1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhân một trường hợp u hắc tố bào ác tính nguyên phát ở hậu môn

4 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 532,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

U hắc tố bào ác tính nguyên phát ở hậu môn hiếm gặp, nhưng là loại diễn tiến sinh học rất xâm lấn. Bệnh này đôi khi trên lâm sàng và nội soi chẩn đoán nhầm với tổn thương lành tính như trĩ. Tuy là u hiếm, những vị trí ống hậu môn là vị trí thường gặp của u hắc tố bào ác tính đường tiêu hóa. Ở đây, chúng tôi báo cáo một trường hợp u hắc tố bào ác tính nguyên phát ở hậu môn.

Trang 1

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 5 * 2015 Nghiên cứu Y học

NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP U HẮC TỐ BÀO ÁC TÍNH NGUYÊN PHÁT

Ở HẬU MÔN

Huỳnh Ngọc Linh*, Hắc Di Yên Gia**, Nguyễn Vũ Thiện***, Hứa Thị Ngọc Hà***

TÓM TẮT

U hắc tố bào ác tính nguyên phát ở hậu môn hiếm gặp, nhưng là loại diễn tiến sinh học rất xâm lấn Bệnh này đôi khi trên lâm sàng và nội soi chẩn đoán nhầm với tổn thương lành tính như trĩ Tuy là u hiếm, nhưng vị trí ống hậu môn là vị trí thường gặp của u hắc tố bào ác tính đường tiêu hóa Ở đây, chúng tôi báo cáo một trường hợp u hắc tố bào ác tính nguyên phát ở hậu môn Trường hợp này, bệnh nhân được phẫu thuật cắt u, đánh giá mô bệnh học và nhuộm hóa mô miễn dịch đã chẩn đoán xác định Chúng tôi cũng đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết của việc chẩn đoán phân biệt với các u ác tính thường gặp khác và các tổn thương dạng u ở hậu môn

Từ khóa: U hắc tố bào ác tính, hậu môn

ABSTRACT

PRIMARY ANAL MALIGNANT MELANOMA: REPORT OF A CASE

Huynh Ngoc Linh, Hac Di Yen Gia, Nguyen Vu Thien, Hua Thi Ngoc Ha

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - No 5 - 2015: 187 - 190

Primary anal malignant melanoma is uncommon but biologically aggressive neoplasm This disease is clinically and endoscopically sometimes mistaken for benign condition as the hemorrhoid Although this tumor is rare, the anal canal is the most frequently site for primary gastro-intestinal melanoma We herein study a case of primary malignant melanoma of the anus In this case, the tumorectomy was performed and the microscopic findings and the immunohistochemistry were found to be useful for diagnosing the melanotic melanoma We also especially emphasize the usefulness of these findings in distinguishing melanotic melanoma from other usual anal tumors and tumor-like lesions

Key words: malignant melanoma, anus

DẪN NHẬP

Melanôm là sự tăng sản ác tính của các tế bào

hắc tố Thường gặp ở những bệnh nhân trên 40

tính ở niêm mạc là thập niên 50-60(2,10) Các vị trí

thường gặp như: mặt (30%), ngoài ra còn có thể

thấy ở tay, thân người Những vị trí hiếm gặp

khác có thể thấy như âm hộ, âm đạo, niêm mạc

miệng, hậu môn, phổi, màng não, thượng thận,

thực quản, trực tràng(4,6,7), trong đó u hắc tố bào

ác tính ở trực tràng hậu môn chiếm 0,2 – 3 % tất

cả melanoma ác và 0,1 – 4,6 % u ác tính ở hậu

môn(10) Chúng tôi trình bày qua bệnh án này là melanôm ác ở hậu môn là một vị trí hiếm gặp

BỆNH ÁN

Bệnh nhân nữ, 68 tuổi, bị đau hậu môn hơn 2 tháng nay Được chẩn đoán trĩ hỗn hợp độ III nên được cho nhập viện để phẫu thuật Khám thực thể, bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, tổng trạng trung bình, sinh hiệu ổn, không sốt, hạch ngoại

vi không sờ thấy Da niêm mạc bệnh nhân hồng bình thường, kết mạc mắt không vàng Hệ tuần hoàn hô hấp bình thường Khám bụng không

* Bộ môn Giải Phẫu Bệnh, Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch TP.HCM

Trang 2

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 5 * 2015

thấy gan lách to và không sờ chạm khối u bất

thường nào Khám tiết niệu sinh dục không phát

hiện bệnh lý

Bệnh nhân được nội soi đại - trực tràng ống

mềm không sinh thiết, chẩn đoán qua nội soi là

trĩ nội xuất ngoại, thuyến tắc hoại tử (soi đến

manh tràng không phát hiện tổn thương khác)

(Hình 1)

Hình 1: Khối u dạng polyp, chồi sùi ra ngoài hậu

môn

Cận lâm sàng

Các chỉ số huyết học, sinh hóa trong giới hạn

bình thường

Siêu âm bụng

Gan bờ đều không tổn thương khu trú Hai

thận không ứ nước, không sỏi Không thấy hạch

dọc động mạch chủ bụng Không phát hiện bất

thường trong siêu âm bụng

Sau đó bệnh nhân được phẩu thuật cắt bỏ

khối u vùng hậu môn

Nghiên cứu mô bệnh học trường hợp này

Mẩu mô phẫu thuật cho thấy sự tân sản các

tế bào lớn, đa diện, dị dạng, xếp thành từng đám

trong mô đệm niêm mạc hậu môn, tế bào u có

bào tương lớn ái toan, có những hạt sắc tố trong

bào tương Rải rác một vài ống tuyến trực tràng

có hình thái bình thường Mẩu mô được nhuộm

hóa mô miễn dịch, thấy kết quả là tế bào u

dương tính với HMB-45 (hình 2, 3, 4)

Hình 2: Các tế bào u, nhân dị dạng, hạt nhân rõ, xếp

thành ổ, có nhiều phân bào, xâm nhập mô đệm và xâm nhập trong lớp thượng mô vùng da hậu môn (nhuộm

HE, x200)

Hình 3: Các tế bào u dương tính với kháng thể kháng

HMB-45 ở bào tương (HMB45 x200)

Kết luận giải phẫu bệnh

U hắc tố bào ác tính ở hậu môn (Malignant Melanoma of the anus)

Trang 3

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 5 * 2015 Nghiên cứu Y học BÀN LUẬN

Melanôm ác là sự tăng sản ác tính của tế bào

hắc tố, đây là những tế bào tạo ra sắc tố melanin

Trong 3 tháng đầu của thai kỳ, tiền thân tế bào

này di trú sang các tổ chức như: da, màng não,

màng niêm mạc, phần trên thực quản và mắt, ở

mỗi vị trí các tế bào này có một khả năng dịch

chuyển sản ác tính nhưng vị trị hay bị chuyển

sản ác tính nhất là da, chiếm 4-5% các ung thư

da Phần lớn melanôm ác xảy ra ở tuổi còn hoạt

động sinh sản, 5 đến 65 tuổi, tuổi trung bình

melanoma ác là 48 thường thấp hơn khi xảy ra ở

trực tràng, phổi, tuyến tiền liệt Melanôm ác gây

tử vong đứng hàng thứ hai sau ung thư máu ở

nam từ 15-34 tuổi ở Hoa Kỳ(8,9,10)

Tỷ lệ mắc mới thực sự của melanoma ác tăng

nhanh hơn các ung thư khác Điều trị melanôm

ác bao gồm việc ngăn ngừa, chẩn đoán sớm và

điều trị lấy triệt để khối u cũng như những di

căn nhiều những di căn nhiều những yếu tố

nguyên nhân liên quan đến sự xuất hiện và phát

triển melanôm ác Vai trò của tia cực tím trong

ung thư da được ghi nhận Tuy nhiên đối với

melanôm ác ở hậu môn thì không thấy đề cập

vai trò của tia cực tím Có sự liên quan giữa sự

chuyển sản ác tính và các yếu tố tuổi tác, tình

trạng hormon, di truyền, môi trường, chấn

thương…, nói chung bệnh sinh của melanôm ác

tính ở hậu môn chưa hoàn toàn rõ ràng(8,10)

Chẩn đoán melanôm ác ở da dễ dàng, ở

các vị trí khác như đường tiêu hoá, trực tràng

và hậu môn khó khăn hơn và đòi hỏi phải nội

trường hợp được báo cáo ở đây, các tác giả đã

truy tìm các dấu hiệu tổn thương da khác

nhưng không tìm thấy

Có nhiều cách phân chia giai đoạn trong

melanôm ác, tiêu biểu nhất là phân loại Clark

trong melanôm ác ở da tuy nhiên khó áp dụng

cho melanôm ác của niêm mạc Còn việc đo bề

dầy Breslow giúp phân giai đoạn và tiên lượng

bệnh (bề dày 2,5 mm tương ứng giai đoạn 3a)

(Hình 4), nhưng thường được áp dụng trong melanôm ác ở da

Còn hai cách phân loại khác có thể áp dụng cho melanôm ác ở vùng hậu môn - trực tràng: Cách thứ nhất là chia thành 3 giai đoạn: giai đoạn I: khi u còn khu trú và có kích thước nhỏ hơn 5cm, giai đoạn II: khi có di căn hạch và giai đoạn III: khi có di căn xa Cách thứ hai: chia thành 4 giai đoạn trong đó giai đoạn I: khi u còn khu trú và có độ sâu dưới 1,5cm, độ II khi u có

độ sâu trên 1,5cm, giai đoạn III: khi có di căn hạch và giai đoạn IV: khi u có di căn xa Cách phân chia giúp cho chúng ta trong việc đánh giá kết quả phẫu thuật hơn là tìm biện pháp mổ vì cách mổ thường dựa nhiều vào kích thước khối

u hơn(1,10) Với melanôm ác tính ở hậu môn cần chẩn đoán phân biệt trên mô bệnh học với các loại ung thư da khác và carcinôm tuyến trực tràng xâm nhập hậu môn, nhờ việc nhuộm hóa mô miễn dịch, tế bào u nguồn gốc hắc tố bào dương tính với kháng thế kháng HMB-45 là yếu tố giúp chẩn đoán xác định(7,11), các điều kiện lành tính khác như trĩ (cũng gây chảy máu hậu môn trực tràng, nhưng có hình ảnh mô học là các búi tĩnh mạch giãn nở, viêm, hoại tử)(8) Ngoài ra, tế bào u cũng dương tính với kháng thể S-100(2)

Phẫu thuật điều trị đối với melanôm ác ở hậu môn đóng vai trò quyết định, bệnh nhân được cắt rộng tại chỗ sau khi có chẩn đoán giải phẫu bệnh, tuy nhiên bệnh có thể tái phát(5,12) Dẫu cho tiến hành nhiều biện pháp điều trị thì melanôm ác vẫn còn là một bệnh khó điều trị nếu u có kích thước lớn Dựa theo kích thước khối u, tử vong sau 10 năm của các khối u có kích thước 3cm và 6cm lần lượt là 10-20%, 45%

và 75%(1,9), u di căn thường vào gan, lách, hạch bẹn, hạch cạnh động mạch, phổi, cột sống, xương sườn, vỏ não(5)

KẾT LUẬN

Đây là một trường hợp bệnh lý ác tính hiếm

Trang 4

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 5 * 2015

bệnh nhân cần được theo dõi thêm về diễn tiến

bệnh

Vai trò của chẩn đoán giải phẫu bệnh là rất

quan trọng, việc chẩn đoán xác định là nhờ sự

trợ giúp của kỹ thuật nhuộm Hóa Mô Miễn

Dịch

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Balicevic D, Tomic K, Bekavac-Beslin M, (2006) Synchronous

anorectal melanoma World J Gastroenterol 12(21): p 3453-5

2 Bosman FT, Carneiro F , Hruban RH, Theise NO (2010).,

Tumours of the anal canal, in: WHO classification of Tumours of

the Digestive System, 4th edition, IARC Press, p 183-193

3 Ceccopieri B, Marcomin AR, Vitagliano F, Fragapane P, (2000)

Primary anorectal malignant melanoma : report of two cases

Tumori 86(4): p.356-8

4 Chen L, Crawford JM, (2005) The Gastrointestinal Tract, in:

Robbins and Cotran Pathologic Basis of Disease, Kumar V.,

Abbas A.K., Fausto N 7 th edition, Elsevier, p 870

5 Felz MW, Winburn GB, Kallab AM, Lee JR (2001) Anal

melanoma: an aggressive malignancy masquerading as

hemorrhoids, South Med J 94(9)

6 Horn RC, Fine G, (1977) Alimentary tract, in: Pathology, Anderson WAD, Kissane JM, 7 th edition, 1977, Mosby company, Volume 2, p.1310

7 Mitros FA, Rubin E, (2007) The Gastrointestinal Tract, in: Rubin's Pathology : Clinicopathologic Foundations of Medicine, Rubin R., David S S., 5 th edition, Lippincott Williams & Wilkins, p 614

8 Odze RO, Noffsinger AE, (2006) Neoplastic diseases of the small and large intestines In: Silverberg’s Principles and Practice of Surgical Pathology and Cytopathology, Silverberg S.G., 4 th edition, 2006, Elsevier, Volume 2, p 1458-9

9 Ojima Y, Nakatsuka H, Haneji H, Kurihara T, (1999) Primary

Anorectal Malignant Melanoma: Report of a Case Surg Today

Jpn J Surg 29:p.170-3

10 Patrick RJ, Fenske NA, Messina JL, (2007) Primary Mucosal

Melanoma J Am Acad Dermatol 56(5):828-34

11 Rosai J (2004), Gastrointestinal Tract, in: Rosai and Ackerman’s Surgical Pathology 9 th edition, Elsevier, Volume 1, p 865

12 Singer M, Mutch MG, (2006) Anal Melanoma, Clinical Colon

Rectal Surgery, 19:78–87

Ngày nhận bài báo: 20/06/15 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/07/2015 Ngày bài báo được đăng: 05/09/2015

Ngày đăng: 15/01/2020, 03:20

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm