1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trong đỏ da toàn thân

6 44 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 293,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đỏ da toàn thân (ĐDTT) có thể gây đe dọa tính mạng và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Triệu chứng lâm sàng trong ĐDTT thường chồng lấp gây khó khăn cho chẩn đoán bệnh căn. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ĐDTT nhập viện Bệnh viện Da liễu Tp. Hồ Chí Minh.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG TRONG ĐỎ DA TOÀN THÂN

Phạm Quốc Thảo Trang*, Lê Thái Vân Thanh*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Đỏ da toàn thân (ĐDTT) có thể gây đe dọa tính mạng và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống

của bệnh nhân Triệu chứng lâm sàng trong ĐDTT thường chồng lấp gây khó khăn cho chẩn đoán bệnh căn

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ĐDTT nhập viện Bệnh viện Da liễu

Tp Hồ Chí Minh

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca Bệnh nhân ĐDTT được khám

lâm sàng, thực hiện cận lâm sàng và được theo dõi diễn tiến bệnh đến khi xuất viện

Kết quả: 64 bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu có tuổi trung bình là 53,33 ± 14,13 Triệu chứng

ngứathường gặp nhất (70,31%) Bất thường cận lâm sàng như tăng IgE huyết thanh (57,81%), tốc độ lắng máu tăng (56,25%), giảm albumin huyết thanh (51,57%),tăng bạch cầu (40,63%) IgE huyết thanh tăng có sự khác biệt giữa ĐDTT do chàm so với vảy nến (p = 0,014) Mô học phù hợp chẩn đoán bệnh căn trong 76,56% trường hợp Vảy nến chiếm tỉ lệ cao nhất trong các bệnh căn ĐDTT (60,94%), kế tiếp là chàm (20,31%)

Kết luận: Mô học giúp chẩn đoán bệnh căn ĐDTT trong phần lớn trường hợp Ngoài ra, nồng độ IgE

huyết thanh có thể là công cụ hỗ trợ giúp chẩn đoán phân biệt ĐDTT do vảy nến với chàm khi lâm sàng không điển hình

Từ khóa: đỏ da toàn thân, IgE huyết thanh, mô học

ABSTRACT

CLINICAL AND LABORATORY CHARACTERISTICS OF ERYTHRODERMA

Pham Quoc Thao Trang, Le Thai Van Thanh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 23 - No 1- 2019: 62-67

Background: Erythroderma is a potentially life-threatening condition and has a negative impact on

quality of life Erythroderma has many overlapping features which made the identification of underlying cause quiet challenging

Objective: To survey the clinical features and laboratory findings in erythroderma admitted to Ho Chi Minh

City Hospital of Dermato-Venereology

Subjects and Methods: A case series study was conducted Erythrodermic patients were physical

examined, performed laboratory examinations including skin biopsy and were followed up until discharge to know the evolution of the erythroderma

Results: The mean age of 64 patients was 53.33 ± 14.13 years Pruritus is the most frequent complaint

(70.31%) The common laboratories were hyperimmunoglobulinemia (Ig) E (57.81%), elevated ESR (56.25%), hypoalbuminemia (51.57%) and leukocytosis (40.63%) The percentage of increased total serum IgE levels was statistically different between eczema and psoriasis (p = 0.014) Skin biopsy revealed the cause in 76.56% of 64 patients Psoriasis was the predominant etiology (60.94%), followed by eczema (20.31%)

Conclusions: The histopathology yielded the typical features of underlying cause in most cases The

increased IgE levels may be a helpful tool to distinguish psoriasis and eczema with atypical clinical settings

Keywords: erythroderma, Immunoglobulin E, histopathology

*Bộ môn Da liễu, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đỏ da toàn thân (ĐDTT) là một tình trạng

nặng có thể gây đe dọa tính mạng và ảnh hưởng

đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Tỉ lệ tử

vong từ 3,73% đến 64%(6) Trong đó, chẩn đoán

sớm bệnh căn là một trong những bước quan

trọng cho phép điều trị đặc hiệu sớm, giúp lui

bệnh nhanh và có thể giúp ngăn chặn tái phát

bệnh lý này Hơn nữa, nhóm bệnh lý ác tính

(thường gặp là lymphoma da) gây ĐDTT

thường bị chẩn đoán nhầm với những bệnh căn

lành tính khác

Việc chẩn đoán xác định bệnh căn là một

thách thức lớn hiện nay vì bệnh căn ĐDTT rất đa

dạng và hầu hết cận lâm sàng không giúp ích

cho chẩn đoán Hơn thế, việc chẩn đoán xác định

bệnh căn trễ hoặc không chính xác có thể dẫn

đến xử trí sai lầm và tiên lượng nặng nề cho

bệnh nhân Do đó, khi tiếp cận một bệnh nhân

ĐDTT, việc ưu tiên là phải đánh giá mức độ

nặng, nhẹ và xác định được bệnh căn của ĐDTT

Vì thế chúng tôi quyết định thực hiện đề tài

“Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

trong đỏ da toàn thân”, với mục đích khảo sát

những biểu hiện lâm sàng và thay đổi cận lâm

sàng của ĐDTT, đồng thời chú trọng việc phát

hiện những bệnh căn của ĐDTT để giúp cho các

bác sĩ lâm sàng quản lý tối ưu và cải thiện tiên

lượng cho bệnh nhân

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Khảo sát các đặc điểm lâm sàng, cận lâm

sàng của bệnh nhân ĐDTT tại Bệnh viện Da Liễu

thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 9/2017 đến

tháng 4/2018

Tiêu chuẩn nhận vào

Có tuổi từ 18 trở lên

Bệnh nhân được chẩn đoán ĐDTT trên lâm

sàng (hồng ban tróc vảy ≥ 90% diện tích da bề

mặt cơ thể)

Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Có chống chỉ định của sinh thiết da: dị ứng thuốc tê, rối loạn đông máu, dùng thuốc chống đông máu

Bệnh nhân không tuân thủ điều trị

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt ca

Các bước tiến hành

Ghi nhận lâm sàng gồm một số đặc điểm dịch tễ, các dấu hiệu lâm sàng của bệnh nhân được chẩn đoán ĐDTT lúc nhập viện

Bệnh nhân được thực hiện các xét nghiệm gồm tổng phân tích tế bào máu, tốc độ lắng máu, sinh hóa máu (men gan, đường huyết, protein/albumin huyết thanh, creatinin huyết thanh, ion đồ máu, tổng phân tích nước tiểu), nồng độ IgE toàn phần trong huyết thanh và mô bệnh học

Theo dõi diễn tiến quá trình điều trị (phương thức điều trị và lâm sàng khi bệnh nhân hết ĐDTT)

Chẩn đoán bệnh căn ĐDTT dựa vào lâm sàng, mô bệnh học và diễn tiến quá trình điều trị

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được tiến hành trên 64 bệnh nhân ĐDTT nhập viện tại khoa lâm sàng I và II Bệnh viện Da liễu Tp HCM

Đặc điểm dịch tễ

Tuổi trung bình của bệnh nhân ĐDTT là 53,33 ± 14,13 tuổi (nhỏ nhất là 20 tuổi và lớn nhất

là 84 tuổi), nhóm trên 55 tuổi chiếm 51,56%, chủ yếu là nam (71,88%) Đa số bệnh nhân đến từ các tỉnh khác (79,69%), chủ yếu làm nghề nông (28,12%) và nghỉ hưu (18,75%)

Đặc điểm lâm sàng

Tuổi khởi phát bệnh trung bình là 51,44 ± 14,56 tuổi, thời gian khởi phát ĐDTT có trung

vị là 30 ngày (nhanh nhất là 4 ngày và chậm nhất là 7 tháng) Trước đợt bệnh này, bệnh nhân đã có ĐDTT cùng bệnh căn lần này chiếm tỉ lệ là 43,75%

Trang 3

Ngứa là triệu chứng thường gặp nhất

(70,31%) (Bảng 1)

Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ĐDTT

(n=64)

Đặc điểm Tần suất Tỉ lệ %

Tổn thương móng 35 54,69

Dày sừng lòng bàn tay-lòng bàn

Đặc điểm cận lâm sàng

Bảng 2: Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân

ĐDTT (n=64)

Đặc điểm Tần suất Tỉ lệ (%)

Tổng phân tích tế bào máu và tốc độ lắng máu

Bạch cầu tăng

Bạch cầu đa nhân trung tính tăng

Tế bào đơn nhân tăng

22

4

34,38 6,25 Thiếu máu

Hồng cầu nhỏ nhược sắt

Đẳng sắc đẳng bào

Hồng cầu to

12

3

2

18,75 4,69 3,13 Tốc độ lắng máu tăng 36 56,25

Sinh hóa máu

Albumin huyết thanh giảm

Nhẹ-vừa

Nặng

30

3

46,88 4,69 Protein huyết thanh giảm 26 40,63

Men gan tăng

Tăng nhẹ-vừa

Tăng cao

8

4

12,5 6,25 Creatinine huyết thanh tăng 8 12,5

Đường huyết tăng 6 9,38

Ion đồ máu bất thường

Ca2+ giảm

K+ giảm

Na+ giảm

11

5

1

17,19 7,81 1,56 Một số bất thường cận lâm sàng ghi nhận

được gồm tăng bạch cầu (40,63%) chủ yếu bạch

cầu đa nhân trung tính, tốc độ lắng máu tăng

(56,25%), thiếu máu (26,57%), giảm albumin

huyết thanh (51,57%) với đa số ở mức độ

nhẹ-vừa, men gan tăng (18,75%) chủ yếu ở mức độ

nhẹ-vừa, creatinine huyết thanh tăng (12,5%),

ion đồ máu bất thường (26,56%) với giảm Ca2+

thường gặp Không có trường hợp nào có tổng

phân tích nước tiểu bất thường

Hơn ½ trường hợp (57,81%) bệnh nhân ĐDTT có nồng độ IgE toàn phần trong huyết thanh tăng và 18,75% trường hợp có nồng độ IgE

tăng cao (Bảng 3)

Bảng 3: Kết quả nồng độ IgE huyết thanh (n=64)

IgE huyết thanh Tần suất Tỉ lệ (%)

Tăng (>100 UI/ml) 37 57,81 Tăng cao (>1000 UI/ml) 12 18,75

Xác định bệnh căn ĐDTT

Tất cả 64 bệnh nhân được điều trị nội trú tại Bệnh viện Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh theo bệnh căn ĐDTT Sau một thời gian điều trị, các bệnh nhân này đã xuất viện với tình trạng bệnh cải thiện tốt (biểu hiện ĐDTT thoái lui hoàn toàn), trừ 1 trường hợp ĐDTT do lymphoma da được chuyển qua khoa huyết học của Bệnh viện Chợ Rẫy Chẩn đoán bệnh căn ĐDTT trùng khớp với chẩn đoán xuất viện của bệnh nhân, nghĩa là chẩn đoán dựa trênsự phối hợp các đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và diễn tiến quá trình điều trị

Bảng 4: Kết quả bệnh căn ĐDTT và mô bệnh học

(n=64)

Bệnh căn ĐDTT Kết quả mô học

Tỉ lệ % mô học đồng nhất bệnh căn ĐDTT

Vảy nến (n=39)

Vảy nến (n=28)

71,79 Viêm da mạn tính (n=8)

Viêm da bán cấp (n=3) Chàm (n=13) Chàm (n=10) 76,92

Viêm da bán cấp (n=3) Thuốc (n=6) Thuốc (n=5) 83,33

Viêm da bán cấp (n=1) Vảy phấn đỏ

nang lông (n=3) Vảy phấn đỏ nang lông (n=3) 100 Viêm bì cơ

(n=1) Viêm bì cơ (n=1) 100 Vảy nến mủ

(n=1) Vảy nến mủ (n=1) 100 Lymphoma da

(n=1) Lymphoma da (n=1) 100

Có 49/64 ca (76,56%) có đặc điểm mô bệnh học cho kết quả phù hợp với chẩn đoán xác định bệnh căn ĐDTT

Trang 4

Mối liên quan giữa bệnh căn ĐDTT và một

số đặc điểm dịch tễ, cận lâm sàng

Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê

giữa bệnh căn ĐDTT với các đặc điểm dịch tễ

(tuổi, giới tính, nơi cư ngụ) và cận lâm sàng

(bạch cầu tăng, thiếu máu, tốc độ lắng máu tăng,

protein/albumin huyết thanh giảm, men gan

tăng, đường huyết tăng, creatinine huyết thanh

tăng, ion đồ máu bất thường)

Bảng 5: Mối liên quan giữa bệnh căn ĐDTT và nồng

độ IgE huyết thanh toàn phần tăng (n=64)

Đặc điểm IgE huyết thanh tăng P a P b

Có Không

Vảy nến 16 (41,03) 23 (58,97)

0,002 0,014*

Chàm 12 (92,31) 1 (7,69)

Thuốc 4 (66,67) 2 (33,33)

VPĐNL 3 (100) 0

Viêm bì cơ 1 (100) 0

Vảy nến mủ 0 1 (100)

Lymphoma da 1 (100) 0

a phép kiểm chính xác Fisher; b phép kiểm Post-hoc Turkey

* Kiểm định Post-hoc Turkey cho thấy chỉ có sựkhác biệt có

ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ bệnh nhân có tăng nồng độ IgE

huyết thanh toàn phần ở nhóm ĐDTT do chàm so với

nhóm ĐDTT do vảy nến

Bảng 6: Mối liên quan giữa bệnh căn ĐDTT và nồng

độ IgE huyết thanh toàn phần tăng cao (n=64)

Đặc điểm IgE huyết thanh tăng cao P a P b

Có Không

Vảy nến 3 (7,69) 36 (92,31)

0,01 0,026*

Chàm 6 (46,15) 7 (53,85)

Thuốc 1 (16,67) 5 (83,33)

VPĐNL 1 (33,33) 2 (66,67)

Viêm bì cơ 1 (100) 0

Vảy nến mủ 0 1 (100)

Lymphoma da 0 1 (100)

a phép kiểm chính xác Fisher; b phép kiểm Post-hoc Turkey

* Kiểm định Post-hoc Turkey cho thấy chỉ có sựkhác biệt có

ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ bệnh nhân có nồng độ IgE huyết

thanh toàn phần tăng cao ở nhóm ĐDTT do chàm so với

nhóm ĐDTT do vảy nến

BÀN LUẬN

ĐDTT thường có tuổi khởi phát trung bình

là 41-61 tuổi, nam gặp nhiều hơn nữ(6) 64 bệnh

nhân trong mẫu nghiên cứu có tuổi khởi phát

trung bình là 51,44 ± 14,56 tuổi và đa số bệnh

nhân trên 55 tuổi (51,56%), tỉ lệ nam:nữ là 2,6:1 Người lớn tuổi thường có nhiều bệnh đồng mắc, nên phải dùng nhiều thuốc và thuộc nhóm nguy

cơ cao phát triển bệnh lý ác tính(2).Những yếu tố này có thể góp phần gây khởi phát ĐDTT ở nhóm tuổi này

Phần lớn diện tích da bị tổn thương trong ĐDTT, gây rối loạn chức năng hàng rào bảo vệ

da dẫn đến những biến chứng như rối loạn điều hòa thân nhiệt, tăng mất nước qua da và da dễ bị kích ứng với môi trường xung quanh(6) Ngoài

ra, ĐDTT với bất kể bệnh căn khi kéo dài có thể gây tổn thương móng, dày sừng lòng bàn tay-lòng bàn chân Do đó, những biểu hiện như ngứa hay sốt, ớn lạnh(3,10,16) thường gặp và không đặc hiệu cho chẩn đoán bệnh căn ĐDTT Chúng tôi cũng ghi nhận được những triệu chứng này thường gặp trong ĐDTT như ngứa (70,31%), phù (62,5%), sốt (35,94%), ớn lạnh (35,94%), tổn thương móng (54,69%)

Nhiều bất thường cận lâm sàng được ghi nhận, trong đó có những biểu hiện liên hệ với kéo dài thời gian nằm viện, tăng nguy cơ biến chứng và tử vong cho bệnh nhân nằm viện(1,15) như creatinine huyết thanh tăng, albumin huyết thanh giảm, bất thường ion đồ máu Do đó, cần theo dõi huyết học và sinh hóa máu để ngăn ngừa biến chứng cho bệnh nhân ĐDTT Tuy nhiên, những thay đổi cận lâm sàng này chủ yếu

do đáp ứng với hiện tượng viêm trong ĐDTT Tình trạng bong tróc vảy da nhiều làm giảm albumin huyết thanh có thể liên quan với giảm

Ca2+ và tăng tốc độ lắng máu ở bệnh nhân ĐDTT Vì vậy, nghiên cứu của chúng tôi và phần lớn các tác giả khác quan sát thấy hầu hết cận lâm sàng không liên hệ bệnh căn ĐDTT Bên cạnh đó, chúng tôi ghi nhận được 57,81% trường hợp tăng nồng độ IgE huyết thanh và 18,75% trường hợp tăng cao Bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi không có tình trạng khác kèm theo làm tăng IgE huyết thanh như bệnh lý dị ứng gồm hen, viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng hay tình trạng nhiễm ký sinh trùng, hội chứng tăng eosinophil

Trang 5

Một số nghiên cứu khác cũng quan sát thấy hiện

tượng tăng IgE huyết thanh trong ĐDTT(4,7) Do

đó, IgE có thể góp phần trong sinh bệnh học của

ĐDTT Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả

Sigurdsson(14) cho thấy thâm nhiễm lớp bì trong

ĐDTT do hội chứng Sézary biểu hiện cytokine

của dòng lympho T giúp đỡ týp 2 (Th2) Ngược

lại, ĐDTT lành tính (viêm da cơ địa, viêm da tiết

bã, vảy nến, phát ban đa dạng ánh sáng mạn

tính) có biểu hiện chủ yếu cytokine của dòng

lympho T giúp đỡ týp 1 Từ đó, tác giả cho rằng

không có sự thay đổi đặc tính cytokine khi tiến

triển từ bệnh lý khu trú sang ĐDTT Mặt khác,

tác giả Fierro(5) thấy ĐDTT do vảy nến, chàm,

thuốc tăng biểu hiện thụ thể chemokine liên hệ

cả Th1 và Th2 Nghiên cứu của tác giả Zhang(17)

cho thấy ĐDTT do vảy nến biểu hiện cả 2 kiểu

hình đáp ứng miễn dịch, nhưng hơi thiên về

Th2 Chúng tôi quan sát thấy có sự khác biệt về

nồng độ IgE toàn phần trong huyết thanh tăng

(p=0,002) và tăng cao (p=0,01) giữa các bệnh căn

ĐDTT Trong đó, tỉ lệ bệnh nhân có nồng độ IgE

toàn phần trong huyết thanh tăng và tăng cao ở

nhóm ĐDTTdo chàm nhiều hơn đáng kể so với

vảy nến Như vậy, IgE huyết thanh có thể có vai

trò trong cơ chế bệnh sinh của ĐDTT nhưng vẫn

thấy hiện tượng này có phần nổi trội hơn trong

nhóm bệnh lý dị ứng như chàm

Một số nghiên cứu cho thấy mô học của

ĐDTT không đặc hiệu, không giúp chẩn đoán

bệnh căn(9,12) Tuy nhiên, nghiên cứu của các tác

giả khác cho thấy mô học giúp chẩn đoán xác

định bệnh căn trong phần lớn trường hợp(8,11)

Qua đó, các tác giả đề xuất mô học cần được

thực hiện để chẩn đoán bệnh căn ĐDTT Nghiên

cứu của chúng tôi cũng cho thấy mô bệnh học có

hình ảnh đặc hiệu của bệnh căn ở phần lớn

trường hợp ĐDTT Hơn nữa, những trường hợp

mô học không đặc hiệu vẫn có hình ảnh gợi ý

bệnh căn ĐDTT Viêm da mạn tính trong ĐDTT

do vảy nến có giãn mạch máu nông ở lớp bì với

khuynh hướng giãn theo chiều dọc, hướng lên

trong phần nhú bì kéo dài, sát thượng bì Biểu

hiện này không thấy trong ĐDTT do bệnh căn

khác Hình ảnh viêm da bán cấp trong ĐDTT do chàm cũng khác do vảy nến vớihiện tượng xốp khu trú, mức độ vừa, tăng gai không đều, giãn mạch máu ở lớp bì nông nhưng lan tỏa hơn Trường hợp viêm da bán cấp trong ĐDTT do thuốc có thâm nhiễm tế bào lympho dày đặc hơn

so với trong chàm và vảy nến

Hiện nay, bệnh lý da vẫn chiếm tỉ lệ cao trong những bệnh căn ĐDTT Trong đó, vảy nến thường gặp nhất ở hầu hết trường hợp ĐDTT trong nghiên cứu của chúng tôi và tác giả khác(10,13) Điều này có lẽ do vẫn còn tồn tại tình trạng sử dụng thuốc không đúng cách hay lạm dụng thuốc trong điều trị vảy nến như ngưng đột ngột corticosteroid, dùng thuốc nam, thuốc bắc không rõ nguồn gốc ĐDTT do viêm bì cơ rất hiếm gặp và chỉ có một vài ca được báo cáo trong y văn, do đó nghiên cứu của chúng tôi cũng chỉ ghi nhận được 1 trường hợp ĐDTT do viêm bì cơ Bệnh căn ác tính gây ĐDTT trong nghiên cứu của chúng tôi cũng chiếm tỉ lệ thấp tương tự với những nghiên cứu khác(16)

Thêm vào đó, những trường hợp ĐDTT màhình ảnh mô học không đặc hiệu vẫn cho thấy đáp ứng điều trị theo chẩn đoán dựa vào các biểu hiện lâm sàng Một trường hợp được chẩn đoán ĐDTT do vảy nến dựa vào biểu hiện lâm sàng lúc nhập viện và có bệnh sử vảy nến 30 năm nay Trong quá trình nằm viện, bệnh nhân tiếp tụcdùng thuốc điều trị tình trạng cường giáp do bướu giáp, đã dùng được 2 tháng nay và

mô bệnh học có biểu hiện là viêm da bán cấp Sau đó bệnh nhân nổi thêm bóng nước, mụn nước và được chẩn đoán theo lâm sàng hiện tại kết hợp với mô bệnh học phù hợp là ĐDTT do thuốc Sau khi ngưng thuốc kết hợp với uống prednisone trong vòng 10 ngày, ĐDTT và các triệu chứng khác cải thiện nhanh và lui Ngoài

ra, bệnh nhân ĐDTT do vảy nến có mô học không đặc hiệu cũng cho thấy đáp ứng tốt với điều trị vảy nến như tiếp tục hay tăng liều Methotrexate và thoa corticoid phối hợp calcipotriol trên diện tích da <30% Những trường hợp chàm có biểu hiện viêm da bán cấp

Trang 6

trên mô học khi được điều trị với corticoid uống

cũng cho thấy cải thiện đáng kể sau 1-2 tuần Do

đó, có thể thấy diễn tiến quá trình điều trị đóng vai

trò quan trọng trong chẩn đoán bệnh căn ĐDTT,

cùng với những biểu hiện phù hợp trên mô bệnh học

KẾT LUẬN

Mô học với những hình ảnh đặc hiệu của

bệnh căn giúp chẩn đoán xác định bệnh căn của

ĐDTT trong đa số trường hợp và hình ảnh

không đặc hiệu cũng giúp gợi ý bệnh căn Do

đó, chúng tôi đề nghị sử dụng mô học như là

một công cụ cần thiết và hữu ích trong hỗ trợ

chẩn đoán bệnh căn ĐDTT

Tỉ lệ bệnh nhân có nồng độ IgE toàn phần

trong huyết thanh tăng ở nhóm ĐDTTdo chàm

nhiều hơn đáng kể so với vảy nến.Vì vậy, IgE

huyết thanh có thể giúp chẩn đoán phân biệt

bệnh căn ĐDTT trong những trường hợp do

chàm hoặc vảy nến với lâm sàng không điển hình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Akirov A, Masri-Iraqi H, Atamna A, Shimon I (2017) Low

Albumin Levels Are Associated with Mortality Risk in

Hospitalized Patients The American journal of medicine,

130(12):pp.1465

2 Berger NA, Savvides P, Koroukian SM, Kahana EF, Deimling

GT, Rose JH, Bowman KF, Miller RH (2006) Cancer in the

elderly Transactions of the American Clinical and Climatological

Association, 117:pp.147-156

3 César A, Cruz M, Mota A, Azevedo F (2016) Erythroderma A

clinical and etiological study of 103 patients Journal of

dermatological case reports, 10(1):pp.1

4 El Euch D, Zeglaoui F, Benmously R, Turki H, Denguezli M, Zili

J, Fenniche S, Dhaoui R, Zouari B (2003) Erythroderma: a

clinical study of 127 cases and review of the literature Exogenous

Dermatology, 2(5):pp.234-239

5 Fierro MT, Comessatti A, Quaglino P, Ortoncelli M, Abate SO,

Ponti R, Novelli M, Bernengo MG (2006) Expression pattern of

chemokine receptors and chemokine release in inflammatory

erythroderma and Sezary syndrome Dermatology, 213(4):

284-292

6 Grant-Kels JM, Fedeles F, Rothe MJ (2012) Exfoliative

dermatitis In: Goldsmith LA, Katz SI, et al (eds) Fitzpatrick’s

dermatology in general medicine,pp.266-278

7 Hasan T, Jansén CT (1983) Erythroderma: a follow-up of fifty

cases Journal of the American Academy of Dermatology,

8(6):pp.836-840

8 Khaled A, Sellami A, Fazaa B, Kharfi M, Zeglaoui F, Kamoun M (2010) Acquired erythroderma in adults: a clinical and

prognostic study Journal of the European Academy of Dermatology

and Venereology, 24(7):pp.781-788

9 King JrL, Dufresne JrR, Lovett GL, Rosin MA (1986)

Erythroderma: review of 82 cases Southern medical journal,

79(10):pp.1210-1215

10 Li J, Zheng H-Y (2012) Erythroderma: a clinical and prognostic

study Dermatology, 225(2):pp.154-162

11 Megna M, Sidikov AA, Zaslavsky DV, Chuprov IN, Timoshchuk EA, Egorova U, Wenzel J, Nasyrov RA (2017) The

role of histological presentation in erythroderma International

Journal of Dermatology, 56(4): 400-404

12 Pal S, Haroon TS (1998) Erythroderma: a clinico-etiologic study

of 90 cases Int J Dermatol, pp.37

13 Rym BM, Mourad M, Bechir Z, Dalenda E, Faika C, Iadh AM,

Amel BOD (2005) Erythroderma in adults: a report of 80 cases

International journal of dermatology, 44(9):pp.731-735

14 Sigurdsson V, Toonstra J, Bihari IC, Bruijnzeel-Koomen CA, Vloten WA, Thepen T (2000) Interleukin 4 and interferon-γ expression of the dermal infiltrate in patients with

immunohistochemical study Journal of cutaneous pathology,

27(9):pp.429-435

15 Thakar CV, Christianson A, Freyberg R, Almenoff P, Render

ML (2009) Incidence and outcomes of acute kidney injury in

intensive care units: a Veterans Administration study Critical

care medicine, 37(9):pp.2552-2558

16 Yuan XY, Guo JY, Dang YP, Qiao L, Liu W (2010)

Erythroderma: A clinical-etiological study of 82 cases European

Journal of Dermatology, 20(3):pp.373-377

17 Zhang P, Chen HX, Duan YQ, Wang WZ, Zhang TZ, Li JW, Tu

YT (2014) Analysis of Th1/Th2 response pattern for

erythrodermic psoriasis Journal of Huazhong University of Science

and Technology ( Medical Sciences ), 34(4):pp.596-601

Ngày đăng: 15/01/2020, 03:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w