1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xác định đột biến gen EGFR và gen KRAS quyết định tính đáp ứng thuốc trong điều trị bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ

7 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 443,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc xác định tỷ lệ đột biến gen EGFR và gen KRAS quyết định tính đáp ứng thuốc điều trị đích trên bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn muộn, đánh giá hiệu quả điều trị erlotinib bước 1 trên các bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn muộn có đột biến gen EGFR.

Trang 1

XÁC ĐỊNH ĐỘT BIẾN GEN EGFR VÀ GEN KRAS QUYẾT ĐỊNH

TÍNH ĐÁP ỨNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ

Nguyễn Minh Hà * , Trần Vân Khánh ** , Trần Huy Thịnh *** , Tạ Thành Văn ***

TÓM TẮT

Liệu pháp điều trị đích (LPĐTĐ) đã được chứng minh có hiệu quả cho bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN), đặc biệt trên nhóm bệnh nhân có đột biến gen EGFR và không có đột biến gen KRAS

Mục tiêu: (1)Xác định tỷ lệ đột biến gen EGFR và gen KRAS quyết định tính đáp ứng thuốc điều trị đích

trên bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn muộn; và (2) Đánh giá hiệu quả điều trị erlotinib bước 1 trên các bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn muộn có đột biến gen EGFR

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Xác định tỷ lệ đột biến gen EGFR và gen KRAS trên 181 bệnh

nhân UTPKTBN và tiến cứu theo dõi hiệu quả điều trị erlotinib bước 1 trên 61 bệnh nhân có đột biến gen EGFR

Kết quả: Tỷ lệ đột biến gen EGFR và gen KRAS lần lượt là 58,6% và 15,5%; 2,2% bệnh nhân cùng mang

đột biến gen EGFR và KRAS Phát hiện 4 đột biến gen EGFR mới Điều trị erlotinib bước 1 cho tỷ lệ đáp ứng 63,9%, trung vị thời gian sống thêm không bệnh tiến triển là 9,4 tháng và sống thêm toàn thể là 15,5 tháng

Kết luận: Cần xét nghiệm đột biến gen EGFR và KRAS để lựa chọn bệnh nhân phù hợp cho liệu pháp điều

trị đích bằng erlotinib

Từ khóa: gen EGFR, gen KRAS, liệu pháp điều trị đích, ung thư phổi không tế bào nhỏ

ABSTRACT

DETECTION OF EGFR AND KRAS MUTATIONS RELATED TO RESPONSIVENESS

OF TARGETED THERAPY IN NON-SMALL CELL LUNG CANCER

Nguyen Minh Ha, Tran Van Khanh, Tran Huy Thinh, Ta Thanh Van

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 241 - 247

Targeted therapy has been shown to be effective for non-small cell lung cancer (NSCLC), especially in patients with EGFR mutation and no KRAS mutation

Purpose: (1) Determine the frequencies of EGFR and KRAS mutations related to the responsiveness of

targeted therapy; and (2) Assess the effectiveness of first-line erlotinib in advanced NSCLC patients with EGFR mutations

Methods: Determine the frequencies of EGFR and KRAS mutations in 181 patients and prospective

longitudinal follow-up the responsiveness of erlotinib in 61 EGFR-mutated patients

Results: The occurrence of EGFR and KRAS mutations was respectively 58.6% and 15.5%; 2.2% of

patients with concurrent EGFR and KRAS mutations Detection of 4 new EGFR mutations The response rate was 63.9%, the median progressive-free survival was 9.4 months and median overall survival was 15.5 months

Conclusions: Testing of EGFR and KRAS mutations is recommended for selecting appropriate patients for

*Bộ môn Hóa Sinh-Sinh học phân tử, Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch TP.HCM

** Bộ môn Bệnh học phân tử - Trung tâm Nghiên cứu Gen-Protein, Trường ĐH Y Hà Nội

*** Bộ môn Hóa Sinh - Trung tâm Nghiên cứu Gen-Protein, Trường ĐH Y Hà Nội

Trang 2

erlotinib treatment

Key words: EGFR gene, KRAS gene, targeted therapy, non-small cell lung cancer

ĐẶT VẤN ĐỀ

Liệu pháp điều trị đích (LPĐTĐ) trong bệnh

ung thư là một liệu pháp mới, đã được chứng

minh có hiệu quả tốt cho bệnh nhân ung thư

phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN), đặc biệt

trên nhóm có đột biến gen EGFR và không có

đột biến gen KRAS Nhiều nghiên cứu đã

chứng minh mối liên quan chặt chẽ giữa tình

trạng đột biến các gen trên và mức độ đáp ứng

thuốc của khối u trong LPĐTĐ(13) Tại Việt Nam,

nhu cầu LPĐTĐ cho bệnh nhân UTPKTBN

ngày càng tăng, nhưng chưa có nghiên cứu nào

khảo sát đồng thời tỷ lệ đột biến gen EGFR và

KRAS trên số lượng lớn bệnh nhân cũng như

chưa có nghiên cứu nào về hiệu quả điều trị

đích dựa trên tình trạng đột biến hai gen này

Từ thực tế đó, đề tài tiến hành với hai mục tiêu:

(1) Xác định tỷ lệ đột biến gen EGFR và gen KRAS

quyết định tính đáp ứng thuốc điều trị đích trên bệnh

nhân UTPKTBN giai đoạn muộn; và (2) Đánh giá

hiệu quả điều trị erlotinib bước 1 trên các bệnh nhân

UTPKTBN giai đoạn muộn có đột biến gen EGFR

ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Gồm 2 nhóm: (1) 181 bệnh nhân được xác

định đột biến gen EGFR và gen KRAS là

những bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn

IIIB/IV mới chẩn đoán, có mô bệnh học là ung

thư biểu mô tuyến hoặc biểu mô vảy hoặc

biểu mô tế bào lớn; và (2) 61 bệnh nhân được

điều trị erlotinib bước 1, được lựa chọn từ 181

bệnh nhân đã xét nghiệm đột biến gen Các

bệnh nhân này không mang đột biến gen

KRAS, chỉ mang các đột biến EGFR làm tăng

tính đáp ứng thuốc điều trị đích

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả (xác định đột biến gen) và tiến cứu

(đánh giá hiệu quả điều trị) Thời gian nghiên

cứu: từ 01/01/2012 đến hết 30/03/2014

Phương pháp nghiên cứu

Xác định đột biến gen EGFR và KRAS

Mẫu mô sinh thiết đúc nến được lựa chọn vùng tập trung tế bào ung thư Xử lý mẫu bằng xylene và tách chiết DNA bằng phenol/chloroform Thực hiện song song hai kỹ thuật giải trình tự gen và Scorpion ARMS để xác định đột biến trên exon 18-21 gen EGFR và trên codon 12-13 của exon 2 gen KRAS, tại Trung Tâm Nghiên Cứu Gen-Protein, Trường ĐH Y

Hà Nội Kỹ thuật giải trình tự gen: sử dụng

BigDye Kit (Applied Biosystems), đọc bằng máy giải trình tự gen tự động ABI3700, đối chiếu với trình tự tham chiếu của gen EGFR và KRAS trên GenBank (EGFR: NG_007726; KRAS: NG_007524), phân tích theo phần mềm

Seqscape (Applied Biosystems) Kỹ thuật Scorpion ARMS: sử dụng EGFR PCR kit và

KRAS PCR kit (Qiagen) phát hiện 29 loại đột biến gen EGFR và 7 loại đột biến gen KRAS bằng phản ứng real-time PCR, độ nhạy 1 alen

đột biến/100 alen

Đánh giá hiệu quả điều trị erlotinib bước 1

Xác định tỷ lệ đáp ứng thực thể ORR (theo tiêu chuẩn RECIST v1.1(2)), tỷ lệ đáp ứng toàn trạng (theo chỉ số Karnofsky(5)) mỗi 3 tháng Ghi nhận thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (PFS) và thời gian sống thêm toàn thể (OS) của các bệnh nhân Ghi nhận và phân độ tác dụng

phụ (nếu có) của erlotinib theo tiêu chuẩn Đánh

giá độc tính của hóa chất của Viện Ung thư Quốc

gia Hoa Kỳ (CTCAE v3.0)(8)

