1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tình hình kê đơn thuốc tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh cơ sở 2 trong tháng 06/2015

7 231 5

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 412,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày đánh giá thực hiện quy chế kê đơn và các chỉ số kê đơn cho bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Đại Học Y dược Tp.HCM Cơ sở 2.

Trang 1

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CƠ SỞ 2 TRONG THÁNG 06/2015

Nguyễn Trần Giáng Hương*, Nguyễn Thị Quỳnh Nga*, Nguyễn Hoàng Thuyên*, Phạm Đình Luyến*

TÓM TẮT

Mở đầu: Việc thường xuyên theo dõi thực hiện tốt quy chế kê đơn, chỉ số kê đơn dựa trên hệ thống kê đơn

điện tử phải được chú trọng nhằm đảm bảo sử dụng thuốc an toàn hợp lý cho bệnh nhân

Mục tiêu: Đánh giá thực hiện quy chế kê đơn và các chỉ số kê đơn cho bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Đại

Học Y dược Tp.HCM Cơ sở 2

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang với phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân

tầng, sử dụng MS Excel 2010 và IBM SPSS 20.0 để phân tích thống kê 400 đơn thuốc điều trị ngoại trú trong tháng 06/2015

Kết quả: Đơn thuốc khảo sát thực hiện đúng theo quy chế kê đơn 92,5% Giá trị trung bình của các chỉ số kê

đơn tại bệnh viện theo WHO/INRUD lần lượt là % generic (82,76% so với 100%) cao hơn so với báo cáo ở Thái Lan 67,4%; % kháng sinh (33,75% so với 30%),tỷ lệ này là 36,7% tại Malaysia và tại Thái Lan là 23,1% (bệnh

viện vùng) Số thuốc trung bình trong một đơn thuốc ngoại trú cao hơn giá trị khuyến cáo của WHO (4,35 so với

2) Chỉ số này là 3,33 ở Malaysia; 4,13 (bệnh viện vùng) ở Thái Lan

Kết luận:Tình hình kê đơn thuốc tại bệnh viện khảo sát phù hợp quy chế kê đơn, tuy nhiên vẫn còn một số

vấn đề cần được chấn chỉnh

Từ khóa: kê đơn thuốc, kê đơn điện tử, chỉ số kê đơn

ABSTRACT

SURVEY OF DRUG PRESCRIBING PRACTICES

AT UNIVERSITY MEDICAL CENTER HO CHI MINH CITY BRANCH 2 IN JUNE 2015

Nguyen Tran Giang Huong, Nguyen Thi Quynh Nga, Nguyen Hoang Thuyen, Pham Dinh Luyen,

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 – 2016: 114 - 120

Background: The regular implementation review of prescription regulations, prescribing indicators based on

e-prescribing systems is required to ensure safe and rational use of drugs

Objectives: Evaluate the implementation of prescription regulations, prescribing indicators of outpatients at

University Medical Center Ho Chi Minh City Branch 2

Methods: Cross-sectional description with stratified random sampling method, used MS Excel 2010 and the

IBM SPSS statistic 20.0 software to survey 400 outpatient prescriptions in June 2015

Results: Prescriptions to comply with regulations are 92.5% The mean values of prescribing indicators in

the surveyed hospitals were estimated to be within the WHO values for generics (82.76% vs 100%) higher than a report in Thailand 67.4%, antibiotics (33.75% vs 30 %) Compared to studies carried out in Malaysia reported antibiotic figures of 36.7%; 23.1% (Referral Hospital) in Thailand The number of drugs per prescription was found to be more than the WHO optimal value (4.35 vs 2) respectively According to other studies, this indicator is 3.33 in Malaysia; 4.13 (Referral Hospital) in Thailand

*Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

Conclusion: Drug prescription practices in this study is complied with regulations To achieve the goal

of safe, effective and rational use of drugs, there is a need for adjustment of current prescribing practice in the hospital

Key words: drug prescribing, e-prescribing, prescribing indicators

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thuốc là vũ khí quan trọng trong cuộc chiến

chống lại bệnh tật Tuy nhiên, thuốc là "con dao

hai lưỡi" do đó phải được sử dụng một cách hợp

lý Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sử dụng

thuốc hợp lý, an toàn là “việc đảm bảo cho người

bệnh nhận được thuốc thích hợp với yêu cầu của

lâm sàng, liều lượng phù hợp với từng cá thể,

trong khoảng thời gian vừa đủ và giá thành thấp

nhất cho mỗi người cũng như cho cộng đồng của

họ"(9) Sử dụng thuốc không hợp lý bao gồm việc

sử dụng quá nhiều thuốc (polypharmacy); sử

dụng kháng sinh điều trị nhiễm trùng không do

vi khuẩn; liều lượng trung bình thuốc kháng

sinh và các loại thuốc kê đơn không phù hợp với

tình trạng bệnh nhân

Việc sử dụng thuốc không hiệu quả và hợp

lý là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí điều

trị cho người bệnh, tăng nguy cơ xảy ra các phản

ứng có hại của thuốc, kháng thuốc, giảm chất

lượng của điều trị Kê đơn là một bước quan

trọng trong quá trình sử dụng thuốc, các thầy

thuốc thường rất thận trọng khi kê đơn để đơn

thuốc chính xác, hợp lý, hợp pháp có đầy đủ các

hướng dẫn cần thiết bảo đảm an toàn cho bệnh

nhân trong quá trình điều trị

Hiện nay bệnh viện công lập ngày càng quá

tải do số lượng bệnh nhân khám chữa bệnh ngày

càng tăng, áp lực công việc ngày càng cao dễ dẫn

đến sai sót trong kê đơn Vì vậy để hạn chế sai

sót trong kê đơn, nhiều bệnh viện đã thực hiện

các biện pháp như kê đơn điện tử, quản lý theo

dõi đơn thuốc bằng phần mềm vi tính trong đó

có bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí

Minh cơ sở 2 Tuy nhiên, việc thường xuyên theo

dõi thực hiện tốt quy chế kê đơn và đánh giá các

chỉ số kê đơn theo WHO/INRUD (World Health

Organization and the International Network of

Rational Use of Drugs) vẫn phải được chú trọng

để đảm bảo sử dụng thuốc an toàn hợp lý cho bệnh nhân ngoại trú, đồng thời giúp lãnh đạo bệnh viện quản lý, phát hiện các sai sót trong chuyên môn, cũng như những tiêu cực trong khám chữa bệnh Từ những lý do thực tiễn trên, nghiên cứu này đã được tiến hành tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cơ sở 2 trong tháng 06/2015 Đồng thời nghiên cứu cũng tiến hành đánh giá so sánh chỉ số kê đơn với một

số nước trong khu vực Đông Nam Á để có một cái nhìn toàn diện hơn về tình hình kê đơn thuốc

ở các nước khác nhau

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng khảo sát

400 đơn thuốc điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cơ sở 2 trong tháng 6/2015

Phương pháp nghiên cứu

Mô tả cắt ngang với phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng, sử dụng MS Excel 2010

và IBM SPSS 20.0 để phân tích thống kê, đánh giá việc thực hiện quy chế kê đơn và các chỉ số

kê đơn

Chỉ số kê đơn bao gồm số thuốc kê trung bình trong một đơn, tỷ lệ phần trăm thuốc được

kê tên generic hoặc tên chung quốc tế (INN), tỷ

lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh, tỷ lệ phần trăm đơn kê có thuốc tiêm và tỷ lệ phần trăm thuốc được kê đơn có trong danh mục thuốc thiết yếu (10) Qua khảo sát 400 đơn thuốc ngoại trú tại khoa khám bệnh BVĐHYD cơ sở 2, một số chỉ kê đơn WHO/INRUD sau đã được sử dụng trong nghiên cứu

Số thuốc kê trung bình trong một đơn thuốc

Số thuốc trung bình/ đơn =

Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh

Trang 3

% đơn kê có kháng sinh = x 100%

Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê tên generic

% thuốc được kê

tên generic=

x 100%

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Trong tổng số 400 đơn thuốc khảo sát, bệnh

nhân có giới tính nữ chiếm tỷ lệ 60,5% cao hơn

gấp 1,5 lần so với nam chiếm tỷ lệ là 39,5% Xét

cơ cấu phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi, bệnh nhân có độ tuổi dao động từ ≤ 19 tuổi đến > 65 tuổi Hầu hết các bệnh nhân có địa bàn cư trú ở một số tỉnh miền Đông Nam Bộ (Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Vũng Tàu…) và Đồng bằng Sông Cửu Long (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ…) chiếm tỷ lệ 54,75% trong khi nhóm bệnh nhân cư trú tại TP.HCM chỉ chiếm tỷ

lệ 45,25% Các đặc điểm nhân khẩu học cơ bản của mẫu nghiên cứu được mô tả trong Bảng 1

Bảng 1: Mô tả mẫu nghiên cứu

Tần suất Phần trăm (%) Phần trăm tích lũy (%)

Đặc điểm nhân khẩu học

Địa bàn cư trú

Trong khoảng thời gian tháng 06/2015 lấy

mẫu tại khoa khám bệnh Bệnh viện ĐHYD cơ sở

2, có 400 đơn thuốc được ghi nhận và đánh giá

theo các nội dung sau

Khảo sát và đánh giá việc thực hiện quy chế

kê đơn

Kết quả khảo sát thực hiện quy chế kê đơn

qua phân tích 400 đơn thuốc ngoại trú được

trình bày ở Bảng 2 và Hình 1

Bảng 2: Kết quả thực hiện quy chế kê đơn

Nội dung Số lượng

đơn (%)

Liều, số lần dùng thuốc, hướng dẫn

Thông tin về bác sĩ khám bệnh, kê

*= tuân thủ các nội dung bắt buộc trong đơn thuốc (tên, tuổi, địa chỉ bệnh nhân; liều, số lần dùng thuốc, thời gian và hướng dẫn dùng thuốc; ngày kê đơn; thông tin

về bác sĩ kê đơn) (1)

Nhờ trang bị hệ thống vi tính có phần mềm

kê đơn điện tử nên việc kê đơn theo đúng quy định đã được triển khai khá tốt ở bệnh viện, có 92,5% đơn thuốc khảo sát thực hiện đúng Quy chế Kết quả này tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Tâm về tình hình kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện đa khoa trung tâm

An Giang (2012) là 93% đơn thuốc khảo sát thực hiện đúng Quy chế kê đơn(6)

Thực hiện đúng theo Quy chế kê đơn là một trong những tiêu chuẩn bắt buộc đảm bảo kê đơn thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả Mỗi đơn thuốc phải có đầy đủ các nội dung như: thông tin của bệnh nhân (tên, tuổi, giới tính, địa chỉ); bác sĩ (trình độ chuyên môn, tên); ngày kê toa cũng như các thông tin liên quan đến thuốc như,

Trang 4

dạng bào chế, tên thuốc, liều lượng, số lượng,

cách dùng và cuối cùng là chữ ký của bác sĩ kê

đơn (1) Đơn có ít nhất một nội dung bất kỳ bắt

buộc tuân thủ trong mẫu đơn nhưng không thực

hiện thì được xem là vi phạm Quy chế Qua khảo

sát, có 7,5% đơn thuốc khảo sát thực hiện chưa

đúng đủ theo quy chế kê đơn Sai sót gặp trong

đơn như thiếu thông tin bệnh nhân (địa chỉ),

hướng dẫn sử dụng thuốc Địa chỉ bệnh nhân

phải ghi chính xác số nhà, đường phố hoặc thôn,

xã để tiện liên lạc với bệnh nhân nếu có bất kỳ

sai sót y khoa nào xảy ra hoặc thông báo kịp thời

cho bệnh nhân khi hãng sản xuất thông báo

thuốc đã kê có vấn đề cần thu hồi

Hướng dẫn dùng thuốc phải được ghi đầy

đủ, rõ ràng nhằm tránh tình trạng bệnh nhân dùng thuốc sai liều, sai thời điểm dùng thuốc hoặc không tuân thủ điều trị dẫn đến hiệu quả điều trị của thuốc bị giảm Đơn không ghi hướng dẫn dùng thuốc đầy đủ cụ thể có thể dẫn đến việc bệnh nhân uống thuốc sai thời điểm hoặc quá liều không tuân trị, từ đó dẫn đến việc điều trị kém hiệu quả Điều này chứng tỏ việc kê đơn tại bệnh viện vẫn còn vấn đề cần được chấn chỉnh

Kết quả khảo sát thực hành kê đơn thuốc

Kết quả khảo sát số ngày dùng thuốc được

kê trong đơn được trình bày ở Hình 2

Hình 2: Số ngày được kê trong đơn

Tùy theo bệnh cấp tính hoặc mãn tính, số

ngày kê đơn kéo dài trong khoảng từ 5- 30 ngày

Số ngày kê trong đơn là 14 ngày chiếm tỷ lệ cao

ở một số bệnh viêm loét dạ dày tá tràng do

Helicobacter Pylori, viêm mũi xoang mạn, bệnh

cơ xương khớp (47%) Đối với bệnh nhân mắc

một số bệnh mãn tính như tăng huyết áp, thiếu

máu cơ tim, rối loạn lipid máu, gan nhiễm mỡ,

viêm gan siêu vi thì số ngày được kê trong đơn

khoảng 20-30 ngày Đối với nhóm bệnh cấp tính

nhiễm trùng tai mũi họng cấp, sau phẫu thuật

vẹo vách ngăn, cắt amidan thì số ngày kê đơn là

5-7 ngày

Qua khảo sát nhóm thuốc chống loét dạ

dày tá tràng PPI (ức chế bơm proton) và kháng

sinh chiếm tỷ lệ cao 26% và 21,73% Tiếp đến là

nhóm thuốc tim mạch, nhóm thuốc giảm đau kháng viêm không steroid và hormon (corticoid) chiếm tỷ lệ lần lượt là 13,10%; 11,18% và 9,90% Nhóm thuốc điều trị nấm chiếm tỷ lệ thấp nhất

là 0,5% Tuy nhiên vẫn còn tồn tại trường hợp kê

2 thuốc trong cùng một nhóm tác dụng dược lý (8 đơn/2%) như sự kết hợp đồng thời 2 loại thuốc trong nhóm thuốc kháng histamin thế hệ thứ hai

là levocetirizin & fexofenadin (3 đơn) hay 2 thuốc thuộc nhóm kháng viêm không steroid là etoricoxib & celecoxib (4 đơn) và meloxicam& piroxicam (1 đơn) Điều này càng tăng nguy cơ xảy ra tác dụng phụ, giảm hiệu quả điều trị và tăng chi phí điều trị trên bệnh nhân

Trang 5

Kết quả nghiên cứu về các chỉ số kê đơn

Có 1739 thuốc được kê trong 400 đơn khảo

sát, số thuốc trung bình trong 1 đơn là 4,35

thuốc/đơn Tỷ lệ % đơn kê kháng sinh là 33,75%

trong khi 82,76% thuốc được kê tên generic Các

chỉ số kê đơn đã được phân tích và so sánh với

mức khuyến cáo của WHO được trình bày ở

Bảng 3

Bảng 3: Đánh giá chỉ số kê đơn theo WHO (n= 400)

Chỉ số kê đơn Giá trị

khảo sát

Giá trị khuyến cáo theo WHO **

Số thuốc kê trung bình

Tỷ lệ phần trăm thuốc

Tỷ lệ phần trăm đơn kê có

**= trích từ “The development of standard values for the

WHO drug use prescribing indicators,” (Geneva WHO,

2008) (3)

Như đã trình bày ở Bảng 3, số thuốc trung

bình được kê trong đơn là 4,35 Điều này có

nghĩa là trung bình một bệnh nhân được kê

4-5 loại thuốc/đơn khá cao so với mức khuyến

cáo của WHO (1,6-1,8) (3) Tỷ lệ này thấp hơn

so với nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Trần

Thị Giáng Hương về tính bất hợp lý trong chỉ

định thuốc tại các bệnh viện miền Bắc Việt

Nam là 4,9 thuốc/ đơn (BV tuyến Trung ương);

4,7 thuốc/đơn (BV tuyến tỉnh) (5)

Một nghiên cứu ở Malaysia cho thấy số

lượng trung bình của các loại thuốc được kê đơn

tại phòng khám y tế công cộng ở Kuala Lumpur

là 3,33 (7) Nhiều nghiên cứu khác nhau trên thế

giới cho thấy số thuốc trung bình trong một đơn

thuốc ở các nước phát triển là 1,3 - 2,2; ở các nước

đang phát triển là 1,4 – 4,8 (4) Để đảm bảo việc kê

đơn hợp lý an toàn, khuyến cáo của Tổ chức Y tế

Thế giới là số thuốc trong một đơn là ít hơn 2 loại

thuốc Tỷ lệ các phản ứng có hại tăng lên theo

cấp số nhân khi kết hợp nhiều loại thuốc (10) Việc

sử dụng quá nhiều thuốc trong cùng một đơn sẽ

làm tăng nguy cơ xảy ra các tác dụng không

mong muốn cũng như tương tác thuốc ảnh

hưởng đến kết quả điều trị và thậm chí có hại

cho bệnh nhân sử dụng Mặt khác kê nhiều thuốc trong đơn sẽ tổn hại kinh tế cho người bệnh và gây lãng phí không đáng có trong chi phí y tế Qua khảo sát 400 đơn thuốc tại khoa khám bệnh BVĐHYD cơ sở 2 nhận thấy tỷ lệ thuốc Generic chiếm tỷ lệ 82,76% Tỷ lệ này là khá cao so với nghiên cứu Holloway, K.A (2012)

ở Thái Lan là 67,4% (BV vùng) và 87,9% (BV huyện) và gần mức khuyến cáo của WHO/INRUD là 100% thuốc generic (2,3) Số liệu thống kê số loại thuốc kê trong đơn cho mỗi bệnh nhân/1 ngày trong 400 đơn khảo sát được trình bày ở Bảng 4

Bảng 4: Số loại thuốc kê trong đơn/ bệnh nhân/ ngày

Số loại thuốc Phần trăm (%) Phần trăm tích lũy (%)

Như đã trình bày ở Bảng 4, vẫn còn tồn tại việc kê quá nhiều thuốc trong đơn (≥ 8 loại thuốc/bệnh nhân/ngày- 8,25%) Tổng số đơn có

kê thuốc kháng sinh là 135 đơn chiếm tỷ lệ 33,75% trong đó có 90 đơn kê 1 kháng sinh (với

tỷ lệ 22,5%), 42 đơn kê 2 kháng sinh (với tỷ lệ là 10,5%) và 3 đơn kê 3 kháng sinh (0,75%) Đơn thuốc kê 3 kháng sinh gặp ở trong đơn chẩn đoán viêm loét dạ dày, tá tràng do Helicobacter pylori (H.pylori) được điều trị theo phác đồ 4 thuốc kết hợp 1 thuốc nhóm ức chế bơm proton

và 3 thuốc kháng sinh Có 2 phác đồ điều trị H.P được bác sĩ kê cho bệnh nhân:

 Phác đồ 3 thuốc (Amoxcillin+ Levofloxacin+ Omeprazol)

 Phác đồ 4 thuốc (Rapeprazol+ Bismuth+ Tetracyclin+ Metronidazol)

Tình trạng kết hợp nhiều loại kháng sinh tuy chiếm một tỷ lệ nhỏ không đáng kể 0,75% nhưng cũng rất đáng quan tâm vì nếu không có sự giám sát chặt chẽ thì tỷ lệ này sẽ tăng lên một cách nhanh chóng và đưa đến hiện tượng lạm dụng

Trang 6

kháng sinh Sự phối hợp kháng sinh chỉ cần thiết

trong các trường hợp bệnh nặng, không đáp ứng

với kháng sinh trị liệu hoặc kết hợp kháng sinh

theo phác đồ ngoài ra không nên phối hợp

kháng sinh tùy tiện vì dễ gây đa kháng thuốc và

gây tăng chi phí điều trị Do đó việc theo dõi kê

đơn, sử dụng kháng sinh và tình hình đề kháng

kháng sinh là rất quan trọng, thiết thực nhằm

cập nhật thông tin cần thiết giúp bác sĩ kê đơn

thuốc một cách an toàn, hợp lý và hiệu quả

Tỷ lệ đơn kê có kháng sinh 33,75% cao hơn

so với tỷ lệ sử dụng kháng sinh tại bệnh viện

Bạch Mai- Hà Nội (2013) là 29% (8) Theo nghiên

cứu Saleh, K và Ibrahim, M I M ở Malaysia cho

thấy tỷ lệ đơn thuốc có kháng sinh là 36,7% và

nghiên cứu Holloway, K A (2012) ở Thái Lan là

23,1% (BV vùng) và 44,6% ( BV huyện) (2) Một số

họ kháng sinh phổ biến kê trong đơn được trình

bày ở Bảng 5

Bảng 5: Tình hình kháng sinh được kê theo họ kháng

sinh

Họ kháng sinh Số lượt thuốc Tỷ lệ (%)

Họ kháng sinh Beta-lactam chiếm tỷ lệ cao

nhất 62,84% gồm 2 phân họ Cephalosporin và

phân họ Penicilin chiếm tỷ lệ lần lượt là 38,25%

và 24,59%; 15,30% kháng sinh họ Quinolon, các

họ kháng sinh khác chiếm tỷ lệ thấp Theo

nghiên cứu của Trần Nhân Thắng về tình hình

sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại

bệnh viện Bạch Mai (2013), kháng sinh họ

Beta-lactam được sử dụng phổ biến nhất 44,98% trong

đó phân họ Cephalosporin 29,67%, tiếp theo là

họ macrolid và họ quinolon lần lượt chiếm tỷ lệ

là 20% và 14,01% (8)

KẾT LUẬN

Tình hình kê đơn thuốc tại Bệnh viện Đại Học Y dược Tp.HCM cơ sở 2 là phù hợp với quy chế kê đơn tuy nhiên để đảm bảo kê đơn thuốc

an toàn, hợp lý, hiệu quả, nâng cao hơn nữa công tác chăm sóc sức khỏe người dân thì việc kê đơn tại bệnh viện vẫn còn một số vấn đề cần được chấn chỉnh như việc kết hợp quá nhiều thuốc trong đơn và vẫn còn trường hợp kê 2 thuốc cùng một nhóm tác dụng dược lý Điều này làm tăng nguy cơ xảy ra tác dụng phụ, tương tác thuốc, giảm hiệu quả điều trị và tăng chi phí điều trị cho bệnh nhân Phần mềm ứng dụng tin học tại bệnh viện chưa hỗ trợ việc giám sát kê đơn thuốc và phát hiện tương tác thuốc, sai sót trong kê đơn Một sự đầu tư hợp lý để nâng cấp ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kê đơn thuốc, theo dõi tương tác thuốc là một xu thế tất yếu giúp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, điều hành hoạt động của bệnh viện từ đó cải tiến và nâng cao chất lượng khám chữa cho bệnh nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

01/02/2008 về việc ban hành Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú

Pharmaceuticals in Health Care Delivery Mission Report

17-31 July 2012 Bangkok, Thailand: 1-47

The development of standard values for the WHO drug use prescribing indicators [Cited 2015 Oct 20] Available from: http://www.archives.who.int/prduc2004/rducd/ICIUM_Poster s/1a2_txt.htm

F (2014) Evaluation of medicine prescription pattern using World Health Organization prescribing indicators in Iran: A cross-sectional study J Res Pharm Pract, 3(2): 39–45

hợp lý trong chỉ định thuốc và đề xuất giải pháp nâng cao tính hợp lý trong sử dụng thuốc tại một số bệnh viện miền Bắc Việt Nam Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu cấp bộ, Đại học Y Hà Nội

thuốc ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang Luận văn tốt nghiệp dược sĩ CKI, Đại học Y Dược Hồ Chí Minh

used in Malaysian Primary Health Care sector Malaysian Journal of Pharmaceutical Sciences, 4:1-12

Trang 7

8 Trần Nhân Thắng (2013) Khảo sát tình hình sử dụng kháng

sinh trong điều trị ngoại trú tại bệnh viện Bạch Mai Y học

thực hành,8:84-88

Report of the conference of Experts, Nairobi 1985 [Cited 2015

Oct 20]

select drug use indicators, WHO/DAP/93.1 [Cited 2015 Oct

http://apps.who.int/medicinedocs/en/d/Js2289e/

Ngày nhận bài báo: 30/10/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 20/02/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 03:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm