1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả giảm đau vai sau đột quỵ giai đoạn liệt mềm bằng phương pháp điện châm các huyệt: Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên liêu, Tý nhu

8 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 360,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả giảm đau vai sau đột quỵ giai đoạn liệt mềm khi sử dụng phương pháp điện châm trên 2 cơ: cơ trên gai và cơ mũ vai thông qua các huyệt Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên liêu, Tý nhu.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU VAI SAU ĐỘT QUỴ

GIAI ĐOẠN LIỆT MỀM BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỆN CHÂM CÁC HUYỆT:

BỈNH PHONG, KIÊN NGUNG, KIÊN LIÊU, TÝ NHU

Nguyễn Lê Xuân Trang*, Phan Thị Mỹ Sương*, Trịnh Thị Diệu Thường*

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Đau vai là một biến chứng thường gặp sau đột quỵ, gây cản trở sự phục hồi chức

năng khớp vai và chi trên, kéo dài thời gian nằm viện, làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau đột quỵ

Đề tài này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả giảm đau vai sau đột quỵ giai đọan liệt mềm khi sử dụng phương pháp điện châm trên 2 cơ: cơ trên gai và cơ mũ vai thông qua các huyệt Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên liêu, Tý nhu

Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng, ngẫu nhiên có nhóm chứng, từ tháng

12/2014 đến tháng 06/2015, trên 60 bệnh nhân đột quỵ giai đoạn liệt mềm, có đau vai bên liệt Nhóm chứng được điện châm a thị huyệt, tập các động tác về vật lý trị liệu sau khi được châm cứu và nhóm can thiệp được điện châm các huyệt: Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên liêu, Tý nhu; tập các động tác về vật lý trị liệu sau khi được châm cứu Sau điều trị bệnh nhân được đánh giá số điểm đau vai dựa vào thang điểm đau từ 0 đến 10 (Numeric Rating Scale) sau mỗi liệu trình

Kết quả: Phương pháp điện châm các huyệt Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên liêu, Tý nhu giúp giảm đau vai

sau đột quỵ tốt hơn phương pháp điện châm a thị huyệt, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Phương pháp điện châm các huyệt Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên Liêu, Tý Nhu làm tăng tỉ lệ bệnh nhân đáp ứng Tốt và Khá cao hơn so với điện châm a thị huyệt trong việc giảm đau vai cho bệnh nhân sau đột quỵ

Kết luận: Phương pháp điện châm các huyệt Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên liêu, Tý nhu giúp giảm đau vai

sau đột quỵ giai đọan liệt mềm

Từ khóa: Điện châm, cơ trên gai, cơ mũ vai, đau vai sau đột quỵ

ABSTRACT

EFFICIENCY OF ELECTRICAL ACUPUNCTURE ON ACUPUNCTURE POINTS: SI 12, LI 15, TE 14, LI

14 IN RELIEVING SHOULDER PAIN AFTER STROKE

Nguyen Le Xuan Trang, Phan Thi My Suong, Trinh Thi Dieu Thuong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - No 6 - 2016: 57 - 64

Objectives: Shoulder pain is a common complication after stroke, which hinders motor rehabilitation of the

shoulder joint and upper limbs, prolongs inpatient time, reduces patients’ quality of life after stroke The present study was designed to evaluate the efficiency of electrical acupuncture on supraspinous fossa and deltoid muscles,

by using 4 acupuncture points: SI 12, LI 15, TE 14, LI 14, in relieving shoulder pain after stroke

Method: Randomized controlled trial, from Decemper 2015 to June 2016 60 post-stroke patients with

shoulder pain were treated in 6 weeks The control group received traditional electrical acupuncture (by using electrical acupuncture on the pain points) and physical therapy; while the trial group received electrical acupuncture on 4 acupuncture points: SI 12, LI 15, TE 14, LI 14 and physical therapy After 6 weeks, the patients were assessed the level of shoulder pain by Numeric Rating Scale

Trang 2

Results: Electrical acupuncture on four acupuncture points SI 12, LI 15, TE 14, LI 14 proved to be more

effective in relieving shoulder pain after stroke (p<0.001).Moreover, this method also increased the percentage of patients in “excellent” and “good” rate more than the traditional method

Conclusion: Electrical acupuncture on four acupuncture points SI 12, LI 15, TE 14, LI 14 helps relieve

shoulder pain after stroke

Key words: Electrical acupuncture, supraspinous fossa, deltoid muscles, shoulder pain after stroke

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau vai là một biến chứng thường gặp sau

đột quỵ, gây cản trở sự phục hồi chức năng khớp

vai và chi trên, kéo dài thời gian nằm viện, làm

giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau

đột quỵ(6,9) Phương pháp kích thích điện thần

kinh cơ trên gai và cơ mũ vai đã được chứng

minh có hiệu quả tương đối trong điều trị giảm

đau vai cho bệnh nhân sau đột quỵ(1,3,4,10) Tuy

nhiên phương pháp này khó tác động sâu vào cơ,

thời gian kích thích điện trong ngày khá dài, gây

khó khăn trong điều trị(4,10) Phương pháp điện

châm có cơ chế tác dụng gần tương đồng với

phương pháp kích thích điện thần kinh cơ, đồng

thời đây là phương pháp kim qua da nên tác

động sâu vào cơ hơn Vì vậy, nghiên cứu này

tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả giảm đau vai

sau đột quỵ bằng điện châm cơ trên gai và cơ mũ

vai, thông qua các huyệt Bỉnh phong, Kiên

ngung, Kiên liêu, Tý nhu

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Xác định hiệu quả giảm đau vai sau đột quỵ

giai đoạn liệt mềm bằng phương pháp điện

châm các huyệt: Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên

liêu, Tý nhu

Mục tiêu cụ thể

Xác định hiệu quả giảm đau vai sau điều

trị ở hai nhóm nghiên cứu đánh giá bằng

thang đo điểm đau từ 0 – 10 (Numeric Pain

Intensity Scale)

Xác định tỷ lệ bệnh nhân đáp ứng điều trị

Khá, Tốt ở nhóm can thiệp đánh giá bằng

thang đo điểm đau từ 0 – 10 (Numeric Pain

Intensity Scale)

PHƯƠNG PHÁP - PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Can thiệp lâm sàng, có nhóm chứng, ngẫu nhiên

Nơi nghiên cứu

Bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh

Mẫu nghiên cứu

P 1 = Xác suất phơi nhiễm trong nhóm bệnh 89,9%

P1= Tỉ lệ đáp ứng điều trị giảm đau vai khá, tốt ở nhóm can thiệp 80%

P2 = Tỉ lệ đáp ứng điều trị giảm đau vai khá, tốt ở nhóm chứng 50% (8)

RR = 1,6

Z (1 - /2) = 1,96 ( = 0,05) Z(1-) = 1,28; (1-)= 0,9

Ta được cỡ mẫu n = 54 đối tượng cho mỗi nhóm nghiên cứu

Kỹ thuật phân nhóm

Phân nhóm ngẫu nhiên bằng phần mềm GraphPad

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Đủ 5 tiêu chuẩn

Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu Bệnh nhân được chẩn đoán đột quỵ dựa vào hình ảnh học hoặc trong giấy xuất viện

Bệnh nhân trong giai đoạn liệt mềm ½ người Bệnh nhân có đau vai mới xuất hiện sau đột quỵ

Không sử dụng các phương pháp giảm đau khác

Trang 3

Tiêu chuẩn loại trừ

Chỉ cần 1 tiêu chuẩn

Bệnh nhân bị viêm nhiễm, lở loét vùng vai

bên liệt

Bệnh nhân rối loạn tri giác, rối loạn ngôn

ngữ, tâm thần

Bệnh nhân có đau vai xuất hiện trước đột

quỵ

Bệnh nhân có phù chi bên liệt

Bệnh nhân đau vai không cùng bên liệt

Bệnh trong quá trình nghiên cứu có diễn

biến phức tạp được chuyển sang phương pháp

điều trị khác và số liệu này sẽ được phân tích

trong nhóm thất bại điều trị

Liệt kê và định nghĩa biến số

Biến số độc lập

Là phương pháp được tiến hành thực hiện

trên bệnh nhân gồm 2 phương pháp là phương

pháp điện châm A thị huyệt với điện châm tần

số cao (nhóm chứng) và phương pháp điện

châm các huyệt: Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên

liêu, Tý nhu với điện châm tần số thấp và cao

(nhóm can thiệp)

Biến số phụ thuộc

Là kết quả sau khi tiến hành can thiệp gồm 2

biến số

Điểm mức độ đau

Là biến số định lượng được tính điểm theo

thang điểm đau từ 0 đến 10, điểm số dao động

từ 0 – 10 điểm, điểm càng cao cho thấy mức độ

đau vai càng nhiều

Xếp loại đáp ứng điều trị

Là biến số định tính có 4 giá trị Tốt, Khá,

Trung bình, Kém

Tốt Giảm đau 90% đếm 100% so với số điểm ban đầu

Khá Giảm đau 70% đếm 89% so với số điểm ban đầu

Trung

bình Giảm đau 50% đếm 69% so với số điểm ban đầu

Kém Giảm đau < 50% so với số điểm ban đầu

Tổ chức thực hiện

Phân bố bệnh nhân: được sắp xếp ngẫu nhiên vào 2 nhóm, mỗi bệnh nhân được bắt thăm Trong hộp có 60 thăm (30 thăm đánh số 1,

30 thăm đánh số 2)

Phương pháp can thiệp

Nhóm chứng

Điện châm A thị huyệt kết hợp phục hồi vận động cho bệnh nhân bằng điện châm thường theo kinh Dương Minh và vật lý trị liệu

Phương pháp chọn huyệt: A thị huyệt

Sử dụng điện châm: tần số 60 Hz, cường độ

từ 2– 10 mA, thời gian 20 phút

Cách gắn điện cực: không gắn Bỉnh phong

và Kiên ngung cùng 1 cặp điện cực, Kiên liêu và

Tý Nhu cùng 1 cặp điện cực

Mỗi ngày châm 1 lần, từ thứ 2 đến thứ 6, nghỉ thứ 7, Chủ nhật, châm đủ 30 lần (6 tuần) Điện châm thường theo kinh Dương minh : chọn huyệt trên đường kinh Dương minh, tần số:

20 Hz, cường độ: 2 – 10 mA, thời gian: 20 phút Mỗi ngày châm 1 lần, từ thứ 2 đến thứ 6, nghỉ thứ 7, Chủ nhật, châm đủ 30 lần (6 tuần) Vật lý trị liệu: được thực hiện mỗi ngày sau quá trình châm cứu, không cho bệnh nhân tập động tác ròng rọc Đều được áp dụng như nhau

ở 2 nhóm nghiên cứu Ngày tập 1 lần, lần 30 phút (ngoại trừ ngày Thứ bảy và Chủ nhật)

Nhóm Can thiệp

Điện châm các huyệt Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên liêu, Tý nhu kết hợp phục hồi vận động các vùng còn lại cho bệnh nhân bằng điện châm thường theo kinh Dương Minh và vật lý trị liệu

Phương pháp chọn huyệt: Bỉnh phong, Kiên ngung: cơ trên gai Kiên liêu, Tý nhu: cơ mũ vai

Sử dụng điện châm: 10 phút đầu: tần số 20

Hz - 10 phút tiếp theo: tần số 60 Hz, cường độ từ 2– 10 mA Cách mắc điện cực : Bỉnh phong, Kiên ngung: 1 cặp điện cực - Kiên liêu, Tý nhu: 1 cặp điện cực (đổi cực cho mỗi cặp huyệt mỗi ngày)

Trang 4

Điện châm thường theo kinh Dương minh

(kinh Đại trường và kinh Vị) ở tay và chân bên

liệt (không châm lại 2 huyệt: Kiên ngung, Tý

nhu) Sử dụng điện châm: tần số 20 Hz, cường

độ 2 – 10 mA, thời gian 20 phút

Mỗi ngày châm 1 lần, từ thứ 2 đến thứ 6,

nghỉ thứ 7, Chủ nhật, châm đủ 30 lần (6 tuần)

Vật lý trị liệu: được thực hiện mỗi ngày sau

quá trình châm cứu, không cho bệnh nhân tập

động tác ròng rọc Đều được áp dụng như nhau

ở 2 nhóm nghiên cứu Ngày tập 1 lần, lần 30

phút (ngoại trừ ngày Thứ bảy và Chủ nhật)

Tiêu chuẩn theo dõi và đánh giá

Việc theo dõi và đánh giá được ghi nhận sau

mỗi liệu trình

Chỉ tiêu theo dõi

Sinh hiệu: mạch, nhiệt độ, huyết áp

Điểm mức độ đau: theo thang điểm đau từ 0

đến 10

Xếp loại đáp ứng điều trị

Tốt Giảm đau 90% đếm 100% so với số điểm ban đầu

Khá Giảm đau 70% đếm 89% so với số điểm ban đầu

Trung

bình Giảm đau 50% đếm 69% so với số điểm ban đầu

Kém Giảm đau < 50% so với số điểm ban đầu

Phương pháp thống kê

Nhập và quản lý dữ liệu bằng chương trình Excell 2010

Phân tích các số liệu qua phần mềm STATA 11.0

Thống kê mô tả thông tin nền: phép kiểm 2 hoặc phép kiểm Fisher’ exact

Thống kê phân tích khi so sánh điểm đau trung bình trong từng nhóm chứng và can thiệp: phép kiểm T bắt cặp

Thống kê phân tích khi so sánh điểm đau trung bình giữa 2 nhóm chứng và can thiệp: phép kiểm T độc lập

Thống kê phân tích khi so sánh tỷ lệ xếp loại đáp ứng điều trị giữa 2 nhóm chứng và can thiệp: phép kiểm chi bình phương hoặc phép kiểm Fisher’ exact

RR, khoảng tin cậy 95% dùng để đo lường sức mạnh sự kết hợp của mối liên quan giữa biến số phụ thuộc và biến độc lập

KẾT QUẢ

Số liệu thống kê

Tổng số 60 bệnh nhân: nhóm chứng 30 bệnh

nhân; Nhóm nghiên cứu 30 bệnh nhân

Đặc điểm chung của đối tượng tại thời điểm trước nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm chung của đối tượng trước nghiên cứu

Thông tin nền và tiền sử bệnh đột quỵ Nhóm chứng (n=30) Nhóm can thiệp (n=30)

Thời gian từ lúc đột quỵ

đến điều trị

Nhận xét: Không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Trang 5

Bảng 2: Đặc điểm chung về thông tin bệnh lý của đối

tượng trước nghiên cứu

Mức độ đau vai lúc

bắt đầu

Nhóm chứng (n=54)

Nhóm can thiệp (n=54)

Điểm trung bình

Nhận xét: Không tìm thấy sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê (p>0,05)

Kết quả điều trị

Hiệu quả giảm đau vai

Bảng 3: Hiệu quả giảm đau vai theo thang đo điểm

đau từ 0 – 10 sau mỗi lộ trình

Thời

gian

Nhóm chứng Nhóm can thiệp

P value Mean SD Mean SD

Khác biệt

T0-T1 <0,05 <0,0001

Khác biệt

T1-T2 <0,0001 <0,0001

Khác biệt

T2-T3 0,1070 <0,0001

Nhận xét:

Điểm đau vai trung bình sau can thiệp ở

nhóm can thiệp thấp hơn nhóm chứng, sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê với P< 0,001

Trong nhóm can thiệp, điểm đau vai trung

bình sau mỗi liệu trình tiếp tục giảm có ý nghĩa

thống kê với P< 0,0001

Trong nhóm chứng, điểm đau vai trung bình

giảm có ý nghĩ thống kê sau liệu trình 1, 2 (P<

0,001); Tuy nhiên, sau liệu trình 3, điểm đau vai

trung bình giảm không có ý nghĩa thống kê

(P>0,05)

Hiệu quả giảm đau vai sau đột quỵ dựa trên

kết quả xếp loại đáp ứng giảm đau vai

Ở thời điểm T1, sự khác biệt không có ý

nghĩa thống kê về xếp loại đáp ứng giảm đau vai

giữa hai nhóm nghiên cứu với p>0,05

Ở thời điểm T2, T3, sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê về xếp loại đáp ứng giảm đau vai giữa

hai nhóm nghiên cứu với p<0,001

Bảng 4: Hiệu quả giảm đau vai dựa trên kết quả xếp

loại

Thời gian Xếp loại Nhóm chứng

Nhóm can thiệp P value

T1

0,112

T2

0,000 Trung bình 3 (10) 16 (53,33)

T3

0,000 Trung bình 5 (16,67) 12 (40)

BIỆN LUẬN Nhận xét về sự đồng nhất của 2 nhóm tại thời điểm trước nghiên cứu

2 nhóm đồng nhất về thông tin nền (tuổi, giới) trước nghiên cứu (p>0,05)

2 nhóm đồng nhất về tiền sử bệnh (thời gian đột quỵ, hôn mê, số lần tai biến, chẩn đoán, tay yếu liệt cùng bên tay thuận, điểm số đau vai) trước nghiên cứu (p>0,05)

Hiệu quả giảm đau vai (dựa theo thang đo điểm đau từ 0 - 10)

So sánh mức độ đau vai theo thang đo điểm đau từ 0 đến 10 trong từng nhóm chứng và can thiệp

Ta thấy cả 2 nhóm can thiệp và nhóm chứng đều có cải thiện mức độ đau vai cho bệnh nhân sau đột quỵ ngay sau lộ trình điều trị 10 ngày đầu tiên và 10 ngày tiếp theo Có thể lí giải rằng,

cả 2 nhóm nghiên cứu đều đã sử dụng một cách hiệu quả tác dụng giảm đau của châm cứu qua 2

cơ chế chính đó là cơ chế tại chỗ và cơ chế kiểm soát cổng

Cơ chế tại chỗ

Kích thích tiết các chất adenosine (một yếu

tố trung tâm tham gia vào tác dụng chống viêm của châm cứu), các cytokine (thiết lập lại

sự cân bằng từ sự mất cân bằng giữa các cytokine kích thích viêm và các cytokine

Trang 6

chống viêm), Nitric oxide (vai trò then chốt

trong cơ chế cải thiện vi tuần hoàn, gây giãn

mạch, làm tăng tuần hoàn tại chỗ)

Cơ chế kiểm soát cổn (7)

Trong nghiên cứu bệnh nhân được châm

cứu và tạo được cảm giác đắc khí tốt (căng, nặng,

tức, mỏi và không đau) Khi cảm giác đắc khí

được tạo ra đã làm con đường dẫn truyền trong

Lem (cảm giác sâu) được kích hoạt thì con

đường dẫn truyền ngoài Lem (cảm giác đau) bị

ức chế một phần hay hoàn toàn

Sau 10 ngày điều trị cuối, nhận thấy rằng

phương pháp châm A thị huyệt ở nhóm chứng

không tiếp tục mang lại hiệu quả giảm đau,

trong khi đó phương pháp điện châm các huyệt

Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên liêu, Tý nhu tiếp

tục mang lại hiệu quả giảm đau Có thể lí giải

cho điều này rằng:

Ở nhóm chứng, phương pháp điện châm A

thị huyệt chỉ mang hiệu quả giảm đau ở mức độ

nhất định, không tiếp tục kéo dài tác dụng giảm

đau thêm trong liệu trình cuối

Trong khi đó, ở nhóm can thiệp tiếp tục có

hiệu quả giảm đau cho bệnh nhân vì phương

pháp điện châm tác động lên các huyệt Bỉnh

phong, Kiên ngung, Kiên liêu, Tý nhu đã giúp

kích thích 2 cơ: cơ trên gai và cơ mũ vai, giúp

cải thiện sức cơ gốc chi trên, từ đó giúp ổn

định khớp vai, giảm sự kéo căng bao khớp nên

tiếp tục cải thiện được mức độ đau vai cho

bệnh nhân

Giải thích của chúng tôi cũng phù hợp với

kết quả trong khóa luận tốt nghiệp của tác giả

Nguyễn Hồng Hạnh khi nghiên cứu về hiệu quả

cải thiện sức cơ chi trên của phương pháp điện

châm các huyệt Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên

liêu, Tý nhu trên bệnh nhân sau đột quỵ giai

đoạn liệt mềm Kết quả nghiên cứu của Nguyễn

Hồng Hạnh cho thấy rằng: tại thời điểm T0 (bắt

đầu can thiệp), và thời điểm T1 (sau 10 ngày can

thiệp): sự khác biệt sức cơ gốc chi trên giữa

nhóm chứng và nhóm can thiệp không có ý

nghĩa thống kê với p> 0.05 Tuy nhiên, bắt đầu từ

thời điểm T2 (sau 20 ngày can thiệp), sự khác biệt sức cơ gốc chi trên giữa 2 nhóm nghiên cứu

có ý nghĩa thống kê với p< 0,05

So sánh mức độ đau vai theo thang đo điểm đau từ 0 đến 10 giữa 2 nhóm chứng và can thiệp

Kết quả trên cho thấy giữa 2 nhóm chứng và can thiệp có sự khác biệt về điểm số đau vai trung bình sau từng lộ trình điều trị Như vậy phương pháp điện châm các huyệt Bỉnh Phong, Kiên Ngung, Kiên Liêu, Tý Nhu có hiệu quả hơn phương pháp điện châm A thị huyệt trong việc giảm đau vai cho bệnh nhân sau đột quỵ trong giai đoạn liệt mềm

Điều này cũng phù hợp với kết quả của các

đề tài dùng phương pháp kích thích điện thần kinh cơ tác động lên 2 cơ mũ vai và cơ trên gai

để cải thiện tình trạng đau vai cho bệnh nhân sau đột quỵ:

Yu DT và Chae J (2001), “Kích thích điện thần kinh cơ dưới da điều trị bán trật khớp vai

và đau vai cho bệnh nhân sau đột quỵ” (10): nghiên cứu thực hiện phương pháp kích thích điện thần kinh cơ tác động lên cơ mũ vai sau và

cơ trên gai 6 giờ một ngày trong 6 tuần cho thấy

có hiệu quả cải thiện tình trạng đau cho bệnh nhân Điểm đau trung bình theo thang đo điểm đau Brief Pain Inventory (BPI) sau 6 tuần điều trị

giảm với p < 0,05 (p = 0,0115)

Chantraine A và cộng sự (1999), “Đau vai và mất chức năng vai trong liệt nửa người: hiệu quả của kích thích điện thần kinh cơ” (3): nhóm được điều trị bằng liệu pháp thông thường cộng với kích thích điện thần kinh cơ đã cho thấy sự cải thiện hơn đáng kể so với các nhóm được điều trị thông thường ở tỉ lệ giảm đau (80,7% với 55.l%)

với p < 0,01

Bàn luận về sự khác biệt của 2 phương pháp châm cứu

Cả 2 phương pháp đều cùng lúc vận dụng

được các yếu tố sau trong cách chọn huyệt:

Trang 7

Cả 2 nhóm đều sử dụng tác dụng chữa bệnh

của huyệt vị, vừa áp dụng tác dụng giảm đau

của điện châm

Như vậy, cả 2 nhóm nghiên cứu đều đã sử

dụng một cách hiệu quả tác dụng giảm đau của

châm cứu qua 2 cơ chế chính đó là cơ chế tại chỗ

và cơ chế kiểm soát cổng(7)

Điểm khác biệt chủ yếu nhất giữa 2 phương

pháp đó chính là phương pháp chọn huyệt:

Phương pháp sử dụng trong nhóm chứng là

phương pháp châm cứu giảm đau truyền thống

trước giờ đã sử dụng: phương pháp châm A thị

huyệt Trong khi đó, phương pháp sử dụng

trong nhóm can thiệp là phương pháp điện

châm các huyệt Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên

liêu, Tý nhu Các huyệt này được chọn theo cơ

sở lý luận: huyệt Bỉnh phong và Kiên ngung

thuộc cơ trên gai, Kiên ngung và Tý nhu thuộc

cơ mũ vai Các nghiên cứu đã cho thấy hai cơ

chủ chốt chịu trách nhiệm trong việc gây ra bán

trật khớp vai ở bệnh nhân liệt nửa người sau đột

quỵ là cơ trên gai và cơ mũ vai (bó sau) Hai cơ

này bình thường có chức năng kéo xương cánh

tay lên trên và ép chặt đầu trên xương cánh tay

vào ổ chảo, giúp chống lại trọng lực của xương

cánh tay Khi 2 cơ này cải thiện tốt chức năng sẽ

giúp ổn định khớp vai, tránh việc kéo căng bao

khớp, từ đó giảm đau vai cho bệnh nhân(2,5) Điều

này cũng phù hợp với các nghiên cứu trên thế

giới về phương pháp kích thích điện thần kinh

cơ không qua da lên 2 cơ trên gai và mũ vai cho

thấy hiệu quả tương đối trong việc giảm đau vai

cho bệnh nhân sau đột quỵ(1,3,4,9,10) Tuy nhiên,

phương pháp kích thích điện thần kinh cơ được

các tác giả trên thế giới sử dụng với kỹ thuật khá

phức tạp và tốn nhiều thời gian Trong nghiên

cứu của Faghri (1994)(4) và Chantraine A (1999)(3)

thời gian kích thích điện trong một ngày lên tới 6

giờ Trong khi đó, phương pháp điện châm của chúng tôi, thời gian kích thích trong một lần châm kéo dài khoảng 20 phút, mỗi ngày châm 1 lần Điều này cho thấy phương pháp của chúng tôi đơn giản và tiết kiệm thời gian cho nhân viên

y tế và bệnh nhân hơn so với phương pháp kích thích điện thần kinh cơ, mà vẫn mang lại hiệu quả giảm đau vai cho bệnh nhân sau đột quỵ Tuy nhiên, đề tài chúng tôi khi thực hiện đã chưa thống kê được liệu các huyệt Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên liêu, Tý nhu có phải cũng là A thị huyệt trong nhóm can thiệp hay không, và chiếm tỉ lệ bao nhiêu Đây cũng là điểm yếu của

đề tài khi khẳng định rằng phương pháp điện châm các huyệt Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên liêu, Tý nhu giảm đau vai tốt hơn châm A thị huyệt

KẾT LUẬN

Phương pháp điện châm các huyệt Bỉnh phong, Kiên ngung, Kiên liêu, Tý nhu giúp mang lại hiệu quả giảm đau vai sau đột quỵ giai đọan lịêt mềm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Baker LL, Parker K (1986) Neuromuscular electrical

stimulation in the muscle surrounding the shoulde Phys Ther,

66: 1930–1937

2 Bohannon RW, Andrews AW (1990) Shoulder subluxation

and pain in stroke patients Am J Occup Ther, 44(6): 507-509

3 Chantraine A, Baribeault A, Uebelhart D, Gremion G (1999) Shoulder pain and dysfunction in hemiplegia: effects of

functional electrical stimulation Arch Phys Med Rehabil, 80:

328–331

4 Faghri PD, Rodgers MM, Glaser RM, Bors JG, Ho C, Akuthota

P (1994) The effects of functional electrical stimulation on shoulder subluxation, arm function recovery, and shoulder

pain in hemiplegic stroke patients Arch Phys Med Rehabil,

75(1): 73-79

5 Glenn C, Thomas M (2000) Functional Anatomy of the

Shoulder Journal of Athletic Training, 35(3): 248-255

6 Ingrid Lindgren (2006) Shoulder Pain After Stroke Stroke, 38:

343- 348

7 Melzack R, Wall PD (1965) Pain mechanisms: a new theory

Science, 150(3699): 971-979

8 Molsberger AF1, Schneider T, Gotthardt H, Drabik A (2010) German Randomized Acupuncture Trial for chronic shoulder pain (GRASP) - a pragmatic, controlled, patient-blinded,

Trang 8

multi-centre trial in an outpatient care environment Pain,

151(1): 146-154

9 Robert G, DO (2013) Shoulder Pain in Hemiplegia Emedicine

Medscape

10 Yu DT, Chae J, Walker ME, Fang ZP (2001) Percutaneous

intramuscular neuromuscular electric stimulation for the

treatment of shoulder subluxation and pain in patients with

chronic hemiplegia: a pilot study Arch Phys Med Rehabil, 82(1):

20-25

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 31/08/2016 Ngày bài báo được đăng: 25/11/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 03:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w