1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mối liên quan giữa chỉ số mắt cá chân - cánh tay và tổn thương mạch vành ở người cao tuổi có bệnh động mạch vành

7 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 444,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày xác định mối liên quan giữa Chỉ số mắt cá chân – cánh tay (ABI) và mức độ tổn thương mạch vành (dựa vào số lượng nhánh động mạch vành tổn thương và điểm GENSINI).

Trang 1

MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHỈ SỐ MẮT CÁ CHÂN - CÁNH TAY

VÀ TỔN THƯƠNG MẠCH VÀNH

Ở NGƯỜI CAO TUỔI CÓ BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH

Phạm Ngọc Đan*, Bàng Ái Viên**, Võ Thành Nhân**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định mối liên quan giữa Chỉ số mắt cá chân – cánh tay (ABI) và mức độ tổn thương mạch vành (dựa vào số lượng nhánh động mạch vành tổn thương và điểm GENSINI)

Thiết kế: Nghiên cứu cắt ngang, tiến cứu

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân ≥ 60 tuổi bệnh động mạch vành (chụp động mạch vành hẹp ≥ 50% đường kính mạch máu) tại khoa Tim mạch can thiệp Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 10/2014 đến tháng 04/2015 Tất cả bệnh nhân được đo ABI sau khi chụp động mạch vành, ABI bất thường khi ABI < 0,9 hoặc ABI > 1,4 và đánh giá mức độ nặng của hẹp động mạch vành dựa trên số lượng nhánh mạch vành tổn thương (1,

2, 3 nhánh) và tính điểm GENSINI

Kết quả: Nghiên cứu của chúng tôi bao gồm 275 bệnh nhân với tuổi trung vị là 70 tuổi, nam giới nhiều hơn

nữ giới (65,1% so với 34,9%), hội chứng vành cấp chiếm đa số với 81,8% Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ tim mạch phổ biến nhất (70,2%) Tỷ lệ ABI bất thường (ABI < 0,9 hoặc ABI > 1,4) chiếm 31,3% Ở nhóm bệnh nhân ABI bất thường, tỷ lệ bệnh nhiều nhánh động mạch vành cao hơn so với bệnh một nhánh Đồng thời, điểm GENSINI ở nhóm ABI bất thường cao hơn so với nhóm ABI bình thường (49,3 so với 37, p = 0,03)

Kết luận: Ở người cao tuổi bệnh động mạch vành, ABI bất thường có liên quan đến bệnh nhiều nhánh mạch vành và mức độ nặng của hẹp động mạch vành dựa vào điểm GENSINI

Từ khóa: Chỉ số mắt cá chân – cánh tay (ABI), Bệnh động mạch vành, Người cao tuổi

ABSTRACT

THE RELATION BETWEEN THE ANKLE – BRACHIAL INDEX AND THE COMPLEXITY

OF CORONARY ARTERY DISEASE IN ELDERLY PATIENTS

Pham Ngoc Dan, Bang Ai Vien, Vo Thanh Nhan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 1 - 2016: 167 - 173

Objectives: To determine the relation between Ankle – Brachial Index (ABI) and the complexity of Coronary Artery Disease, by different anatomical classifications

Design: Prospective cross – sectional study

Method: Patients ≥ 60 years old underwent coronary angiography with ≥ 50% diameter stenosis of at least one coronary artery from 10/2014 to 04/2015 The ABI was measured immediately after coronary angiography and a value of < 0.9 or > 1.4 was abnormal The analysis of coronary anatomy included classification of each lesion with ≥ 50% diameter stenosis and calculation of the GENSINI score

Results: The study recruited 275 patients with a mean age of 70 years, higher number of male patients The most prevalent risk factor was hypertension (70.2%), Acute Coronary Syndrome (ACS) was present in 81.8% of patients The ABI was abnormal in 31.3% of the patients A abnormal index was more prevalent in patients with

*BSNT Lão khoa 2012 - 2015, ** Bộ Môn Lão khoa - Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS Phạm Ngọc Đan - ĐT: 0903160574- Email: drngocdan1987@gmail.com

Trang 2

multiarterial coronary disease compared to patients with uniarterial disease in the same group The median GENSINI score was greater in the group with abnormal ABI (49.3 versus 37; p = 0.03)

Conclusions: In the patients ≥ 60 years old, the presence of abnormal ABI could discriminate a group of patients with greater occurrence of multivessel coronary disease and GENSINI score

Keywords: Ankle – Brachial Index, Coronary Artery Disease, Elderly patients.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh động mạch vành (BĐMV) là nguyên

nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới

Tử vong do BĐMV chiếm 80% ở bệnh nhân trên

65 tuổi(2) Tại Việt Nam, tỷ lệ BĐMV ở người ≥ 60

tuổi năm 2011 dao động 25% - 30%(18,21) BĐMV ở

người cao tuổi thường nặng, tổn thương thường

xảy ra ở cả ba nhánh và thân chung(14) Tỷ lệ sống

sau 5 năm với điều trị nội khoa tỷ lệ nghịch với

số lượng nhánh mạch vành tổn thương Tỷ lệ

sống sau 5 năm ở bệnh nhân chỉ tổn thương một

nhánh động mạch vành là 93%, tỷ lệ này giảm

còn 79% - 88% nếu tổn thương hai nhánh và

khoảng 60% - 70% nếu bệnh ba nhánh(4,9)

Bệnh động mạch chi dưới (BĐMCD) ở người

≥ 65 tuổi chiếm tỷ lệ 10% đến 20% và gia tăng

theo tuổi BĐMCD làm tăng các biến cố tim

mạch bất lợi, BĐMV và bệnh lý mạch máu não(6)

Tỷ lệ BĐMV ở bệnh nhân BĐMCD cao gấp 1,63

lần so với bệnh nhân không BĐMCD(15) Tỷ lệ

BĐMCD ở bệnh nhân BĐMV chiếm 37% -

39,8%(3,10) Một số nghiên cứu cho thấy có mối

liên quan giữa BĐMCD và BĐMV(17) Hơn nữa,

sự liên quan hai bệnh lý này làm tăng tử vong và

nguy cơ tim mạch gấp hai lần(16)

Chỉ số mắt cá chân - cánh tay (ABI - Ankle

brachial index) là một phương pháp đơn giản và

không xâm lấn để chẩn đoán BĐMCD(5,23) với

điểm cắt 0,9 có độ nhạy và độ đặc hiệu cao

(khoảng 90%) so với chụp mạch máu(11) Sau này,

ABI được xem là một dấu chỉ của xơ vữa động

mạch, dấu chỉ tiên lượng cho các biến cố tim

mạch và suy giảm chức năng, ngay cả khi không

có triệu chứng của BĐMCD(13)

Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu khảo

sát ABI và mối liên quan của chỉ số này với

BĐMV Tuy nhiên chưa có nghiên cứu chuyên

biệt trên người cao tuổi Đồng thời ứng dụng của

ABI trong việc đánh giá biến cố tim mạch trên thực tế lâm sàng ở Việt Nam vẫn chưa phổ biến

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu để tìm hiểu mối liên quan giữa ABI với mức độ nặng và

số lượng nhánh mạch vành tổn thương trên đối tượng người cao tuổi BĐMV

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng

Tất cả bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên, được chẩn đoán bệnh động mạch vành qua chụp động mạch vành (hẹp ≥ 50% đường kính mạch máu)

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân phù nhiều, biến dạng chi trên, chi dưới hoặc đã đoạn chi

Bệnh nhân có tiền căn tái thông mạch vành trước đó (can thiệp mạch vành, mổ bắc cầu động mạch vành), tiền căn BĐMCD

Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang, tiến cứu

Cỡ mẫu

2

1 / 2 2

n

d

Với α = 0,05, Z 0,975 = 1,96, P = 0,47, d = 6% (Nghiên cứu của Papa ED và cộng sự trên đối tượng người cao tuổi bệnh động mạch vành(20))

 n ≥ 266 đối tượng

Thu thập dữ liệu

Tất cả bệnh nhân ≥ 60 tuổi BĐMV (kết quả chụp động mạch vành hẹp ít nhất một nhánh ≥ 50% đường kính mạch máu) sẽ được phỏng vấn bằng bảng câu hỏi soạn sẵn về tiền căn và thăm khám lâm sàng, đo huyết áp tâm thu động mạch cánh tay và cổ chân (động mạch mu chân và

Trang 3

chày sau) hai bên bằng kỹ thuật Doppler Sau đó

ghi nhận trong hồ sơ bệnh án kết quả các xét

nghiệm như công thức máu, chức năng đông

máu, đường huyết, BUN, creatinine máu, ion đồ,

nồng độ lipid máu, men tim (CKMB, Troponin

I), acid uric, ECG, siêu âm tim, kết quả chụp

động mạch vành

Huyết áp đo ở động mạch mu chân và động

mạch chày sau, lấy trị số huyết áp thấp hơn làm

giá trị huyết áp mắt cá chân và tính ABI theo

công thức:

Ở cùng một bệnh nhân lấy trị số ABI thấp

hơn để phân tích

Xử lý số liệu

Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS

16.0 Các biến định tính được được mô tả bằng

tần số, tỉ lệ % và được kiểm định bằng phép

kiểm Chi – square Các biến định lượng được

trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn

và kiểm định bằng phép kiểm t – test (nếu có

phân phối chuẩn) hoặc được mô tả bằng trung vị

(khoảng tứ phân vị 25% - 75%) và kiểm định

bằng phép kiểm Mann – Whitney U (nếu có

phân phối không chuẩn) Giá trị p < 0,05 được

xem là có ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ

Trong khoảng thời gian từ 10/2014 đến

04/2015, chúng tôi thu thập được 275 bệnh nhân

≥ 60 tuổi BĐMV tại khoa Tim mạch can thiệp

Bệnh viện Chợ Rẫy, thỏa tiêu chí chọn bệnh và

không nằm trong tiêu chí loại trừ

Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu

Nhóm tuổi: 60 – 74

75 – 84

≥ 85

185

74

16

67,3 26,9 5,8

Giới tính: Nam

Nữ

179

96

65,1 34,9

BMI

< 18,5 kg/m² 18,5 – 22,9 kg/m²

23 – 24,9 kg/m² ≥ 25 kg/m²

29

145

55

46

10,6 52,7

20 16,7

Rối loạn lipid máu

Tăng Cholesterol máu Tăng LDL- C (≥ 130 mg/dL) Tăng LDL- C (≥ 100 mg/dL) Giảm HDL - C Tăng Triglycerid

321

85

57

141

182

85

84 30,9 20,7 51,3 66,2 30,9

Thể BĐMV

NMCTC ST chênh lên NMCTC không ST chênh lên Đau thắt ngực không ổn định Bệnh mạch vành ổn định

143

34

48

50

52 12,4 17,4 18,2

SL nhánh mạch vành tổn thương

1 nhánh

2 nhánh

3 nhánh Bệnh thân chung đơn thuần Bệnh thân chung kèm nhánh ĐMV

70

88

89

2

26

25,4

32 32,4 0,7 9,5

Trong tổng số 275 bệnh nhân, chúng tôi ghi nhận có 86 bệnh nhân ABI < 0,9 và không có bệnh nhân nào ABI > 1,4 Tỷ lệ ABI bất thường (ABI < 0,9 hoặc ABI > 1,4) trong nghiên cứu chúng tôi chiếm 31,3% Khi tiến hành khảo sát mối liên quan giữa Chỉ số mắt cá chân - cánh tay

và số lượng nhánh mạch vành tổn thương, chúng tôi nhận thấy có mối liên quan giữa các yếu tố này với nhau (bảng 2) Tỷ lệ bệnh nhiều nhánh trong nhóm bệnh nhân ABI bất thường cao hơn so với bệnh một nhánh (83,7% so với 16,3% trên dân số chung, 83,3% so với 16,7% bệnh nhân hội chứng vành cấp) ABI bất thường

có liên quan có ý nghĩa thống kê mắc bệnh nhiều nhánh ĐMV Ở bệnh nhân có ABI bất thường, nguy cơ mắc bệnh nhiều nhánh tăng hơn 2 lần

so với một nhánh trên cả dân số chung và hội chứng vành cấp (p lần lượt bằng 0,02 và 0,04) Tuy nhiên không có sự khác biệt về số lượng nhánh mạch vành tổn thương giữa hai nhóm

Trang 4

ABI bình thường và bất thường trên dân số bệnh

mạch vành ổn định (p > 0,05)

Bảng 2: Mối liên quan giữa ABI và số lượng nhánh

mạch vành tổn thương

95%)

Giá trị p Bất thường

(%)

Bình thường (%) BĐMV chung

Nhiều nhánh

1 nhánh

72 (83,7)

14 (16,3)

133 (70,4)

56 (29,6)

2,17 1,13 – 4,16

0,02

HCV cấp

Nhiều nhánh

1 nhánh

55 (83,3)

11 (16,7)

112 (70,4)

47 (29,6)

2,10 1,01 – 4,36

0,04 BMV ổn định

Nhiều nhánh

1 nhánh

18 (90)

2 (10)

21 (70)

9 (30)

3,8 0,7 – 20,2

0,09

Đồng thời, chúng tôi cũng nhận thấy có mối

liên hệ giữa ABI và mức độ nặng hẹp động mạch

vành dựa trên điểm GENSINI (bảng 3) Sự khác

biệt về điểm GENSINI giữa hai nhóm ABI bình

thường và bất thường có ý nghĩa thống kê (Phép

kiểm Mann - Whitney U, p < 0,05)

Bảng 3: Mối liên quan giữa ABI và điểm GENSINI

Các yếu

tố

trị p

BÀN LUẬN

Nghiên cứu của chúng tôi cũng giống như

các nghiên cứu khác trên thế giới, tất cả đều

nhận thấy có sự khác biệt về số lượng nhánh

mạch vành tổn thương giữa hai nhóm ABI

bình thường và ABI bất thường trên dân số

người cao tuổi bệnh động mạch vành Trong

nghiên cứu của chúng tôi, số lượng nhánh

mạch vành tổn thương trung bình ở nhóm ABI

bình thường là 2,0 ± 0,83 và nhóm ABI bất

thường là 2,3 ± 0,76 - cao hơn có ý nghĩa so với

nhóm ABI bình thường (p < 0,05; KTC 0,10 -

0,51) Tỷ lệ bệnh nhiều nhánh trong nhóm

bệnh nhân ABI bất thường cao hơn so với

bệnh một nhánh (83,7% so với 16,3%) Ở bệnh

nhân có ABI bất thường, nguy cơ mắc bệnh

nhiều nhánh tăng gấp 2,2 lần so với một

nhánh với p = 0,02, KTC 95% là 1,13 - 4,16

Theo Papa ED và cộng sự (2013)(20), khi tiến

hành nghiên cứu trên 100 bệnh nhân từ 65 đến

93 tuổi, tác giả ghi nhận tuổi trung bình của dân

số nghiên cứu là 77,4 ± 6,7 năm, yếu tố nguy cơ chiếm tỷ lệ cao nhất là tăng huyết áp (96%) Tác giả kết luận có sự khác biệt ABI trung bình giữa hai nhóm bệnh một nhánh và bệnh nhiều nhánh mạch vành (1 ± 0,3 ở nhóm bệnh một nhánh so với 0,8 ± 0,2 ở nhóm bệnh nhiều nhánh, p < 0,05) Bệnh nhân bệnh nhiều nhánh mạch vành chiếm

tỷ lệ 83% ở nhóm ABI bất thường so với 56,6% ở nhóm ABI bình thường Bệnh nhiều nhánh làm gia tăng nguy cơ ABI bất thường gấp 2,19 lần (KTC 1,27 - 3,77) và ABI < 0,9 là yếu tố dự báo gia tăng các biến cố tim mạch chính (bao gồm tử vong chung, nhồi máu cơ tim, đột quỵ) sau khi theo dõi 28,9 ± 6,6 tháng (p < 0,05)

Nghiên cứu của Falcão FJ và cộng sự (2013)(12) trên đối tượng cao tuổi với 204 bệnh nhân bệnh động mạch vành, trong đó có 144 bệnh nhân hẹp động mạch vành có ý nghĩa (≥ 50% đường kính mạch máu) Tác giả kết luận ABI bất thường làm tăng nguy cơ mắc bệnh động mạch vành 2,43 lần (p < 0,0001, KTC 1,47 - 4,03) và tăng nguy cơ bệnh ba nhánh gấp 2,63 lần

so với ABI bình thường (p = 0,0001, KTC 1,48 - 5,85) Tuy nhiên, khi tiến hành phân tích 144 bệnh nhân hẹp động mạch vành có ý nghĩa, tác giả không thấy có sự khác biệt về số lượng nhánh mạch vành tổn thương giữa hai nhóm ABI bình thường và ABI bất thường (p > 0,05) Tác giả Amer MS và cộng sự (2013)(1) thực hiện nghiên cứu bệnh chứng trên 200 bệnh nhân

≥ 60 tuổi bệnh động mạch vành Tác giả phân thành nhóm chứng (100 bệnh nhân) và nhóm bệnh (100 bệnh nhân), không có sự khác biệt về tuổi, giới tính, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá giữa hai nhóm bệnh

- chứng Tác giả ghi nhận có 9 bệnh nhân bệnh thân chung động mạch vành tương đương bệnh

từ 2 nhánh trở lên Tác giả phân thành bệnh 1, 2,

3, > 3 nhánh mạch vành và khảo sát tương quan giữa ABI với số lượng nhánh mạch vành tổn thương Tác giả báo cáo có mối tương quan nghịch giữa hai yếu tố trên ở nhóm bệnh (r = -

Trang 5

0,284; p = 0,004) nhưng không có tương quan hai

yếu tố này ở nhóm chứng (r = - 0,987; p > 0,05)

Khi tiến hành phân tích dưới nhóm,

chúng tôi nhận thấy có mối liên quan giữa ABI

và số lượng nhánh mạch vành tổn thương trên

bệnh nhân có hội chứng vành cấp (p < 0,05 - OR

= 2,1), nhưng sự liên quan này trên bệnh nhân

bệnh mạch vành ổn định không có ý nghĩa

thống kê (p > 0,05) Phân tích đa trung tâm của

Núnẽz D và cộng sự (2010)(17) trên 1.031 bệnh

nhân hội chứng vành cấp (≥ 40 tuổi) cho thấy

ABI bất thường làm tăng 1,58 lần nguy cơ mắc

bệnh động mạch vành nhiều nhánh (p < 0,05,

KTC 1,16 - 2,15) Tuổi trung bình của dân số

nghiên cứu là 66,7 ± 11,4 năm, bao gồm 85%

bệnh nhân rối loạn lipid máu, 61,3% tăng huyết

áp, 33,8 % hút thuốc lá, 33,7% đái tháo đường Tỷ

lệ ABI bất thường của nghiên cứu là 38,2%, bệnh

nhiều nhánh ở nhóm ABI bất thường cao hơn

bệnh một nhánh trong cùng nhóm có ý nghĩa

thống kê (45,4% so với 30,3%, p < 0,001) Khi

phân tích đa biến khảo sát mối liên quan giữa

ABI, tuổi, các yếu tố nguy cơ và tiền căn tim

mạch với bệnh nhiều nhánh mạch vành, tác giả

ghi nhận các yếu tố có liên quan bệnh nhiều

nhánh là ABI, tuổi, đái tháo đường, rối loạn lipid

máu, tiền căn NMCT và đột quỵ Độ nhạy của

ABI trong bệnh nhiều nhánh mạch vành là

44,7% (KTC 40,5 - 48,9), độ đặc hiệu 70,1% (KTC

66,1 - 74,1), giá trị tiên đoán dương là 62,4%

(KTC 57,6 - 67,2) và giá trị tiên đoán âm 53,3%

(KTC 49,5 - 57,1)

Nghiên cứu của Chang ST và cộng sự

(2006)(7) trên 477 bệnh nhân bệnh mạch vành ổn

định, tác giả ghi nhận có 126 bệnh nhân AAI <

0,9 (26,4%) Số lượng nhánh trung bình ở nhóm

AAI < 0,9 là 2,6 ± 1,1 và nhóm AAI ≥ 0,9 là 1,9

±1,0, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <

0,0001) Nhóm AAI thấp có tỷ lệ tổn thương tại

lỗ và đoạn gần cao hơn nhóm AAI bình thường

(15,5% so với 12,3%, p = 0,014; 28,5% so với

25,7%, p = 0,003) Hơn nữa, tác giả cũng chỉ ra có

sự khác biệt về tổn thương hẹp phức tạp (týp B2

hoặc C), tổn thương về mặt hình thái học (canxi

hóa, tắc nghẽn mạn tính, tổn thương không đều, tổn thương chỗ chia đôi và tổn thương dài lan tỏa) giữa hai nhóm (p < 0,05) Sau khi phân tích

đa biến, tác giả kết luận AAI là yếu tố dự đoán độc lập vị trí tổn thương, tổn thương hẹp phức tạp và hình thái học tổn thương với OR lần lượt

là 1,73; 2,88 và 2,71 Đồng thời các yếu tố như tuổi, giới nữ, tăng huyết áp, hút thuốc lá, đái tháo đường cũng liên quan với AAI

Theo nghiên cứu của chúng tôi cũng như các tác giả trên, ABI có liên quan với số lượng nhánh mạch vành tổn thương ở người cao tuổi bệnh động mạch vành ABI bất thường có liên quan có

ý nghĩa thống kê nguy cơ mắc bệnh nhiều nhánh mạch vành trên dân số bệnh động mạch vành chung và bệnh nhân có hội chứng vành cấp Khác với nghiên cứu của Chang ST và cộng sự, chúng tôi không nhận thấy có mối liên quan giữa ABI và số lượng nhánh mạch vành tổn thương trên bệnh nhân bệnh mạch vành ổn định Có thể do số lượng bệnh nhân bệnh mạch vành ổn định trong nghiên cứu của chúng tôi quá nhỏ (chỉ có 50 bệnh nhân) nên có thể chưa thấy được sự khác biệt, hoặc trên cộng đồng người cao tuổi bệnh mạch vành ổn định thì không có mối liên quan giữa ABI và số lượng nhánh mạch vành tổn thương Vì vậy chúng tôi nghĩ rằng cần có những nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn trên đối tượng cao tuổi bệnh mạch vành

ổn định trong tương lai

Trong nghiên cứu của chúng tôi, điểm GENSINI trung vị (KTPV) ở nhóm ABI bình thường là 37 (20,8 - 62,0), nhóm ABI bất thường

là 49,3 (27,8 - 73,5) Điểm GENSINI ở nhóm ABI bất thường cao hơn so với nhóm ABI bình thường và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), chứng tỏ ABI có liên quan đến mức độ nặng hẹp động mạch vành

Nghiên cứu của Xu Y và cộng sự (2008)(22)

tiến hành trên 272 bệnh nhân nghi ngờ bệnh động mạch vành và được chụp động mạch vành chọn lọc, tuổi từ 45 đến 92, tuổi trung bình 66,87

± 11,42 năm Tất cả các bệnh nhân được đo ABI hai bên và đánh giá mức độ tổn thương động

Trang 6

mạch vành dựa theo điểm GENSINI (không hẹp,

hẹp nhẹ, hẹp trung bình hoặc hẹp nặng) Tác giả

nhận thấy ABI ở nhóm hẹp động mạch vành

nặng thì thấp hơn so với nhóm không hẹp hoặc

hẹp trung bình ABI thấp có liên quan đến mức

độ nặng hẹp động mạch vành (p < 0,05) Tác giả

kết luận ABI thấp, hút thuốc lá và đái tháo

đường là các yếu tố nguy cơ độc lập làm tiến

triển bệnh lý tim mạch ABI có vai trò quan trọng

trong việc dự đoán khả năng mắc bệnh lý tim

mạch và mức độ tổn thương động mạch vành

Nghiên cứu của Chang Xuewei và cộng sự

(2010, Trung Quốc)(8) trên 180 bệnh nhân được

chụp động mạch vành, tác giả ghi nhận ở

nhóm ABI < 0,9 thì GENSINI trung bình cao

hơn so với nhóm ABI ≥ 0,9 (69,0 ± 20,1 so với

50,7 ± 17,6) Tác giả kết luận ABI có tương

quan nghịch với mức độ hẹp động mạch vành

(r = - 3,018, p < 0,05)

Nghiên cứu của Pan Junqiang và cộng sự

(2012) trên 458 bệnh nhân(19), tác giả ghi nhận tỷ

lệ bệnh động mạch vành ở ba nhóm ABI < 0,4,

ABI 0,41 - 0,9 và ABI 0,91 - 1,4 lần lượt là 93%,

75% và 45% Tác giả kết luận có mối tương quan

nghịch giữa ABI với số lượng nhánh động mạch

vành tổn thương (r = - 0,518, p = 0,003) và điểm

GENSINI (r = - 0,652, p = 0,002)

Có nhiều nghiên cứu trên dân số chung khảo

sát mối liên quan giữa ABI và điểm GENSINI

như trên, tất cả đều nhận thấy có mối liên quan

giữa ABI và điểm GENSINI Nghiên cứu của

chúng tôi thực hiện trên đối tượng người cao

tuổi cũng ghi nhận có mối liên quan giữa hai yếu

tố này

KẾT LUẬN

Qua kết quả khảo sát chỉ số mắt cá chân -

cánh tay trên 275 bệnh nhân cao tuổi bệnh động

mạch vành, chúng tôi có kết luận:

 ABI bất thường có liên quan có ý nghĩa thống

kê mắc bệnh nhiều nhánh ĐMV gấp 2 lần so

với ABI bình thường

ABI bất thường có liên quan đến mức độ nặng của hẹp động mạch vành dựa trên điểm GENSINI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Amer MS, Tawfik HM and et al (2014) Correlation between ankle brachial index and coronary artery disease severity in elderly Egyptians Angiology, 65 (10): 891-895

2 Association American Heart (2013) Heart disease and stroke statistics-2013 update: A report from the American Heart Association Circulation, 127: e6-e245

3 Bertomeu V, Morillas P and el at (2008) Prevalence and prognostic influence of peripheral arterial disease in patients > or

= 40 years old admitted into hospital following an acute coronary event Eur J Vasc Endovasc Surg, 36 (2):189-196

4 Califf RM, Armstrong PW and et al (1996) 27th Bethesda Conference: matching the intensity of risk factor management with the hazard for coronary disease events Task Force 5 Stratification of patients into high, medium and low risk subgroups for purposes of risk factor management J Am Coll Cardiol, 27 (5): 1007-1019

5 Carter SA (1968) Indirect systolic pressures and pulse waves in arterial occlusive diseases of the lower extremities Circulation,

37 (4): 624-637

6 Creager MA và Libby P (2015) Peripheral Artery Diseases Braunwald's Heart Disease: A Textbook of Cardiovascular Medicine, 10 th , 1312-1335 Elsevier Saunders

7 Chang ST, Chen CL and et al (2006) Ankle - arm index as a predictor of lesion morphology and risk classification for coronary artery disease undergoing angioplasty Int J Cardiol,

113 (3): 385-390

8 Chang X, Guangjie P and el at (2010) Anklebrachial index as a predictor for the severity of coronary artery stenosis Heart, 96 (Suppl 3): A119-A120

9 David A, Morrow và Boden WE (2012) Stable Ischemic Heart Disease Braunwald's Heart Disease: A Textbook of Cardiovascular Medicine, 9th, 1, 1210-1269 Elsevier Saunders

10 Dieter RS, Tomasson J and et al (2003) Lower extremity peripheral arterial disease in hospitalized patients with coronary artery disease Vasc Med, 8 (4): 233-236

11 Doobay AV và Anand SS (2005) Sensitivity and specificity of the ankle-brachial index to predict future cardiovascular outcomes: a systematic review Arterioscler Thromb Vasc Biol,

25 (7): 1463-1469

12 Falcão FJ, Rodrigues Alves CM and et al (2013) Relation between the ankle - brachial index and the complexity of coronary artery disease in older patients Clin Interv Aging, 8: 1611-1616

13 Fowkes FG, Murray GD and et al (2008) Ankle brachial index combined with Framingham Risk Score to predict cardiovascular events and mortality: A meta-analysis JAMA,

300 (2): 197-208

14 Janice B, Schwartz và Zipes DP (2012) Cardiovascular Disease

in the Elderly Braunwald's Heart Disease: A Textbook of Cardiovascular Medicine, 9th, 1, 1727-1756 Elsevier Saunders

15 Li XY, Wang J and et al (2003) The relation between peripheral arterial occlusive disease and cardiovascular diseases in elderly population: A cross-section study in Wanshoulu area - Beijing Zhonghua Yi Xue Za Zhi, 83 (21): 1847-1851

Trang 7

16 Moussa ID, Jaff MR and et al (2009) Prevalence and prediction

of previously unrecognized peripheral arterial disease in

patients with coronary artery disease: the Peripheral Arterial

Disease in Interventional Patients Study Catheter Cardiovasc

Interv, 73 (6): 719-724

17 Nunez D, Morillas P and et al (2010) Usefulness of an abnormal

ankle - brachial index for detecting multivessel coronary disease

in patients with acute coronary syndrome Rev Esp Cardiol, 63

(1): 54-69

18 Nguyễn Đức Chỉnh (2011) Mô hình bệnh tật của người cao tuổi

điều trị tại Bệnh viện Nhân dân 115 năm 2009 Luận văn tốt

nghiệp nội trú, Đại học y dược TP Hồ Chí Minh

19 Pan J, Zhang D and et al (2012) Relationship between ankle

brachial index and the severity of coronary artery lesion Journal

of Shanxi Medical University

20 Papa ED, Helber I and et al (2013) Ankle - brachial index as a

predictor of coronary disease events in elderly patients

submitted to coronary angiography Clinics, 68 (12): 1481-1487

21 Trịnh Thị Bích Hà (2011) Mô hình bệnh tật của người cao tuổi điều trị tại Bệnh viện Gia Định năm 2009 Luận văn tốt nghiệp nội trú, Đại học y dược TP Hồ Chí Minh

22 Xu Y, Wu Y, et al (2008) The predictive value of brachial-ankle pulse wave velocity in coronary atherosclerosis and peripheral artery diseases in urban Chinese patients Hypertens Res, 31 (6): 1079-1085

23 Yao ST, Hobbs JT và Irvine WT (1969) Ankle systolic pressure measurements in arterial disease affecting the lower extremities

Br J Surg, 56 (9): 676-679

Ngày nhận bài báo: 24/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 27/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 15/02/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 03:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w