hiệu thiếu máu Xét nghiệm máu Hct 27%, Hb 8 g/dL giảm so với trước PT Trường hợp này được nội soi đốt cầm máu lại Sau can thiệp bệnh ổn định, nước tiểu trong, sau truyền 2 đơn vị máu Hct 32%, Hb 10 mg/dL Bệnh nhân xuất viện sau 5 ngày
Các yếu tố thuận lợi: nhiễm khuẩn niệu trước mổ điều trị chưa triệt để, không sử dụng kháng sinh dự phòng trước hoặc trong mổ, bệnh nhân có lưu thông niệu đạo bàng quang trước
mổ Có 1/24 TH (chiếm 4,1 %) trong thời gian
hậu phẫu bệnh nhân có các triệu chứng: sốt cao, lạnh run, xét nghiệm bạch cầu đều tăng trên 10,000/mm3 Trường hợp này được điều trị nội khoa, bệnh nhân hết sốt sau 2 ngày, ổn định cận lâm sàng
Kết quả có 2/24 TH (chiếm 8,3 %) không đi tiểu được sau khi rút thông niệu đạo
Sự cải thiện điểm số IPSS sau CĐNS
Năm 1992, Barry và cs đã đưa ra bảng điểm quốc tế đánh giá triệu chứng đường tiết niệu dưới (IPSS) gồm 7 câu hỏi đã được Hội Tiết Niệu Hoa Kỳ thông qua Bảng điểm này đánh giá mức
độ nặng, nhẹ của các triệu chứng chủ quan và để xác định đáp ứng với điều trị(2) Trong nghiên cứu của chúng tôi, điểm số IPSS trung bình trước
mổ là 25,87± 4,84 điểm, thấp nhất là 18 điểm, cao nhất là 35 điểm Trong đó mức độ nhẹ (< 7 điểm)
0 %, mức độ nặng (20 – 35 điểm) chiếm đa số với 83,3 % Cho thấy bệnh nhân đa số đến nhập viện
vì triệu chứng rối loạn đường tiểu nặng hoặc là
đã có biến chứng của bệnh
Bảng 6: So sánh số điểm trung bình IPSS của nhiều
tác giả trước và sau PT
Trang 5Điểm IPS Trước PT Sau 3 tháng
Joon Woo Kim (2013, n = 43)(7) 25,0 ± 4,0 12,1 ± 3,2
Chang-Jun Yoon (2006, n =
49)(3)
18,7 ± 4,5 6,6 ± 4,9 Nghiên cứu của chúng tôi 29,30 ± 4,36 6,67 ± 3,84
Trước PT 96,3% TH của chúng tôi đều có số
điểm IPSS nằm trong nhóm triệu chứng nặng
Sau PT, số điểm giảm IPSS trung bình sau 3
tháng giảm lớn hơn 9 điểm nghĩa là cải thiện
đáng kể
Sự cải thiện điểm số QoL sau CĐNS
QoL trung bình trước mổ là 5,41 ± 0,79 điểm,
thấp nhất là 3 điểm, cao nhất là 6 điểm Trong đó
mức độ nhẹ (0 – 2 điểm) 0%, mức độ nặng (5 – 6
điểm) chiếm đa số với 85,2 % Trong đó điểm
QoL trung bình ở nhóm bí tiểu cao hơn điểm
QoL trung bình ở nhóm tiểu khó (5,55 > 5,11
điểm), như vậy bệnh nhân bí tiểu có triệu chứng
rối loạn đường tiểu ảnh hưởng nhiều đến chất
lượng đời sống hơn nhóm tiểu khó Nên sau khi
PT, điểm QoL trung bình sau 3 tháng 1,04 ± 0,55
(cao nhất 3, thấp nhất 0) Điểm QoL trước PT,
sau PT 3 tháng khác nhau có ý nghĩa thống kê (p
= 0,0001), cho thấy chất lượng đời sống của bệnh
nhân được cải thiện đáng kể và trở về gần như
bình thường sau PT 3 tháng
Sự cải thiện lưu lượng dòng tiểu tối đa Q max sau
CĐNS
Shoukry I và cs đã chứng minh lưu lượng
dòng tiểu tối đa Qmax là thông số duy nhất của
niệu dòng đồ có tính đặc hiệu để xác định tình
trạng bế tắc đường tiết niệu dưới (5) Theo
Chapple C.R (4), Qmax< 10 mL/giây thì khả năng
có bế tắc đường tiết niệu dưới rất cao Trong
nghiên cứu này chúng tôi chọn Qmax< 10 mL/giây
là nghi ngờ có bế tắc
Bảng 7: So sánh số điểm trung bình Q max của nhiều
tác giả trước và sau PT
Trước PT Sau 3 tháng
Orhun Sinanoglu (2014, n =
163)(10) 8,5 ± 4,2 19,1 ± 6,2
Chang-Ying Xie (2012, n =
78)(3) 9,65 ± 2,57 28,05 ± 8,69
Nghiên cứu của chúng tôi 3.97 ± 3,59 15,01 ± 3,7
Phần lớn các bệnh nhân nước ngoài thường đến khám sớm, khi mức độ bế tắc đường tiểu chưa nhiều như những bệnh nhân của chúng tôi Lưu lượng dòng tiểu tối đa của bệnh nhân được cải thiện đáng kể và trở về gần như bình thường sau PT 3 tháng
Căn cứ vào cách đánh giá cải thiện triệu chứng và niệu động học sau CĐNS bằng điện lưỡng cực trong, mang lại hiệu quả cao về sự cải thiện các triệu chứng lâm sàng và cải thiện đáng
kể về lưu lượng dòng tiểu tối đa sau PT (94,44% bệnh nhân của chúng tôi sau CĐNS có kết quả tốt về cải thiện triệu chứng và niệu động học)
Sự cải thiện dung tích nước tiểu tồn lưu (RU) sau CĐNS
Theo GS Trần Ngọc Sinh và một số tác giả khác, dung tích nước tiểu tồn lưu có liên quan đến tình trạng suy yếu sức co bóp cơ chóp bàng quang hơn là tình trạng bế tắc dòng tiểu(12)
Bảng 8: So sánh dung tích nước tiểu tồn lưu RU của
các tác giả trước và sau PT
Trước PT Sau 3 tháng
Joon Woo Kim (2014, n = 69)(7) 169,2 ± 14,0 41,9 Chang-Ying Xie
(2012, n = 78)(3) 94,51 ± 26,73 12,02 ± 7,49
Nghiên cứu của chúng tôi
91,25 ± 30,26 29,2 ± 18,4
KẾT LUẬN
Các kết quả về cải thiện rõ rệt triệu chứng và cận lâm sàng sau phẫu thuật đã kết luận về hiệu quả và tính an toàn khi sử dụng CĐNS bằng điện lưỡng cực Tuy nhiên để có một so sánh thục tế về hiệu quả và tính kinh tế trong điều trị TSLTTLT cần những nghiên cứu lớn hơn và có đối chứng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Autorino R, Damiano R, Di Lorenzo G, Quarto G, Perdonà S, D’Armiento M, et al (2009), Four-year outcome of a prospective randomised trial comparing bipolar plasmakinetic and monopolar transurethral resection of the prostate, Eur Urol, vol 55, pp.922–929
2 Barry M.J., Cockett A.T., Holtgrewe H.L., McConnel J.D., Sihelnik S.A., Winfield H.N (1993), “Relation of symptom of
Trang 6prostatism to commonly used phisiological and anatomical
measures of severity of BPH”, J Urol, vol 150 (2), pp351-358
3 Chang-Ying Xie, Guang-Bin Zhu, Xing-Huan Wang,
Xiang-Bin Liu (2012), “A clinical study comparing BIVAP saline
vaporization of the prostate with bipolar TURP in patients
with prostate volume 30 to 80 mL: Early complications,
physiological changes and postoperative follow-up
outcomes”, Yonsei Med J, vol 53 (4), pp.734-741
4 Chapple C.R., MacDiarmid S.A., Patel Anand (2009),
“Uroflowmetry”, Urodynamics Made Easy, 3 rd Edition,
Chapter 3, pp.29-37
5 Dương Hoàng Lân (2015), “Đánh giá “Luậnvăn nội trú, Đại
học Y Dược TP.HCM
6 Eropean Association of Urology (EAU) (2014), Guidelines on
Management of Male Lower Urinary Tract Symptoms (LUTS),
incl, Benign Prostatic Obstruction (BPO), 2014
7 Hội Tiết Niệu – Thận học Việt Nam (2014), Hướng dẫn xử trí
tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt, Nhà xuất bản Y học, Hà
Nội, tái bản lần 2, tr.5-12
8 Joon Woo Kim, Yeon Joo Kim, Yoon Hyung Lee, Joon Beom
Kwon, Sung Ryong Cho, Jae Soo Kim (2014), “An Analytical
Comparison of Short-term Effectiveness and Safety Between
Thulium:YAG Laser Vaporesection of the Prostate and Bipolar
Transurethral Resection of the Prostate in Patients With
Benign Prostatic Hyperplasia”, KJU, The Korean Urological
Association, vol 55, pp.41-46
9 Mamoulakis C, Skolarikos A, Schulze M, Scoffone CM,
Rassweiler JJ, Alivizatos G, et al (2012), “Results from an
international multicentre double-blind randomized controlled
trial on the perioperative efficacy and safety of bipolar vs
monopolar transurethral resection of the prostate”, BJU Int, vol 109, pp.240–248
10 Orhun Sinanoglu, Sinan Ekici, M.B Can Balci, A Ismet Hazar, Baris Nuhoglu (2014), “Comparison of plasmakinetic transurethral resection of the prostate with monopolar transurethral resection of the prostate in terms of urethral stricture rates in patients with comorbidities”, Prostate International, Maltepe University School of Medicine, vol 2 (3), pp.121-126
11 Ozgu Aydogdu, MD; Ayhan Karakose, MD; Yusuf Ziya Atesci, MD (2014), “A clinical study comparing BIVAP saline vaporization of the prostate with bipolar TURP in patients with prostate volume 30 to 80 mL: Early complications, physiological changes and postoperative follow-up outcomes”, Original Research, Izmir University School of Medicine, vol 8 (7-8), pp.485-489
12 Trần Ngọc Sinh (2013), “Chỉ định Cắt Đốt Nội Soi trong bế tắc đường tiết niệu dưới do Tăng Sinh Lành Tính Tuyến Tiền Liệt”, Nhà xuất bản Tổng hợp, thành phố Hồ Chí Minh, tr 30
13 Vũ Lê Chuyên, Đào Quang Oánh, Nguyễn Tuấn Vinh, Vĩnh Tuấn, Nguyễn Văn Ân, Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng, Nguyễn
Tế Kha, Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Ngọc Thái (2012),
“Bước đầu ứng dụng LASER Thulium với bước sóng liên tục 2-µm trong điều trị bướu lành tuyến tiền liệt”, Y học tp Hồ
Chí Minh, tập 16, tr.116-121
Ngày nhận bài báo: 30/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/12/2015 Ngày bài báo được đăng: 22/02/2016