Xử lý số liệu

Quản lý và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 21.0 So sánh sự khác biệt giữa các nhóm bằng test Chi bình phương Phân tích thời gian sống thêm bằng phương pháp Kaplan-Meier với test Logrank so sánh thời gian sống thêm trung bình giữa các nhóm (với p<0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê)

Trang 3

Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành dựa trên sự tự

nguyện tham gia của các bệnh nhân Các số

liệu sử dụng trong nghiên cứu đã được thông

qua Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y

Hà Nội

KẾT QUẢ

Từ 01/01/2012 đến 30/03/2014 đã có tổng

cộng 181 bệnh nhân được làm xét nghiệm xác

định đột biến exon 18-21 trên gen EGFR, đột

biến codon 12-13 exon 2 trên gen KRAS và 61

bệnh nhân được đánh giá hiệu quả điều trị

erlotinib bước 1 Các bệnh nhân được lựa chọn

từ các Bệnh viện Hữu Nghị, Bệnh viện K Trung

Ương và Bệnh viện Bạch Mai

Đột biến gen EGFR và KRAS

Bảng 1 Phân bố tình trạng đột biến gen EGFR và

KRAS

Tình trạng đột

biến

Có đột biến gen EGFR

Không có đột

Có đột biến

KRAS 4 (2,2%) 24 (13,2%)

28 (15,5%) Không có đột

biến KRAS 102 (56,4%) 51 (28,2%)

153 (84,5%) Tổng 106 (58,6%) 75 (41,4%) 181

(100%)

Biểu đồ 1 Tỷ lệ các loại đột biến gen EGFR

Phát hiện 106/181 bệnh nhân mang đột

biến gen EGFR, chiếm 58,6% Đột biến xóa

đoạn LREA (exon 19) và đột biến điểm L858R

(exon 21) có tỷ lệ cao nhất, lần lượt là 48,1%

và 40,6% Phát hiện được 2/106 trường hợp là

đột biến kép S768I +V769L (exon 20) và

T790M (exon 20)+L858R (exon 21) Có 4/106 trường hợp đột biến mới chưa công bố là c.2137delA và c.2373_2374delAA (exon 18), c.2499_2521del23 (exon 19) và c.2554/2555ins.ACA (exon 20) (Biểu đồ 1)

Hình 1 Kết quả xác định đột biến L858R exon 21

gen EGFR bằng kỹ thuật giải trình tự gen (A) và Scorpion ARMS (B)

Nhận xét: Hình (A) là kết quả xác định đột

biến L858R exon 21 gen EGFR bằng kỹ thuật giải trình tự gen So sánh với trình tự DNA lành tính, trên exon 21 DNA bệnh nhân ung thư, tại

vị trí nucleotid 2537, T bị biến đổi thành G, làm cho tại codon 858, acid amin leucine (L) bị biến thành arginine (R), gây nên đột biến L858R Hình (B) là kết quả xác định đột biến L858R bằng kỹ thuật Scorpion ARMS thông qua sự hiện diện của đường cong tín hiệu của cặp mồi đột biến L858R bên cạnh đường cong tín hiệu

của cặp mồi nội chuẩn

Đột biến codon 12-13 gen KRAS được phát hiện ở 28/181 bệnh nhân (15,5%) Đột biến codon 12 chiếm ưu thế (82,2%) với các loại đột biến G12A, G12D, G12C, G12S và

Mẫu nội chuẩn

Mẫu bệnh nhân đột biến L858R

(B)

Mẫu bệnh nhân Mẫu người lành

(A) CTG CGG (L858R)

Trang 4

G12V, còn lại là đột biến G13D ở codon 13

(17,8%) (Biểu đồ 2) Không phát hiện được

đột biến kép và đột biến mới tại codon 12 và

13 gen KRAS Có 4/181 trường hợp mang

đồng thời đột biến EGFR và KRAS (Bảng 1)

Biểu đồ 2.Tỷ lệ các loại đột biến gen KRAS

Hiệu quả điều trị erlotinib bước 1

61 bệnh nhân có kết quả xét nghiệm gen

phù hợp với tiêu chuẩn chọn mẫu được chỉ

định điều trị erlotinib bước 1 Tuổi trung bình

của nhóm là 66,16±18,24

Bảng 2 Đáp ứng thực thể của nhóm bệnh nhân điều

trị erlotinib (n=61)

Hoàn toàn 0 0 0 0 1 1,6 1 1,6

Một phần 22 36,1 39 63,9 28 45,9 18 29,5

Giữ nguyên 37 60,6 16 26,2 16 26,2 14 22,9

Tiến triển 2 3,3 6 9,9 16 26,2 28 45,9

ORR 22 36,1 39 63,9 20 47,5 19 31,1

Nhận xét: 1/61 trường hợp đáp ứng hoàn

toàn trong suốt quá trình nghiên cứu Tỷ lệ đáp

ứng (ORR) đạt cao nhất ở tháng thứ 6 (63,9%),

sau đó giảm dần còn 47,5% và 31,1% tương ứng

thời điểm tháng thứ 9 và tháng thứ 12

Bảng 3 Đáp ứng toàn trạng của nhóm bệnh nhân

điều trị erlotinib (n=61)

Chỉ số

Karnofski

Ổn định/Tăng 59 96,7 54 88,5 47 77,0 33 54,1

Giảm 2 3,3 7 11,5 14 23,0 28 45,9

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân có chỉ số

Karnofski ổn định/tăng cao nhất ở thời điểm

tháng thứ 3 sau điều trị và giảm dần theo thời gian, tương ứng với tỷ lệ bệnh nhân tiến triển bệnh

Thời gian điều trị erlotinib trung bình là 9,8 tháng Trung vị PFS là 9,4 tháng (3,2 – 48) và trung vị OS là 15,5 tháng (5,7 – 48) (biểu đồ 3)

Có sự khác biệt có ý nghĩa giữa PFS trung bình

ở nhóm bệnh nhân <65 tuổi là 11,7 tháng và ở nhóm 65 tuổi là 8,2 tháng (p =0,04) nhưng lợi ích này không ghi nhận được ở OS trung bình

Biểu đồ 3 Biểu đồ Kaplan-Meier thể hiện thời gian

PFS (A) và OS (B) của nhóm bệnh nhân điều trị erlotinib

BÀN LUẬN Đột biến gen EGFR và KRAS

Nhiều báo cáo cho thấy đột biến ở exon 18-21 gen EGFR liên quan đến tính đáp ứng với erltinib và gefitinib có tần suất cao

(30-(B) (A)

Trang 5

64%), đặc biệt ở các bệnh nhân UTPKTBN

thuộc chủng tộc Đông Á(13, 15) Tỷ lệ đột biến

gen EGFR trong nghiên cứu này là 58,6%, cao

hơn khi so với các quốc gia Đông Á khác có

thể vì sự khác biệt về chủng tộc và kỹ thuật

xác định đột biến Bệnh nhân trong nghiên

cứu toàn bộ đều là người Kinh tại Việt Nam,

có thể mang tần suất lưu hành đột biến gen

EGFR khác các dân tộc khác trong khu vực

Bên cạnh đó, nghiên cứu này sử dụng kỹ

thuật Scorpion ARMS bổ sung cho kỹ thuật

giải trình tự nên phát hiện được nhiều đột

biến hơn Nghiên cứu PIONEER nhánh Việt

Nam dùng kỹ thuật Scorpion ARMS có độ

nhạy tốt nên phát hiện được tỷ lệ đột biến cao

nhưng lại không xác định được đột biến

mới(15) Ellison và cs cho thấy tỷ lệ đột biến

EGFR là 12,6%, cao hơn so với khi dùng đơn

lẻ kỹ thuật Scorpion ARMS (8,4%) hoặc kỹ

thuật giải trình tự gen (7,9%)(3)

Kết quả nghiên cứu cho thấy đột biến gen

EGFR rất đa dạng, phân bố cả 4 exon, gồm tất cả

các dạng đột biến điểm, xóa đoạn và thêm đoạn

Trong đó, đột biến xóa đoạn LREA exon 19 và

đột biến L858R exon 21 chiếm tỷ lệ cao nhất

(48,2% và 40,7%) Một số đột biến hiếm gặp

chiếm tỷ lệ thấp Tỷ lệ đột biến đôi rất thấp, mỗi

loại chỉ có một trường hợp Phát hiện 4 đột biến

mới, chưa công bố(7), không loại trừ đây là

những đột biến đặc biệt ở người Kinh Bốn đột

biến này xuất hiện với tỷ lệ rất thấp và chưa rõ

có ảnh hưởng đối với thuốc điều trị đích hay

không Việc xác định tính đáp ứng thuốc của

một đột biến mới cần được thực hiện trên mô

hình tế bào và động vật trước khi thử nghiệm

trên người bệnh Mặt khác, với tần suất quá

thấp, việc theo dõi, đánh giá ảnh hưởng của bốn

đột biến này trên một quần thể để có ý nghĩa

thống kê là rất khó khăn

Các đột biến gen EGFR làm tăng tính nhạy

cảm với thuốc EGFR TKIs chiếm 97,0%, trong

khi các đột biến kháng thuốc chỉ có 3,0% Hoàng

Anh Vũ xác định đột biến EGFR trên 71 bệnh

nhân UTPKTBN người Kinh nhưng không phát

hiện trường hợp đột biến kháng thuốc nào(6) 2/3 đột biến kháng thuốc rơi vào hai trường hợp đột biến kép Đột biến S768I + V769L (exon 20) gây kháng thuốc ức chế EGFR đã được công

bố(7) Đột biến T790M (exon 20) + L858R (exon 21) là một trường hợp đột biến đôi phức tạp khi mang đồng thời đột biến gây kháng và tăng nhạy cảm EGFR TKIs Nghiên cứu khả năng

đáp ứng với gefitinib ở cấp độ in vitro của đột

biến T790M + L858R cho thấy tình trạng kháng thuốc mạnh do bộ đôi làm tăng ái lực gắn kết ATP của EGFR gấp 5 lần đột biến L858R(18)

Đột biến codon 12-13 exon 2 trên gen KRAS

đã được chứng minh là yếu tố gây kháng với các thuốc ức chế EGFR(12) Trong nghiên cứu này, tỷ lệ đột biến codon 12-13 là 14,2%, cao hơn

tỷ lệ trên người Trung Quốc và Triều Tiên(16, 17)

có lẽ do nghiên cứu kết hợp hai kỹ thuật giúp tìm ra nhiều đột biến hơn, không loại trừ đột biến gen KRAS có thể phổ biến hơn ở người Kinh Ngoài các yếu tố như chủng tộc, giới tính, thói quen hút thuốc và loại mô bệnh học, tỷ lệ đột biến gen KRAS còn chịu ảnh hưởng bởi yếu

tố kỹ thuật, bao gồm loại mẫu mô, chất lượng mẫu, quy trình tách chiết DNA và loại kỹ thuật dùng để xác định đột biến, tương tự như đột

biến gen EGFR

Các đột biến KRAS phát hiện trong nghiên cứu đều đã được báo cáo và có tỷ lệ tương đồng trên cơ sở dữ liệu COSMIC(7) Một điểm đáng quan tâm là phát hiện đột biến KRAS trong nhóm có mang đột biến EGFR và nhóm không

có đột biến EGFR (Bảng 1) Các nghiên cứu trước đây thường ghi nhận rằng đột biến gen KRAS hiện diện trong những khối u có gen EGFR và ALK bình thường, nói một cách khác

là đột biến KRAS và các đột biến gen khác trong UTPKTBN loại trừ lẫn nhau(19) Tuy nhiên, khi ứng dụng kỹ thuật có độ nhạy cao đã ghi nhận đột biến KRAS gặp trong những trường hợp có đột biến EGFR và là nguyên nhân kháng thuốc nguyên phát(12) Kết quả nghiên cứu cho thấy trong UTPKTBN cần khảo sát đồng thời cả hai

đột biến gen EGFR và KRAS để giúp chọn lựa

Trang 6

bệnh nhân phù hợp cho điều trị đích bằng

erlotinib và gefitinib

Đánh giá hiệu quả điều trị đích erlotinib

bước 1

Ở giai đoạn muộn, việc cải thiện chất lượng

sống được đặt lên hàng đầu, điều trị chủ yếu

nhằm giảm nhẹ triệu chứng và kéo dài OS cho

người bệnh Tỷ lệ đáp ứng ORR trong nghiên

cứu đạt cao nhất là 63,9% vào tháng thứ 6 sau

điều trị Đây là ORR khá cao trong các nghiên

cứu cùng tiêu chuẩn chọn mẫu đã thực hiện tại

Việt Nam và tương đồng với các thử nghiệm

lâm sàng khác trên thế giới(9, 10, 11) Tuy nhiên,

ORR bắt đầu giảm dần, có thể do toàn trạng

người bệnh khi bắt đầu tiếp nhận điều trị kém

(hơn 70% là giai đoạn IV) hoặc gợi ý một tình

trạng kháng thuốc thứ phát Việc tiếp xúc với

erlotinib một thời gian có thể đã kích thích sự

phát sinh một số rối loạn ở cấp độ phân tử gây

kháng thuốc như đột biến T790M (exon 20) gen

EGFR, sự khuếch đại thụ thể MET, tăng biểu

hiện yếu tố phát triển tế bào gan HGF…(1, 4, 20)

Do tại Việt Nam chưa có điều kiện để xác định

các rối loạn di truyền này nên nguyên nhân

bệnh tiến triển sau một thời gian dùng thuốc

vẫn chưa được tìm hiểu rõ Bên cạnh đó, 2 bệnh

nhân có bệnh tiến triển chỉ sau một thời gian

dùng thuốc rất ngắn và đã được xếp vào nhóm

nghi ngờ kháng thuốc nguyên phát Tuy đã loại

trừ đột biến codon12-13 gen KRAS và các đột

biến gen EGFR kháng thuốc, các đột biến gen

EGFR mới, nhưng còn có các biến đổi ở cấp độ

phân tử khác như sự hiện diện của đột biến

codon 600 gen BRAF và phức hợp gen

ALK-EML4 Các rối loạn này, nếu không được xác

định trước khi điều trị đích sẽ gây lãng phí

trong việc điều trị bệnh ung thư Do đó, cần

nhanh chóng xây dựng quy trình kỹ thuật xác

định các rối loạn liên quan đến tình trạng kháng

thuốc điều trị đích

Tỷ lệ bệnh nhân có chỉ số Karnofski ổn

định/tăng đạt cao nhất vào tháng thứ 3 sau điều

trị (96,7%) Chỉ số Karnofsky tăng chứng tỏ toàn

trạng người bệnh khá lên, chất lượng sống có cải thiện Một số bệnh nhân dù đáp ứng chỉ ở

mức bệnh giữ nguyên nhưng về cơ năng dung

nạp thuốc tốt, bệnh nhân cảm thấy đỡ mệt, ăn uống khá hơn Các bệnh nhân điều trị erlotinib bằng đường uống còn tránh được tình mệt mỏi, chán ăn và buồn nôn trong những ngày sau truyền hóa chất

Trung vị PFS và OS trong nghiên cứu lần lượt là 9,4 tháng và 15,5 tháng, tương đồng so với các báo cáo trên thế giới Tỷ lệ bệnh nhân còn sống sau 1 năm trong nghiên cứu là 74,9%, cao hơn của Mok (58%) và của các báo cáo trên nhóm hóa trị truyền thống (khoảng 33%)(13, 14)

Sự khác biệt có lẽ do toàn trạng của người bệnh khi tiếp nhận điều trị cũng như sự phân bố dịch

tễ của quần thể nghiên cứu Tuy nhiên, do nghiên cứu có tỷ lệ phân bố các nhóm đặc điểm tương đối đồng đều, trừ nhóm tuổi ≥65 chiếm

ưu thế, nên chỉ có độ tuổi được ghi nhận là yếu

tố giúp kéo dài thời gian PFS (p=0,04) Lợi ích

này không quan sát được ở OS Tóm lại, trên các

bệnh nhân bước 1 không thể hóa trị, nên xem xét điều trị erlotinib nếu là bệnh nhân châu Á và ung thư thể biểu mô tuyến Tốt nhất là cần có kết quả xét nghiệm đột biến gen EGFR và KRAS trước khi lựa chọn phác đồ điều trị để người bệnh đạt được hiệu quả điều trị tối ưu, tránh những trường hợp điều trị thử, chờ đợi rồi thay đổi phác đồ

So với các phác đồ hóa trị cổ điển, erlotinib được ghi nhận dung nạp tốt hơn và ít các tác dụng phụ ở mức độ trung bình-nặng hơn, đặc biệt trên hệ tạo huyết Nghiên cứu này ghi nhận hai tác dụng phụ gặp nhiều nhất của erlotinib là phát ban thể nổi mụn ở da (52,4%) và tiêu chảy (39,3%), hầu hết là độ I-II, có thể kiểm soát được bằng thuốc bôi ngoài da có corticoid và kháng sinh hoặc giảm liều erlotinib đối với phát ban da

và loperamide đối với tiêu chảy Tác dụng phụ giảm bạch cầu hạt (14,8%) và giảm huyết sắc tố (11,5%) cũng ở mức độ nhẹ Ngoài hiệu quả kháng ung thư tốt, cách dùng thuốc qua đường uống thuận lợi, an toàn hơn cho người bệnh,

Trang 7

tránh được các độc tính tích lũy, nên erlotinib là

liệu pháp điều trị đầy triển vọng cho bệnh nhân

UTPKTBN giai đoạn muộn, nhất là những bệnh

nhân lớn tuổi, toàn trạng không cho phép hóa

trị toàn thân

KẾT LUẬN

Đột biến EGFR và KRAS được phát hiện với

tỷ lệ lần lượt là 58,6% và 15,5% trên bệnh nhân

UTPKTBN, trong đó 2,2% bệnh nhân mang

cùng lúc hai đột biến gen trên gây kháng với

erlotinib Erlotinib cho tỷ lệ đáp ứng cao và kéo

dài thời gian PFS, OS cho bệnh nhân UTPKTBN

giai đoạn muộn có đột biến EGFR

Lời cảm ơn

Nghiên cứu được hỗ trợ kinh phí bởi Đề tài

cấp nhà nước “Nghiên cứu xác định đột biến gen

quyết định tính đáp ứng thuốc trong điều trị ung thư

đại trực tràng và ung thư phổi” Nghiên cứu trân

trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các cán bộ và đồng

nghiệp tại Trung tâm Nghiên cứu Gen-Protein,

Bộ môn Hóa Sinh – Trường ĐH Y Hà Nội và các

Bác sỹ tại khoa Ung bướu BV Hữu Nghị, BV

Bạch Mai và BV K Trung Ương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Balak MN, Gong Y, Riely GJ, Somwar R, Li AR, Zakowski MF

et al (2006) Novel D761Y and common secondary T790M

mutations in epidermal growth factor receptor-mutant lung

adenocarcinomas with acquired resistance to kinase inhibitors

Clin Cancer Res, 12:6494–6501

2 Eisenhauer EA, Therasse P, Bogaerts G et al (2009) New

responses evaluation criteria in solid tumors: Revised RECIST

guildline (version 1.1) Eur J Cancer, 45:228-247

3 Ellison G, Donald E, McWalter G et al (2010) A comparison of

ARMS and DNA sequencing for mutation analysis in clinical

biopsy samples J Exp Clin Cancer Res., 29:132

4 Engelman JA, Zejnullahu K, Mitsudomi T et al (2007) MET

amplification leads to gefitinib resistance in lung cancer by

activating ERBB3 signaling Science, 316, 1039–1043

5 Geoffrey H, Nathan I, Cherny NA et al (1993) Karnofsky

scoring Oxford Textbook of Palliative Medicine, Oxford

University Press, 109

6 Hoàng Anh Vũ, Cao Văn Động, Ngô Thị Tuyết Hạnh và cộng

sự (2011) Đột biến gen EGFR và KRAS trên bệnh nhân ung thư

phổi không tê bào nhỏ Y học TP.Hồ Chí Minh, 15(4):166-172

7 http://cancer.sanger.ac.uk/cancergenome/projects/cosmic/

(accessed 25 June 2014)

8 http://ctep.cancer.gov/protocolDevelopment/electronic_applica tions/ctc.htm (Accessed 6 August 2010)

9 Janne PA, Wang X et al (2012) Randomized Phase II Trial of Erlotinib alone or with Carboplatin and Paclitaxel in patients who were never or light former smokers with advanced lung

adenocarcinoma:CALBG 30406 Trial J Clin Oncol, 30:1-9

10 Lê Thượng Vũ, Trần Văn Ngọc (2013) Kết quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa bằng erlotinib

(Tarceva) tại khoa Phổi BV Chợ Rẫy Y Học TP Hồ Chí Minh,

17(1):105-110

11 Lee SM, Khan I, Upadhyay S et al (2012) First-line erlotinib in

patients with advanced non-small-cell lung cancer unsuitable for chemotherapy (TOPICAL): a double-blind,

placebo-controlled, phase III trial Lancet Oncol, 13(11):1161-70

12 Marchetti A, Milella M, Felicioni L et al (2009) Clinical

implications of KRAS mutations in lung cancer patients treated with tyrosine kinase inhibitors: an important role for mutations

in minor clones Neoplasia, 11(10):1084-92

13 Mok TS, Wu YL, Thongprasert S et al (2009) Gefitinib or

Carboplatin-Paclitaxel in Pulmonary Adenocarcinoma N Eng J

Med., 361(10):947-958

14 Schiller JH, Harrington D, Belani CP et al (2002) Comparison of

four chemotherapy regimens for advanced non-small-cell lung

cancer N Engl J Med., 346:92-98

15 Shi Y, Joseph SA, Sumitra T et al (2014) A Prospective,

Molecular Epidemiology Study of EGFR Mutations in Asian Patients with Advanced Non–Small-Cell Lung Cancer of Adenocarcinoma Histology (PIONEER) J Thor Oncol.,

9(2):154-162

16 Sun J-M, Hwang DW, Ahn JS et al (2013) Prognostic and

predictive value of KRAS mutations in advanced non-small cell

lung cancer PloS ONE, 8(5):e64816

17 Sun L, Zhang Q, Luan H et al (2011) Comparison of KRAS and

EGFR gene status between primary non-small cell lung cancer and local lymph node metastases: implications for clinical

practice J Exp Clin Cancer Res., 30:30

18 Tam IY, Leung EL, Tin VP, et al (2009) Double EGFR mutants

containing rare EGFR mutants types show reduced in vitro response to gefitinib compared with common activating

missense mutations Mol Cancer Ther., 8:2142-2151

19 Tiseo M, Rossi G et al (2009) Predictors of gefitinib outcomes in

advanced non-small cell lung cancer: study of a comprehensive

panel of molecular markers Lung Cancer, 67(3):355-60

20 Yano S, Wang W, Li Q et al (2008) Hepatocyte growth factor

induces gefitinib resistance of lung adenocarcinoma with

epidermal growth factor receptor activating mutations Cancer

Res, 68:9479–87

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 03/12/2015 Ngày bài báo được đăng: 15/04/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 03:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm