Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả điều trị gãy lồi cầu (LC) bằng phương pháp kết hợp xương bằng nẹp vít tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Bình Định.
Trang 1PHẪU THUẬT KẾT HỢP XƯƠNG BẰNG NẸP VÍT ĐIỀU TRỊ GÃY LỒI CẦU XƯƠNG HÀM DƯỚI
Trần Quý Đệ*, Lê Đức Lánh**
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị gãy lồi cầu (LC) bằng phương pháp kết hợp xương bằng nẹp vít tại
Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Bình Định
Phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng không đối chứng - Báo cáo loạt ca tiến hành trên 41 trường
hợp bệnh nhân gãy lồi cầu tại Khoa Răng Hàm Mặt, bệnh viện đa khoa tỉnh Bình định từ tháng 1/2010 đến tháng 7/ 2013, theo dõi và đánh giá dựa trên lâm sàng và phim Xquang cho đến sau phẫu thuật 6 tháng
Kết quả và kết luận: Đường rạch dưới hàm biến đổi là một kỹ thuật điều trị gãy cổ lồi cầu tương đối dễ tiến
hành và đem lại thành công về mặt chức năng, giải phẫu, thẩm mỹ ở mức độ chấp nhận được và ít gây biến chứng
Từ khoá: Gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới, kết hợp xương, đường rạch dưới hàm biến đổi
ABSTRACT
TREATMENT OF MANDIBULAR CONDYLAR NECK FRACTURES USING OSTEOSYNTHESIS WITH
PLATE
Tran Quy De, Le Duc Lanh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 313 - 318
Objective: To evaluate the results of treatment of mandibular condylar neck fractures using osteosynthesis
with plate at Binh Dinh hospital
Methods: Clinical trial and case series report without control group on 41 patients with condylar fractures
that were treated at the Departure of Maxillofacial, Binh Dinh Hospital from January 2010 to July 2013 These subjects were followed up based on clinical signs and radiographs during 6 months
Results and conclusions: The modified-submandibular approach, a technique applied in treatment of
condylar neck fracture, was fairly easy to perform and effective to re-establish acceptable anatomic structure, function and aesthetics There was also low rate of complication following this technique
Key words: mandibular condylar neck fractures, osteosynthesis, modified-submandibular approach
ĐẶT VẤN ĐỀ
Gãy LC sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến chức năng
của hệ thống nhai và sự di lệch của lồi cầu gãy sẽ
làm phá vỡ cấu trúc diện khớp, đĩa khớp, các
dây chằng và cơ bám vào khớp, từ đó có thể để
lại các di chứng như loạn năng khớp, cứng khớp,
rối loạn vận động hàm dưới (HD), rối loạn tăng
trưởng HD, sai khớp cắn ảnh hưởng trực tiếp
đến chức năng ăn nhai và phần nào thẩm mỹ
của bệnh nhân(BN)(4)4
Tại Việt Nam, gãy LC phần lớn được điều trị bằng phương pháp bảo tồn do đây là phương pháp đơn giản và tương đối hiệu quả Tuy nhiên, với tình hình chấn thương hàm mặt ngày càng tăng về số lượng và mức độ trầm trọng như hiện nay, việc điều trị gãy LC XHD bằng phương pháp phẫu thuật (PT) đang ngày càng trở nên cần thiết Có nhiều kỹ thuật
đã được mô tả trong việc điều trị kết hợp xương lồi cầu, trong đó, sử dụng hệ thống nẹp vít nhỏ đang trở nên ngày càng thông dụng và
*Bệnh Viện đa khoa tỉnh Bình Định
**Bộ môn Cấy ghép nha khoa- Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y dược TP.HCM
Trang 2phương pháp PT qua đường vào ngoài mặt
vẫn còn được sử dụng bên cạnh việc cải tiến
sao cho giảm tối đa biến chứng Đồng thời, tại
tỉnh Bình Định do tỉ lệ BN bị tai nạn cao,
phương tiện điều trị ở tuyến tỉnh còn hạn chế
và hệ thống nẹp-vít nhỏ bắt đầu được áp dụng
trong điều trị gãy XHD vào năm 2010 nên
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên
cứu “Phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít điều
trị gãy lồi cầu xương hàm dưới tại bệnh viện đa
khoa tỉnh Bình định từ năm 2010 - 2013” với các
mục tiêu sau:
1 Xác định các dữ liệu dịch tễ học gãy lồi cầu
XHD tại Bình Định
2 Đánh giá hiệu quả điều trị trong gãy LC
bằng nẹp vít
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mẫu nghiên cứu
Tất cả BN được chẩn đoán gãy LC được điều
trị tại Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện đa khoa
tỉnh Bình định, từ tháng 1/2010 đến tháng 7/2013
Tiêu chuẩn chọn mẫu: Tất cả BN được chẩn
đoán gãy cổ lồi cầu có chỉ định PT ; người nhà và
BN đồng ý điều trị PT Tiêu chuẩn loại trừ: BN
chấn thương sọ não nặng; BN bị di chứng sau
chấn thương sọ não (Glasgow<12 điểm); Lành
thương lệch tại chỗ gãy lồi cầu; Gãy vỡ đầu lồi
cầu; BN không đồng ý tham gia điều trị
Nghiên cứu sử dụng hệ thống nẹp vít nhỏ
dày 1mm của BioMaterials Korea, Inc
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng không đối
chứng - Báo cáo loạt ca
Chuẩn bị BN
- Lập hồ sơ bệnh án theo dõi Ghi nhận tiền
sử và bệnh sử Khám và ghi nhận các triệu
chứng: Đau vùng trước tai bên gãy khi sờ hoặc
khi vận động hàm, mất cân xứng mặt, chảy máu
ống tai ngoài bên gãy và mức độ: sai khớp cắn,
vị trí cắn hở, vị trí chạm sớm
- Chụp phim CT: khảo sát hình ảnh trên CT
Phân loại gãy lồi cầu theo phân loại của Lindahl
Tiến trình điều trị
Sử dụng đường rạch dưới hàm biến đổi (đường rạch Risdon biến đổi)
Sau Phẫu thuật: Tất cả các BN đều: thực hiện chế độ ăn lỏng, dùng thuốc kháng sinh, kháng viêm, giảm đau, BN cử động hàm từ ngày đầu tiên sau PT và nói, xuất viện sau 1 tuần Yêu cầu
BN ăn mềm trong thời gian 4-6 tuần và tập há ngậm miệng, đưa hàm ra trước và sang bên
Phương pháp đánh giá
Thời điểm đánh giá
- Đánh giá lâm sàng tại các thời điểm 02 tuần, 04 tuần, 03 tháng và 06 tháng sau PT
- Đánh giá cận lâm sàng được thực hiện vào thời điểm 1 tuần sau PT trên phim CT, 04 tuần,
03 tháng và 06 tháng sau PT bằng phim mặt thẳng, phim chếch nghiêng HD
Tiêu chí đánh giá kết quả điều trị
1 Tình trạng vết mổ: Bung chỉ, hở vết mổ: Có/
không Nhiễm trùng (0: không, 1: nhẹ, 2: vừa, 3:
nặng) Tụ máu vết mổ (0: không, 1: ít, 2: nhiều)
Dò mủ vết mổ: Có/ không Sẹo mổ ngoài da:
Đẹp, Vừa, Xấu Tổn thương thần kinh mặt: Có/ không
2 Vận động hàm dưới sau phẫu thuật: Độ há
miệng: theo Hoàng Tử Hùng và cs (2005)(3) Tiếp xúc cắn khớp trong các vận động chức năng: (Lồng múi tối đa, Vận động trượt: Ra trước và Sang bên) Đánh giá tình trạng ăn nhai sau PT theo tiêu chí của Gupta (0: không ăn nhai được, 1: chỉ có thể ăn nhai thức ăn mềm, 2: chỉ có thể ăn nhai thức ăn cứng vừa phải,3: có thể ăn nhai
thức ăn cứng)
3 Hình ảnh Xquang lành thương sau phẫu thuật:
Mức độ tiếp hợp xương (Chính xác: Khoảng hở giữa hai đầu đoạn gãy <1mm và bờ xương liên tục; Lệch ít: khoảng hở giữa 2 đầu đoạn gãy
<1mm và bờ xương lệch <1mm; Lệch nhiều: khoảng hở giữa 2 đầu đoạn gãy >1mm hay bờ xương lệch >1mm) Gãy nẹp (có/ không), bong
vít (có/ không)
Trang 3KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Dữ liệu dịch tễ của mẫu nghiên cứu trước
điều trị
Tỉ lệ BN gãy LC XHD tại BV đa khoa tỉnh
Bình Định là 10%, cao hơn nghiên cứu của
L.P.Vũ và L.Đ.Lánh (2010)(6) trên BN tại BV đa
khoa tỉnh Tiền Giang (5,9%) và thấp hơn
N.T.K.Khôi và L.Đ.Lánh (2011)(9) khảo sát tại BV
đa khoa tỉnh Đồng Nai là 23,9% Người trẻ bị
chấn thương chiếm tỉ lệ cao nhất 63,4% (20-30
tuổi), với tỉ lệ nam (82,9%) gấp gần 5 lần so với
nữ (17,1%) Trong số các nguyên nhân chấn
thương, tai nạn giao thông xe gắn máy hai bánh
chiếm xuất độ cao nhất (90,3%), đây là vấn đề
thường gặp trong các nghiên cứu về chấn
thương hàm mặt ở nước ta Nghiên cứu này
không ghi nhận được trường hợp nào bị gãy LC
do tai nạn thể thao Hầu hết đều bị gãy ở vị trí
dưới LC (63,4%) và cổ LC (34,2%) (Bảng 1) Có
40/41 (97,6%) BN bị gãy lồi cầu có di lệch, trong
đó có 22 trường hợp bị di lệch chồng ngắn ra
ngoài (53,7%), 12 trường hợp bị di lệch chồng
ngắn vào trong (29,3%), 6 trường hợp di lệch
chồng ngắn vào trong và lùi sau ( 14,6%); 1
trường hợp bi di lệch gập góc (2,4%)
Bảng 1 Tỉ lệ gãy lồi cầu phân bố theo hướng lực tác
động
Đa số các trường hợp gãy lồi cầu đều bị tác
động lực lên vùng cằm, điều này cũng tương
ứng với tỉ lệ gãy lồi cầu do tai nạn giao thông
chiếm đa số 90,3% Độ há miệng tối đa trước PT
thay đổi từ 5 - 25mm ở nam và từ 8 - 20mm ở nữ
(Bảng 2) Há miệng quá hạn chế đều xảy ra ở
những trường hợp gãy LC di lệch ra ngoài Mặc
dù đa số các trường hợp BN đều được cột cung 2
hàm trước PT, nhưng sau khi nắn chỉnh và nẹp
đoạn gãy bằng hệ thống nẹp vít nhỏ thì không có
trường hợp nào cần cố định 2 hàm Trong
nghiên cứu này, tất cả BN đều thực hiện chế độ
ăn mềm trong 1 tháng Sau đó, nếu BN có hạn
chế vận động hàm dưới, thì hướng dẫn thêm tập
há miệng
Bảng 2 Độ há miệng tối đa trước phẫu thuật
Độ há miệng
Độ há miệng
TB Độ há miệng tối đa (mm)
12,15 ± 5.4
mm
12,71 ± 4.1
mm
Theo dõi sau phẫu thuật
Tình trạng sai khớp cắn sau PT 2 tuần, có 3 trường hợp (7,3%) 100% đạt lồng múi tối đa Việc tái lập lại tình trạng khớp cắn và vận động
HD là việc cần thiết trong điều trị gãy LC XHD trong đó tập vận động HD là yếu tố quan trọng.Vận động há tối đa hồi phục rất nhanh sau
PT, gần như trở về giá trị bình thường sau mổ 2 tuần nhờ hệ thống nẹp –vít nhỏ đủ vững chắc để không cần cố định liên hàm hỗ trợ Ở nam, độ há tối đa TB: 41,06 ± 5,8mm và ở nữ: 40,00 ± 7,4mm (cả 2 giới: 40,88 ± 5,93mm) Gãy lồi cầu XHD có thể làm tăng nguy cơ đau khớp TDH, di lệch đĩa khớp, há miệng hạn chế và những rối loạn thái dương hàm khác cũng đã được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu Một tuần sau PT, hầu hết BN còn than phiền đau ở khớp TDH với mức độ 4 chiếm đa số: 39%, có đến 8 trường hợp đau dữ dội (19,5%) Tỉ lệ này giảm dần sau 1 tháng và gần như hết đau sau 3 tháng theo dõi BN dễ dàng vận động hàm sớm sau mổ và rất thoải mái
do không có cung cố định hàm trong miệng, đây
là ưu điểm rất lớn khi sử dụng hệ thống nẹp ốc này điều trị gãy LC XHD Có tỉ lệ nhỏ hở vết mổ
do bung chỉ (1,24%) được khâu lại dưới gây tê và
1 trường hợp nhiễm trùng nhẹ sau mổ (1,24%) xuất hiện trong 2 tuần đầu sau mổ được rạch dẫn lưu và điều trị kháng sinh và ổn định ngay sau đó Nghiên cứu này không có trường hợp nào bị viêm xương, lộ nẹp-vít hay phản ứng thải nẹp-vít Ngoài ra cũng không ghi nhận trường hợp nào chậm liền xương, tất cả đường gãy đều vững ổn Tại thời điểm đánh giá trên X quang 7 ngày sau PT, kết quả về tình trạng lành thương
Trang 4sau phẫu thuật của nghiên cứu này (Bảng 3)
không tốt bằng Meyer (2008)(8): 10 ngày sau PT
có 62/75 trường hợp (83%) có kết quả tốt
Bảng 3 Tình trạng lành thương xương sau PT
Tiếp hợp xương 2 tuần
Nghiên cứu này cũng có kết quả thành công
cao với 40/41 BN, không có trường hợp nào mất
trương lực cơ mặt tạm thời Trong số 93 BN PT
qua đường dưới hàm của Ellis có 17,2% mất
trương lực tạm thời và tất cả đều hồi phục trong
vòng 6 tháng(1) Tang và csự (2009), Hammer
(1997)(2,12) đã ghi nhận tỷ lệ tổn thương dây thần
kinh mặt sau PT qua đường rạch trước tai dao
động từ 3,2% đến 42,9% So với các phương
pháp PT khác, đường rạch sau hàm cho phép
nhìn thấy rõ cành đứng XHD và đầu LC hơn
Tuy nhiên, theo Ellis và cộng sự (2000) và Tang
và cs (2009)(1,12) phương pháp phẫu thuật qua
đường rạch sau hàm cổ điển yêu cầu phải banh
vạt từ thùy sau hoặc thùy dưới tuyến mang tai
để bộc lộ vị trí gãy xương Điều này có thể gây ra
chấn thương dây thần kinh mặt, đã được ghi
nhận với tỉ lệ 30% trường hợp
Đường rạch dưới hàm và đường rạch sau
hàm đã được mô tả trong y văn giúp điều trị tốt
cho đường gãy lồi cầu nhưng có nhược điểm là
yêu cầu đường rạch dài và có nguy cơ tổn
thương DTK mặt, đặc biệt là nhánh bờ hàm
dưới Đường rạch dưới hàm cao xuyên cơ cắn
(HSTA) là đường rạch thuận lợi, tiếp cận nhanh
đến vùng lồi cầu thường được sử dụng trong
phẫu thuật hàm mặt Đường rạch này được sử
dụng trong khoa của Lutz (từ năm 1994) Điểm
đặc biệt của phương pháp này là rạch cơ cắn
giữa các nhánh của thần kinh mặt Đây là bước
khó khăn khiến cho các phẫu thuật viên ngại
dùng phương pháp này, dù phương pháp này
được cho là phương pháp an toàn do tỷ lệ tổn
thương dây thần kinh mặt thấp Lutz (2010)(7)
thực hiện đường rạch này trên 10 xác nhằm xác
định chiều cao của các nhánh bờ hàm dưới và nhánh má dưới Với kết quả: chiều cao trung bình của nhánh má dưới là 16,8mm ± 7,2, nhánh
bờ hàm dưới có chiều trung bình là 3,2mm ± 3,0, tác giả đã kết luận rằng đường rạch hàm cao xuyên cơ cắn tạo ra đường bộc lộ rõ và ít tổn thương các nhánh dây thần kinh mặt trên cơ cắn ngay cả khi chạm đúng dây thần kinh mặt Do vậy, một số tác giả đã cải tiến đường rạch sau hàm như: đường rạch sau hàm ngắn (chiều dài đường rạch ≤ 20mm) giúp thu hẹp đường rạch nhưng vẫn bảo đảm cho phẫu thuật viên thao tác được vuông góc với đường gãy Nghiên cứu này
đã chọn đường rạch dưới hàm (đường rạch Risdon) biến đổi (có cải tiến) để điều trị cho tất cả các BN vì những lý do sau: Theo Lutz (2010)(7)
cho thấy chiều cao thấp nhất của nhánh má dưới
là 7mm, cao nhất là 32mm, trong khi đó nhánh
bờ hàm dưới có chiều cao thấp nhất là -3mm và cao nhất là 9mm Như vậy đường rạch dưới hàm cao mà được chọn trong nghiên cứu này chỉ cần cách bờ dưới XHD về phía dưới tối thiểu 4mm là tương đối an toàn (đường rạch trong nghiên cứu này cách bờ dưới XHD khoảng 5mm) Ngoài ra đường rạch dưới hàm này không bộc lộ các nhánh DTK mặt giống như các đường rạch khác
và đường rạch này cũng gần vị trí gãy hơn đường rạch Risdon cổ điển Đường rạch này cũng hoàn toàn không chạm đến tuyến mang tai Như vậy hạn chế tối đa nguy cơ xuất hiện 2 biến chứng nặng nhất của PT điều trị gãy lồi cầu (tổn thương DTK mặt và dò tuyến nước bọt) Nghiên cứu này ghi nhận không có trường hợp biến chứng nào bị liệt thần kinh mặt Ngoài ra, đường rạch này cũng gần vị trí gãy hơn đường rạch Risdon cổ điển, giúp tiếp cận nhanh vùng gãy Chiều dài đường rạch cũng ngắn hơn đường rạch cổ điển để hạn chế phần nào thẩm mỹ không đạt do nhìn thấy sẹo, nhiễm trùng vết mổ Sau phẫu thuật 4 tuần, vết sẹo đã bắt đầu có màu sắc bình thường tuy nhiên còn 16 trường hợp vết sẹo còn hơi đỏ nhưng nhờ đường rạch dưới hàm nên vết sẹo cũng hơi khuất nhìn kỹ mới phát hiện Silvennoinen và cs(11) không ghi nhận được
Trang 5trường hợp nào có sẹo phì đại trong các BN được
điều trị gãy lồi cầu qua đường dưới hàm, tất cả
BN đều hài lòng với các vết sẹo Worsaae và
Thorn(13) cũng cho rằng vết sẹo ở đường rạch
dưới hàm hầu hết gần như không nhìn thấy rõ
Nghiên cứu của Kallela thì ghi nhận có 1/ 11 BN
than phiền về vết sẹo Ellis (2000)(1) đánh giá tỷ lệ
vết sẹo sau phẫu thuật ở 183 BN có 79 (43%)
trường hợp nhìn không rõ vết sẹo, có 92 (50%) có
thể nhìn thấy vết sẹo nhưng da phủ bình
thường, 4 (2%) vết sẹo phì đại; có 3 (2%) sẹo lớn
và 5 trường hợp hình ảnh không rõ không đánh
giá được Đa số các nghiên cứu có thời gian đánh
giá vết sẹo tương đối lâu, kéo dài đến 3 năm
Mặc dù thời gian đánh giá của nghiên cứu này (6
tháng) ngắn hơn so với thời gian đánh giá của
các tác giả khác nhưng cũng ghi nhận được 1
trường hợp phì đại sẹo ngay vị trí mổ (Bảng 4)
Bảng 4 Biểu hiện và màu sắc của sẹo
Thời gian n Sẹo đẹp Sẹo vừa Sẹo xấu
Lauer (2007)(5) đã kết luận rằng dùng nẹp
nhỏ với chiều dày ≥ 1mm, 2 nẹp nhỏ hoặc nẹp
nén thì ít biến chứng xảy ra Tương tự Seeman
(2007)(10) cũng cho rằng dùng nẹp để cố định gãy
cổ lồi cầu là hiệu quả Ngoài ra, đa số các tác giả
đều đồng ý rằng nên sử dụng 2 nẹp và phải đặt
nẹp theo hướng tạo ra sức căng cơ nhai khi nhai
để giúp ổn định lồi cầu bên gãy khi nhai và
không bị gãy nẹp Hệ thống nẹp vít nhỏ đã được
sử dụng trong điều trị tại Việt Nam từ bệnh viện
Răng Hàm Mặt Trung Ương thành phố HCM
năm 2006, với bước đầu sử dụng có khó khăn về
kĩ thuật và chi phí đắt hơn cột chỉ thép, nhưng
đa số các tác giả đồng ý rằng hệ thống nẹp vít
nhỏ mang lại sự vững ổn cao trong việc cố định
vị trí gãy, tạo sự thoải mái cho bệnh nhân, sau
điều trị tỉ lệ biến chứng thấp và kết quả lành
thương rất tốt trên gãy XHD vùng cành ngang
vùng gốc hàm và vùng cằm Do điều kiện hạn
chế về kinh tế của địa phương, nên cho tới nay
hệ thống nẹp nhỏ được sử dụng để điều trị BN
trong nghiên cứu này vẫn là phương tiện tốt nhất và duy nhất được sử dụng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng 2 nẹp nhỏ để cố định cho tất
cả các trường hợp
Sau phẫu thuật, độ há miệng tối đa của BN cải thiện đáng kể, há miệng chủ động gần như bình thường (Bảng 5) Bệnh nhân dễ dàng vận động hàm sớm sau mổ và thoải mái do không có cung cố định hàm trong miệng, đây là ưu điểm rất lớn khi sử dụng hệ thống nẹp vít nhỏ này để điều trị gãy lồi cầu xương hàm dưới Phép kiểm t bắt cặp với p<005 cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Kết quả cho thấy tình trạng há miệng cải thiện đáng kể sau khi cố định bằng nẹp và vít nhỏ (Bảng 6) Khi cho há miệng tối đa,
BN vẫn còn đau tăng dần với mức độ từ đau nhẹ (14,6%) đến đau nhiều 29,3% Sau 6 tháng, chưa ghi nhận được những tổn thương ở đầu LC như tình trạng tiêu xương, mòn đầu lồi cầu, hình thành gai xương hoặc xơ hóa đầu lồi cầu
Bảng 5 Độ há miệng tối đa sau phẫu thuật
Độ há miệng
Độ há miệng
TB Độ há miệng tối đa (mm) 41,06 ± 5,8 mm 40,00 ± 7,4 mm
Bảng 6 So sánh độ há miệng tối đa giữa trước và sau
phẫu thuật
Độ há miệng tối đa TBình ĐLC p
0,001
KẾT LUẬN
Qua điều trị PT 41 trường hợp gãy lồi cầu bằng đường ngoài mặt với cố định bằng hệ thống nẹp và vít nhỏ tại Khoa Răng Hàm Mặt, bệnh viện đa khoa tỉnh Bình định từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 7 năm 2013, chúng tôi nhận thấy trong số các đường rạch ngoài mặt, đường rạch dưới hàm được cho là phương pháp an toàn, ít biến chứng, hiệu quả trong việc cải thiện chức năng, giải phẫu và thẩm mỹ cho bệnh nhân
Trang 6bị chấn thương gãy cổ lồi cầu Cùng với hướng
điều trị mới với đường vào trong miệng để nắn
chỉnh và kết hợp xương còn trong giai đoạn
nghiên cứu thử nghiệm tại Việt nam, nghiên cứu
này góp phần cung cấp một phác đồ điều trị
hoàn chỉnh về điều trị gãy lồi cầu xương hàm
dưới cho Bác sĩ Răng Hàm Mặt tuyến tỉnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ellis E., McFadden D., Simon P, Throckmorton G., (2000)
"Surgical Complications With Open Treatment of Mandibular
Condylar Process Fractures." J Oral Maxillofac Surg 58: 950-958
2 Hammer B.Schier P., et al (1997) "Osteosynthesis of condylar
neck fractures: a review of 30 patients." Br J Oral Maxillofac
Surg 35(4): 288- 291
nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
4 Kallela, I.A L Soderholm, et al (1995) "Lag-screw
osteosynthesis of mandibular condyle fractures: a clinical and
radiological study." J Oral Maxillofac Surg 53(12): 1397-1404;
discussion 1405-1396
5 Lauer G.Haim D., et al (2007) "Plate osteosynthesis of the
mandibular condyle." Ann Anat189: 412—417
6 Lê Phong Vũ và Lê Đức Lánh (2011) "Dịch tễ lâm sàng và điều
trị gãy xương hàm dưới tại bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang
từ năm 2006 đến 2010."
7 Lutz J-C., Clavert P., Wolfram-Gabel R.,Wilk A.,Kahn J-L.,
(2010) "Is the high submandibular transmasseteric approach
to the mandibular condyle safe for the inferior buccal branch?"
Surg Radiol Anat 32: 963– 969
8 MEYER C.ZINK S., et al (2008) "Clinical experience with osteosynthesis of subcondylar fractures of the mandible using
TCP plates." Journal of Cranio-Maxillofacial Surgery(), 36:
260-268
9 Nguyễn Kim Khôi và Lê Đức Lánh (2011) Tình hình gãy xương hàm dưới tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai từ 2006- 2009, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh
10 Seemann R.Schicho K., et al (2007) "Clinical evaluation of mechanically optimized plates for the treatment of condylar
process fractures." Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral Radiol
Endod 104(6): e1- 4
11 Silvennoinen, U.T Iizuka, et al (1994) "Analysis of possible factors leading to problems after nonsurgical treatment of
condylar fractures." J Oral Maxillofac Surg 52(8): 793-799
12 Tang W.Gao C., et al (2009) "Application of Modified Retromandibular Approach Indirectly From the Anterior Edge of the Parotid Gland in the Surgical Treatment of
Condylar Fracture." J Oral Maxillofac Surg 67: 552-558
13 Worsaae, N and J J Thorn (1994) "Surgical versus
subcondylar fractures: a clinical study of 52 cases." J Oral
Maxillofac Surg 52(4): 353-360; discussion 360- 351
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 17/02/2016
Trang 7FLUORIDE CONCENTRATION AND MICROHARDNESS IN ENAMEL AMONG 12-14-YEAR-OLD CHILDREN LIVING IN FLUORIDATED AND NON-FLUORIDATED AREAS IN HO CHI MINH CITY, VIET NAM 272 Nguyen Thi Thanh Tung, Ngo Thi Quynh Lan * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 272 - 277
272 ASSOCIATION OF BODY MASS INDEX WITH GINGIVITIS AND DENTAL CARIES IN 10 YEAR
Pham Anh Vu Thuy * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 278 - 285 278 ASSOCIATION OF OBESITY WITH TYPE 2 DIABETES AND PERIODONTAL STATUS IN PATIENTS
REPORTING AT THE TRADITIONAL MEDICINE INSTITUTE, HO CHI MINH CITY 286 Pham Anh Vu Thuy * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 286 - 291 286 CLINICAL STUDY TO EVALUATE THE DESENSITIZING EFFICACY OF A PASTE CONTAINING 8% ARGININE AND CALCIUM CARBONATE AS PRE-PROCEDURAL TREATMENT BEFORE DENTAL PROPHYLAXIS 292 Nguyen Thi Anh Thu, Pham Anh Vu Thuy, * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 292 -
ORAL HEALTH STATUS AND TREATMENT NEEDS OF NURSING HOME ELDERLY IN HO CHI MINH CITY 298 Pham Anh Vu Thuy * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 298 - 304 298 LOWER INCISOR POSITION AND SYMPHYSEAL DIMENSIONS IN ADULTS WITH CLASS I AND III OF JAW
Vo Thi Huong Phu, Le Duc Lanh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 305 - 312 305 TREATMENT OF MANDIBULAR CONDYLAR NECK FRACTURES USING OSTEOSYNTHESIS WITH PLATE 313 Tran Quy De, Le Duc Lanh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 313 - 318 313