1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm tế bào học và giải phẫu bệnh bướu giáp nhân đã phẫu thuật

6 108 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 304,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm tế bào học và giải phẫu bệnh của nhân giáp trên bệnh nhân có bướu giáp nhân đã phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang hồi cứu trên những bệnh nhân có bướu giáp nhân được phẫu thuật tại bệnh viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, từ tháng 11 năm 2016 đến tháng 03 năm 2017.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM TẾ BÀO HỌC VÀ GIẢI PHẪU BỆNH BƯỚU GIÁP NHÂN

ĐÃ PHẪU THUẬT

Nguyễn Trúc Dung*, Trần Quang Nam*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm tế bào học và giải phẫu bệnh của nhân giáp trên bệnh nhân có bướu giáp nhân đã

phẫu thuật

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang hồi cứu trên những bệnh nhân có bướu

giáp nhân được phẫu thuật tại bệnh viện Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh, từ tháng 11 năm 2016 đến tháng

03 năm 2017 Ghi nhận từ hồ sơ bệnh án các biến số về đặc điểm lâm sàng, siêu âm, kết quả tế bào học và giải phẫu bệnh của nhân giáp trong đó, kết quả giải phẫu bệnh được xem là tiêu chuẩn vàng

Kết quả: Có 397 bệnh nhân (nữ 88,4%) Tuổi trung bình: 43,7 13,1 (năm) Số trường hợp bướu giáp đa nhân và đơn nhân lần lượt là 254 trường hợp (64%) và 143 trường hợp (36%) Tỉ lệ ung thư giáp là 38 % So sánh giữa hai nhóm ung thư giáp và không ung thư giáp, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về những đặc điểm siêu âm sau: nhân phản âm kém 87,9% so với 34,9%, vi vôi 44,7% so với 4,9%, nhân đặc 85,7% so với 16% và hiện diện của hạch 44,7% so với 8,9% Kết quả tế bào học tuyến giáp theo hệ thống phân loại Bethesda: nhóm I có

12 trường hợp (3%), nhóm II có 179 trường hợp (45%), nhóm có III 53 trường hợp (13,4%), nhóm IV không có trường hợp nào, nhóm V có 82 trường hợp (21%) và nhóm VI có 71 trường hợp (17,9%) Kết quả giải phẫu bệnh: phình giáp 44,8%, carcinôm tuyến giáp dạng nhú 36,8%, u dạng túi tuyến 9,1% Giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm, độ nhạy và độ đặc hiệu của kỹ thuật chọc hút tế bào tuyến giáp bằng kim nhỏ lần lượt là 100%, 92%, 78% và 100%

Kết luận: Những đặc điểm siêu âm của nhân giáp như phản âm kém, vi vôi, nhân dạng đặc và hạch di căn

đều là những đặc điểm gợi ý ác tính Giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm, độ nhạy và độ đặc hiệu của kỹ thuật chọc hút tế bào tuyến giáp bằng kim nhỏ lần lượt là 100%, 92%, 78% và 100%

Từ khóa: tế bào học, bưới giáp nhân

ABSTRACT

CYTOLOGICAL AND HISTOLOGICAL FEATURES OF OPERATED THYROID NODULE

Nguyen Truc Dung, Tran Quang Nam

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 1- 2019: 209-214

Objective: To describe clinical, cytological and histological features of patients with operated thyroid nodules Method: The cross – sectional retrospective medical record of patients hospitalized for thyroid nodules

was conducted at Medical University hospital, Ho Chi Minh city from November 2016 through March

2017 Complete medical records with cytological and histological diagnosis were included and data were collected to determine clinical features, ulsonographic findings, cytological and histological diagnosis of patients with thyroid nodules

Results: 397 patients (88.4% female) had mean age of 43.7 13.1 years Proportion of multinodular goiter and solitary thyroid nodule were 52% and 48% respectively Proportion of thyroid cancer was 38% In thyroid malignancy group, the rate of patient having painful was 3.3%, difficulty swallowing 12.7%, hoarseness 4.7%,

Bộ Môn Nội Tiết, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Trúc Dung ĐT: 0917276907 Email: dr.trdung@gmail.com

Trang 2

hypoechogenicity 5% Besides, the rate of thyroid nodules having microcalcification was 44.7%, solid characteristic 85.7% and presentation of lymph node 44.7% Distribution of thyroid cytological diagnosis groups based on Bethesda classification system was: group I with 12 cases (3%), group II 179 cases (45%), group III 53 cases (13.4%), group V 82 cases (20.7%), group VI 71 cases (17.9%) and no case was found in group IV Distribution of thyroid histological result was: goiter 44.8%, papillary thyroid carcinoma 36.8%, follicular thyroid adenoma 9.1 % The positive predicted value, negative predicted value, sensitivity and specificity of fine needle aspiration were 100%, 92%, 78% and 100% respectively

Conclusion: In summary, clinical examination and ultrasound assessment of patients with thyroid nodules are necessary step to consider thyroid nodules’ nature and to guide clinicians in thyroid fine needle aspiration indication With high positive predicted value, negative predicted value, sensitivity and specificity (100%, 92%, 78% and 100% respectively), fine needle aspiration will become an ideal technique for thyroid cytological diagnosis and managing patients with thyroid nodules

Key words: cytology, pathology, fine needle aspiration technique

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bướu giáp nhân là bệnh lý tuyến giáp phổ

biến, nhân giáp có thể là biểu hiện của phình

giáp, viêm giáp, ung thư tuyến giáp… Tỉ lệ nhân

giáp sờ thấy chiếm 5% ở nữ và 1% ở nam sống

tại những vùng thiếu hụt iod trên thế giới(6,17)

Ngược lại, tỉ lệ nhân giáp phát hiện trên siêu âm

chiếm 19% - 68%, tần suất này cao hơn ở phụ nữ

và những người lớn tuổi(7,11)

Yếu tố nguy cơ của ung thư giáp phụ thuộc

vào tuổi, giới, tiền sử có tiếp xúc tia xạ, tiền sử

gia đình và những yếu tố khác(5,13) Theo

Globocan năm 2008, tỉ suất ung thư tuyến giáp

tại Việt Nam là 1/100.000 dân với cả hai giới

nhưng đến năm 2012 là 2,5/100.000 dân(5,13) Để

xác định bản chất nhân giáp, khám lâm sàng chỉ

gợi ý, siêu âm giúp phân biệt bướu dạng nang

hay đặc, bướu đặc thường dễ có khả năng ung

thư hơn; nhưng ung thư tuyến giáp dạng nhú

cũng có thể thoái hóa thành nang có vách tương

đối dày và không đều(1) Tuy nhiên, bản chất thật

sự của nhân giáp chỉ được chẩn đoán bằng kết

quả tế bào học và giải phẫu bệnh

Năm 1930, kỹ thuật chọc hút tế bào bằng kim

số 18 được thực hiện trên quy mô lớn tại Bệnh

viện Memorial, New York Tuy nhiên, kỹ thuật

này không được triển khai phổ biến ở Hoa Kỳ

Năm 1960, kỹ thuật chọc hút tế bào tuyến giáp

bằng kim nhỏ được giới thiệu ở Scandinavia và

ngày nay, kỹ thuật được ứng dụng rộng rãi trên

thế giới để hỗ trợ chẩn đoán bản chất lành hay ác tính của nhân giáp Qua đó, nhà lâm sàng sẽ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp cho bệnh nhân và giảm thiểu tối đa những can thiệp không cần thiết

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm

tế bào học và giải phẫu bệnh bướu giáp nhân đã phẫu thuật” nhằm mô tả đặc điểm siêu âm, tế bào học và giải phẫu bệnh của nhân giáp Qua

đó, chúng tôi khảo sát giá trị chẩn đoán của kỹ thuật chọc hút tế bào tuyến giáp bằng kim nhỏ đối với bướu giáp nhân

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả hồi cứu cắt ngang được tiến hành tại Bệnh viện Đại Học Y Dược TP Hồ

Chí Minh, từ tháng 11/2016 đến tháng 03/2017

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân có bướu giáp nhân đến khám và được phẫu thuật tại bệnh viện Đại Học

Y Dược TP Hồ Chí Minh từ tháng 11 năm 2015

đến tháng 11 năm 2016

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Chọn hồ sơ bệnh án của những bệnh nhân có bướu giáp nhân đã được phẫu thuật và có đầy

đủ kết quả tế bào học, giải phẫu bệnh

Tiêu chuẩn loại trừ

Kết quả giải phẩu bệnh là ung thư di căn, lymphôm tuyến giáp hoặc hồ sơ không đủ dữ

Trang 3

liệu nghiên cứu

Quy trình thực hiện nghiên cứu

Đầu tiên, xác định tất cả mã số nhập viện

của bệnh nhân được phẫu thuật bướu giáp

nhân từ ngày 20 tháng 11 năm 2015 đến ngày

20 tháng 11 năm 2016 Bản danh sách gồm 412

bệnh nhân được trình cho Phòng Kế Hoạch

Tổng Hợp để xin tiến hành thu thập hồ sơ

bệnh án lưu trữ Hồ sơ nào thỏa tiêu chuẩn

chọn bệnh và không thỏa tiêu chuẩn loại trừ sẽ

được đưa vào nghiên cứu Các biến số được

thu thập từ hồ sơ bệnh án bao gồm:

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng như

tuổi (năm), giới tính, triệu chứng đau, nuốt

vướng, khàn giọng, mật độ và tính di động của

nhân giáp, nồng độ hormon giáp, nồng độ

calci máu, đặc điểm siêu âm về loại bướu giáp

nhân, dạng, kích thước, đường kính, đặc tính

phản âm, sự vôi hóa của nhân giáp và sự hiện

diện của hạch vùng

Kết quả tế bào học nhân giáp và phân nhóm

tế bào học theo hệ thống phân loại Bethesda:

Nhóm I: Không thể chẩn đoán

Nhóm II: Biểu mô tuyến giáp lành tính, viêm

giáp Hashimoto, nang giáp, phình giáp

Nhóm III: Tổn thương dạng túi tuyến

Nhóm IV: U dạng túi tuyến hoặc nghi ngờ

u dạng túi tuyến

Nhóm V: Nghi ngờ carcinôm tuyến giáp

dạng nhú

Nhóm VI: Carcinôm tuyến giáp dạng nhú,

carcinôm tuyến giáp dạng nhú biến thể nang,

carcinôm tuyến giáp kém biệt hóa, carcinôm

tuyến giáp không biệt hóa

Từ sáu nhóm tế bào học kể trên, chúng tôi

tổng hợp thành hai nhóm chính là nhóm không

ung thư gồm nhóm I, II, III, IV và nhóm ung thư

là nhóm VI Những trường hợp trong nhóm V

đều được sinh thiết lạnh trong lúc phẫu thuật để

lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp

Kết quả giải phẫu bệnh nhân giáp gồm biểu

mô tuyến giáp lành tính, nang giáp, phình giáp,

viêm giáp Hashimoto, viêm giáp bán cấp, u

tuyến túi của tuyến giáp, u tế bào Hurthle - thuộc nhóm không ung thư Carcinôm tuyến giáp dạng nhú, carcinôm tuyến giáp dạng nhú biến thể nang, carcinôm tuyến giáp kém biệt hóa, carcinôm tuyến giáp không biệt hóa - thuộc nhóm ung thư

Phương pháp phân tích số liệu

Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm thống

kê SPSS 22.0 Biến số định lượng sẽ được kiểm tra tính phân phối chuẩn, được trình bày dưới dạng trung bình và độ lệch chuẩn hoặc trung vị

và khoảng tứ phân vị Phép kiểm T dùng để so sáng hai trung bình giữa các biến số định lượng

có phân phối chuẩn Phép kiểm Mann – Whitney dùng để so sánh hai trung bình giữa các biến số định lượng có phân phối không chuẩn Phép kiểm Chi bình phương để phân tích mối liên hệ giữa hai biến định tính Phân tích được xem là có

ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

Với kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật là tiêu chuẩn vàng, giá trị của kỹ thuật chọc hút tế bào tuyến giáp bằng kim nhỏ được khảo sát qua những thông số sau: giá trị tiên đoán dương, giá tri tiên đoán âm, độ nhạy và độ đặc hiệu, được tính bằng công thức:

Giá trị tiên đoán dương = dương thật/(dương thật + dương giả)

Giá trị tiên đoán âm = âm thật / (âm thật +

âm giả)

Độ nhạy của xét nghiệm = dương thật/(dương thật + âm giả0

Độ đặc hiệu của xét nghiệm = âm thật / (âm thật + dương giả)

Trong đó, dương tính thật là số trường hợp

có kết quả tế bào học ung thư và kết quả giải phẫu bệnh ung thư, dương tính giả là số trường hợp có kết quả tế bào học ung thư nhưng kết quả giải phẫu bệnh không ung thư

Âm tính thật là số trường hợp có kết quả tế bào học không ung thư và kết quả giải phẫu bệnh không ung thư và âm tính giả là số trường hợp có kết quả tế bào học không ung thư nhưng kết quả giải phẫu bệnh ung thư

Trang 4

KẾT QUẢ

Bảng 1: Đặc điểm cơ bản của bệnh nhân có bướu

giáp nhân

Yếu tố Dân số chung (N=397)

Tuổi (năm) TB±ĐLC

Giới nữ, n (%)

Bướu giáp đa nhân, n (%)

Ung thư tuyến giáp (%)

Đặc điểm lâm sàng, n (%)

Đau

Nuốt vướng

Khàn giọng

Nhân khám có mật độ cứng

43,7  13,1

351 (88,4)

254 (64)

150 (38)

15 (3,8)

78 (19,6)

10 (2,5)

95 (24)

TB: Trung bình, ĐLC: Độ lệch chuẩn

Bảng 2: Đặc điểm siêu âm của bệnh nhân có bướu

giáp nhân

Đặc điểm siêu âm

nhân giáp

Ung thư giáp (n = 150)

Không ung thư giáp (n = 247) P

Đặc điểm phản âm

kém, n(%)

131 (87,9) 84 (34,9) 0,0001 Đặc điểm vi vôi

hóa, n (%)

67 (44,7) 12 (4,9) 0,0001 Đặc điểm nhân đặc,

n (%)

96 (85,7) 26 (16) 0,0001

Sự hiện diện của

hạch, n (%)

67 (44,7) 22 (8,9) 0,0001

Phép kiểm: Chi bình phương

Trong 412 hồ sơ của bệnh nhân có bướu giáp

nhân được phẫu thuật có 397 hồ sơ thỏa tiêu

chuẩn chọn bệnh Mười lăm hồ sơ không được

nhận vào nghiên cứu, trong đó mười trường hợp

không có hồ sơ lưu trữ, ba trường hợp không có

kết quả giải phẫu bệnh và hai trường hợp không

có kết quả tế bào học

Tuổi trung bình là 43,7  13,1 (năm), nữ

chiếm ưu thế so với nam Tỉ lệ bệnh nhân có

bướu giáp đa nhân chiếm ưu thế so với đơn nhân, tỉ lệ ung thư tuyến giáp là 38 % Những đặc điểm lâm sàng thường gặp là khám nhân

giáp có mật độ cứng và nuốt vướng (Bảng 1)

Đặc điểm phản âm kém, vi vôi, nhân đặc, sự hiện diện của hạch đều chiếm ưu thế trong nhóm ung thư giáp so với nhóm không ung thư

giáp một cách có ý nghĩa thống kê (Bảng 2)

Bảng 3: Đặc điểm phân bố kết quả tế bào học tuyến

giáp theo hệ thống phân loại Bethesda

Nhóm kết quả tế bào học Dân số chung (N=397)

Nhóm I, n (%) Nhóm II, n (%) Nhóm III, n (%) Nhóm IV, n (%) Nhóm V, n (%)

Nhóm VI, n (%)

12 (3)

179 (45)

53 (13)

0 (0)

82 (21)

71 (18) Trước khi phẫu thuật, 397 bệnh nhân đều được tiến hành kỹ thuật chọc hút tế bào tuyến giáp bằng kim nhỏ và kết quả tế bào học nhân giáp được trình bày trong bảng 3 Qua đó, ghi nhận nhóm II chiếm tỉ lệ cao nhất với 179 trường hợp (45%), kế đến là nhóm V 83 trường hợp (21%), nhóm VI 71 trường hợp (18%), nhóm III

52 trường hợp (13%), cuối cùng là nhóm I 12 trường hợp (3%) và nhóm IV không có trường

hợp nào (Bảng 3)

Sau khi phẫu thuật, kết quả tế bào học được đối chiếu với kết quả giải phẫu bênh trong bảng

4 Trong đó, nhóm V và VI có tỉ lệ phù hợp cao với kết quả giải phẫu bênh, nhóm III có tỉ lệ phân bố kết quả giải phẫu bệnh rộng, nhóm IV

không ghi nhận trường hợp nào (Bảng 4)

Bảng 4: Đối chiếu kết quả tế bào học và kết quả giải phẫu bệnh tuyến giáp

Kết quả chẩn đoán giải phẫu bệnh (N = 397) Kết quả chẩn đoán tế bào học

Trang 5

Bảng 5 được thành lập dựa trên phân tích

mối tương quan giữa kết quả tế bào học và kết

quả giải phẫu bệnh nhân giáp Chúng tôi tổng

hợp năm nhóm kết quả tế bào học thành hai

nhóm “ung thư” và “không ung thư”; các kết

quả giải phẫu bệnh nhân giáp cũng được tổng

hợp thành hai nhóm “ung thư” và “không ung

thư” Sau khi phân tích, ghi nhận số trường hợp

dương tính thật là: 71, dương tính giả là: 0, âm

tính thật là: 224, âm tính giả là: 20 Từ đó, giá trị

tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm, độ nhạy

và độ đặc hiệu của kỹ thuật chọc hút tế bào

tuyến giáp bằng kim nhỏ lần lượt là 100%, 92%,

78% và 100%

Bảng 5: Tương quan giữa kết quả tế bào học và kết

quả giải phẫu bệnh tuyến giáp

Kết quả Tế bào

học

Kết quả giải phẫu bệnh Tổng cộng

(N=315) Ung thư

(n= 91)

Không ung thư (n= 224)

Không ung thư giáp 20 224 244

Kết quả tế bào học: ung thư giáp là nhóm VI;

không ung thư giáp gồm nhóm I, II, III và IV

Kết quả giải phẫu bệnh: ung thư bao gồm

carcinôm tuyến giáp dạng nhú, carcinôm tuyến

giáp dạng nhú biến thể nang, carcinôm tuyến

giáp kém biệt hóa, carcinôm tuyến giáp không

biệt hóa; không ung thư bao gồm biểu mô tuyến

giáp lành tính, nang giáp, phình giáp, viêm giáp

Hashimoto, viêm giáp bán cấp, u tuyến túi của

tuyến giáp, u tế bào Hurthle

82 trường hợp thuộc nhóm V “nghi ngờ

carcinôm tuyến giáp dạng nhú” khó xác định

chắc chắn bản chất là ung thư nên không được

tổng hợp để phân tích trong Bảng 5

BÀN LUẬN

Khảo sát về giá trị của kỹ thuật chọc hút tế

bào tuyến giáp bằng kim nhỏ, chúng tôi ghi

nhận độ nhạy là 78 %, độ đặc hiệu là 100% So

sánh với những tác giả khác như Lê Minh Huy:

89 % và 100%(10); Hứa Thị Ngọc Hà: 84% và

98%(8); Nguyễn Thị Chúc Biên: 96% và 98%(14)…

Chúng tôi nhận thấy kỹ thuật chọc hút tế bào

tuyến giáp bằng kim nhỏ có độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao

Về đặc điểm phân bố kết quả tế bào học, trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Chúc Biên, nhóm tân sinh và ác tính chiếm tỉ lệ cao do tác giả chọn mẫu thuận tiện, ưu tiên lấy mẫu trên bệnh nhân đã được phẫu thuật và có kết quả giải phẫu bệnh ở trung tâm Ung Bướu(14) Trong khi đó, chúng tôi lấy mẫu ở bệnh viện đa khoa giống như các tác giả Park Jae Hyun và Santosh Komar nên tỉ lệ phân bố nhóm II chiếm

ưu thế, các nhóm còn lại chiếm tỉ lệ thấp hơn(12,16) Đối chiếu kết quả tế bào học với kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật, kết quả từ nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của tác giả Nguyễn Thị Chúc Biên với nhóm V và nhóm

VI có tỉ lệ phù hợp cao với kết quả giải phẫu bệnh, nhóm III là nhóm không điển hình nên có

tỉ lệ phân bố kết quả giải phẫu bệnh rộng Nhóm

IV không ghi nhận được trường hợp nào nhưng tác giả Nguyễn Thị Chúc Biên ghi nhận phân bố kết quả giải phẫu bệnh nhóm IV nằm trong dự đoán nhóm tân sinh dạng nang/tân sinh dạng nang loại tế bào Hurthle(14) Tỉ lệ ác tính chiếm cao nhất ở nhóm “nghi ngờ ác tính” và “ác tính” Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước như của tác giả Nguyễn Thị Chúc Biên, Bongiovanni, Onder S, Santosh

K(3,12,14,15 ) Trong khi đó, tỉ lệ ác tính của nhóm I

và III thay đổi tùy theo từng nghiên cứu Nếu chúng ta bỏ qua hai nhóm chẩn đoán này có thể dẫn đến tỉ lệ âm tính giả cao và hai nhóm thuật ngữ này không có trong các bảng phân loại trước đó, cho thấy đây là một bước tiến của hệ thống phân loại Bethesda

Về đặc điểm lâm sàng và đặc điểm siêu âm của mẫu nghiên cứu, không có mối liên quan có

ý nghĩa thống kê giữa triệu chứng đau, khàn giọng với ung thư giáp Kết quả này phù hợp với tác giá Lâm Văn Hoàng(9), Trần Quốc Luận(18) Có thể vì triệu chứng đau và khàn giọng

là những triệu chứng chủ quan và hay gặp trong nhiều bệnh lý phối hợp Tuy nhiên, có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa những đặc điểm

Trang 6

như mật độ cứng, phản âm kém, vi vôi, nhân

đặc, sự hiện diện của hạch trên siêu âm với ung

thư giáp so với nhóm không ung thư giáp Kết

quả này phù hợp với các tác giả Lâm Văn

Hoàng, Alfonso E, Campanella P(2,,4,9)

KẾT LUẬN

Nghiên cứu 397 trường hợp bệnh nhân có

bướu giáp nhân đến khám và được phẫu thuật

tại bệnh viện Đại Học Y Dược TP HCM từ tháng

11/2015 đến tháng 11/2016, chúng tôi ghi nhận

những đặc điểm siêu âm của nhân giáp như

phản âm kém, vi vôi, nhân dạng đặc và hạch di

căn là những đặc điểm gợi ý ác tính Với tiêu

chuẩn vàng là kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu

thuật, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán

âm, độ nhạy và độ đặc hiệu của kỹ thuật chọc

hút tế bào tuyến giáp bằng kim nhỏ lần lượt là

100%, 92%, 78% và 100%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abdel NH, Falko JM et al(1984) "Solitary cold thyroid nodule:

cost-ineffectiveness of ultrasonography" Southern medical

journal, 77(9):1146-1148

2 Alfonso E, Sanabria A et al (2011) "Surgeons overestimate the

risk of malignancy in thyroid nodules, evaluation of subjective

estimates using a bayesian analysis" Biomedica, 31(4):600-608

3 Bongiovanni M, Spitale A et al (2012) "The Bethesda system

for reporting thyroid cytopathology: a meta-analysis" Acta

cytologica, 56(4):333-339

4 Campanella P, Ianni F et al (2014) "Quantification of cancer

risk of each clinical and ultrasonographic suspicious feature of

thyroid nodules: a systematic review and meta-analysis"

European journal of endocrinology, EJE-13-0995

5 Ferlay J, Soerjomataram I et al (2015) "Cancer incidence and

mortality worldwide: sources, methods and major patterns in

GLOBOCAN 2012" International journal of cancer, 136 (5)

6 Guth S, Theune U et al (2009) "Very high prevalence of thyroid

nodules detected by high frequency (13 MHz) ultrasound

examination" European journal of clinical investigation, 39(8): 699-706

7 Hegedüs L et al (2004) "The thyroid nodule" New England

Journal of Medicine, 351(17):1764-1771

8 Hứa Thị Ngọc Hà, Đoàn Thị Phương Thảo và cs (2003) "Đối

chiếu siêu âm tế bào học giải phẫu bệnh các nhân giáp" Tạp Chí Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh - Chuyên đề giải phẫu bệnh,

7(3):57 – 63

9 Lâm Văn Hoàng, Nguyễn Thy Khuê (2004) "Đối chiếu lâm sàng, tế bào học và giải phẫu bệnh trên bệnh nhân bướu giáp

nhân" Luận Văn Thạc Sĩ Y Khoa, Trường Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh

10 Lê Minh Huy, Nguyễn Sào Trung (2009) "Đối chiếu tế bào học

- giải phẫu bệnh nhân giáp" Tạp Chí Y Học Tp Hồ Chí Minh - Chuyên đề giải phẫu bệnh, tập 13

11 Mandel SJ et al (2004) "A 64-year-old woman with a thyroid

nodule" Jama, 292(21):2632-2642

12 Mondal SK, Sinha S et al (2013) "The Bethesda system for reporting thyroid fine needle aspirates: A cytologic study with

histologic follow-up" Journal of Cytology/Indian Academy of Cytologists, 30(2): 94

13 Moore MA, Attasara P (2010) et al "Cancer epidemiology in

mainland South-East Asia-past, present and future" Asian Pac J Cancer Prev, 11(2): 67-80

14 Nguyễn Thị Chúc Biên, Ngô Quốc Đạt và cs (2015) "Áp dụng

hệ thống phân loại Bethesda trong chẩn đoán tế bào học tuyến

giáp" Tạp Chí Y Học Tp Hồ Chí Minh - Chuyên đề giải phẫu bệnh,

tập 19:71-77

15 Önder S, Firat P et al (2014) "The Bethesda system for reporting thyroid cytopathology: an institutional experience of

the outcome of indeterminate categories" Cytopathology,

25(3):177-184

16 Park JH, Kim HK et al (2012) "Second opinion in thyroid

fine-needle aspiration biopsy by the Bethesda system" Endocrine journal, 59(3):205-212

17 Tan GH, Gharib H et al (1997) "Thyroid incidentalomas: management approaches to nonpalpable nodules discovered

incidentally on thyroid imaging" Annals of internal medicine,

126(3): 226-231

18 Trần Quốc Luận, Nguyễn Thy Khuê (2008) "Đối chiếu lâm

sàng, tế bào học và giải phẫu bệnh học bướu giáp nhân" Luận Văn Chuyên Khoa II - Trường Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh

19 Tunbridge WMG, Evered DC et al (1977) "The spectrum of

thyroid disease in a community: the Whickham survey" Clinical endocrinology, 7(6):481-493

20 Vander JB, Gaston EA et al (1968) "The significance of nontoxic thyroid nodules : Final Report of a 15-Year Study of the

Incidence of Thyroid Malignancy" Ann Intern Med, 69:537 - 540 Ngày nhận bài báo: 08/11/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 03:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm