1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhân một trường hợp tạo hình niệu đạo ở nữ bằng mảnh ghép niêm mạc má vào mặt lưng niệu đạo

6 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 363,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mảnh ghép niêm mạc má được xem là một tiêu chuẩn vàng trong phẫu thuật tạo hình niệu đạo trong điều trị hẹp niệu đạo hay dị dạng lỗ tiểu đóng thấp phức tạp ở nam. Chúng tôi giới thiệu kỹ thuật của chúng tôi và kết quả điều trị hẹp niệu đạo ở nữ giới bằng mảnh ghép niêm mạc má vào mặt lưng của niệu đạo.

Trang 1

NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP TẠO HÌNH NIỆU ĐẠO Ở NỮ

BẰNG MẢNH GHÉP NIÊM MẠC MÁ VÀO MẶT LƯNG NIỆU ĐẠO

Đỗ Lệnh Hùng*, Dương Hoàng Lân**, Chung Tấn Tinh**, Trần Vĩnh Hưng**

TÓM TẮT

Hẹp niệu đạo ở nữ là một bệnh lý hiếm gặp, nó làm giảm chất lượng sống của bệnh nhân Bệnh thường được chẩn đoán muộn, khi phát hiện bệnh nhân thường đã có triệu chứng tắc nghẽn dòng ra nặng Nguyên nhân gây hẹp niệu đạo ở nữ có thể là do viêm nhiễm, xơ hóa sau đặt thông niệu đạo khó, phẫu thuật ở niệu đạo, chấn thương, hoặc không có nguyên nhân Điều trị ngoại khoa trong những trường hợp này còn nhiều tranh cãi Nó có thể thay đổi từ 1 phẫu thuật ghép vạt niêm âm đạo đến ghép cuống da môi âm đạo bao gồm cả lớp mỡ tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp của bệnh

Mảnh ghép niêm mạc má được xem là một tiêu chuẩn vàng trong phẫu thuật tạo hình niệu đạo trong điều trị hẹp niệu đạo hay dị dạng lỗ tiểu đóng thấp phức tạp ở nam Chúng tôi giới thiệu kỹ thuật của chúng tôi và kết quả điều trị hẹp niệu đạo ở nữ giới bằng mảnh ghép niêm mạc má vào mặt lưng của niệu đạo

Từ khóa: Niệu đạo, hẹp niệu đạo, niêm mạc má, nữ, mãnh ghép

ABTRACTS

CASE REPORT: ONE CASE DORSAL BUCCAL MUCOSA GRAFT URETHROPLASTY FOR FEMALE

URETHRAL STRICTURES

Do Lenh Hung, Duong Hoang Lan, Chung Tan Tinh,Tran Vinh Hung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 298 - 303

Female urethral stricture is rare and decreases quality of life Female urethral stricture is an underdiagnosed and overlooked cause of female bladder outlet obstruction The possible etiologies may be infection, prior dilation, difficult catheterization with subsequent fibrosis, urethral surgery, trauma, or idiopathic Surgical treatment in these cases is still debated It varies from a simple vaginal flap to pedicle labial skin tube urethroplasty wrapped with labial fat or omentum depending on stricture complexity.

Buccal mucosa grapt represents the gold standard for urethral reconstruction in males with complex hypospadias or urethral strictures We present our technique and results of dorsal onlay full thickness vaginal graft urethroplasty for female urethral stricture

Key words: Female, urethral, female urethral strictures, dorsal buccal mucosa graft urethroplasty

MỞ ĐẦU

Hẹp niệu đạo ở nữ là một bệnh lý hiếm

gặp, nó làm giảm chất lượng sống của bệnh

nhân Bệnh thường được chẩn đoán muộn, khi

phát hiện bệnh nhân thường đã có triệu chứng

tắc nghẽn dòng ra nặng Nguyên nhân gây

hẹp niệu đạo ở nữ có thể là do viêm nhiễm, xơ

hóa sau đặt thông niệu đạo khó, phẫu thuật ở

niệu đạo, chấn thương, hoặc không có nguyên nhân Hẹp niệu đạo ở nữ từ lâu đã có nhiều tranh cãi về nguyên nhân sinh bệnh học và những tác động của nó đến triệu chứng đi tiểu của bệnh nhân Một vài nhóm nghiên cứu cho rằng hầu hết các bệnh nhân nữ có hẹp niệu đạo là do nhân viên y tế gây ra và ngoài nguyên nhân xơ niệu đạo do tác nhân tia xạ

*Bộ môn Tiết Niệu Học, ĐHYD TP Hồ Chí Minh **Bệnh viện Bình Dân TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên hệ: Ths.Bs Đỗ Lệnh Hùng ĐT: 0908.144.628 Email: dolenhhung@yahoo.com

Trang 2

còn phải kể đến việc đặt thông niệu đạo kéo

dài hay do các phẫu thuật trong điều trị túi

thừa, rò đường niệu hay các thủ thuật nhằm

chữa tiểu không kiểm soát Thường việc nong

niệu đạo quá tay với nhiều trường hợp tạo xơ

sau đó do chảy máu và thoát mạch là một

trong những nguyên nhân hay gặp nhất trong

nhóm nguyên nhân gây hẹp niệu đạo do nhân

viên y tế Điều trị ngoại khoa trong những

trường hợp này còn nhiều tranh cãi Nó có thể

thay đổi từ 1 phẫu thuật ghép vạt niêm âm

đạo đến ghép cuống da môi âm đạo bao gồm

cả lớp mỡ tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp của

bệnh

Mảnh ghép niêm mạc má được xem là một

tiêu chuẩn vàng trong phẫu thuật tạo hình

niệu đạo trong điều trị hẹp niệu đạo hay dị

dạng lỗ tiểu đóng thấp phức tạp ở nam Ở

nam, tạo hình niệu đạo với mảnh ghép ở mặt

lưng niệu đạo trong điều trị hẹp đã cho thấy

nhiều cải thiện hơn với việc giảm nguy cơ tạo

rò và sự suy yếu mảnh ghép sau đó (thể hiện

bằng túi thừa niệu đạo) Chúng tôi giới thiệu

kỹ thuật của chúng tôi và kết quả điều trị hẹp

niệu đạo ở nữ giới bằng mảnh ghép niêm mạc

má vào mặt lưng của niệu đạo

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

Từ tháng 8 năm 2017 cho đến tháng 11 năm

2017, chúng tôi có điều trị và theo dõi cho 1 bệnh

nhân nữ, 60 tuổi, làm nghề buôn bán, nhà ở quận 1

TP HCM, mắc bệnh hẹp niệu đạo đã được làm tạo

hình niệu đạo sử dụng mảnh ghép niêm mạc má

ghép mặt lưng Bệnh nhân này đến khám vì các

triệu chứng trước phẫu thuật như nhiễm khuẩn

niệu tái phát, tiểu phải rặn, tiểu gắt buốt, tiểu nhỏ

giọt cuối dòng và giảm lưu lượng dòng tiểu

Nguyên nhân gây hẹp có thể do đặt thông

niệu đạo kéo dài (21 ngày) sau phẫu thuật nội soi

ổ bụng cắt túi ngách bàng quang (năm 2006 tại bv

Bình Dân) Bệnh nhân bắt đầu có các triệu chứng

rối loạn đi tiểu nặng dần từ đầu năm 2015, Bn đến

khám ở bv Bình Dân và được chẩn đoán là hẹp

niệu đạo và được cho chỉ định nong niệu đao

bằng Beniquer (20 lần nong) Tất cả các lần điều trị đều thất bại, BN đi tiểu ngày càng khó khăn, nhiễm khuẩn niệu tái diễn nhiều lân và ngày càng nặng BN được theo dõi ổn định tổn thương của niệu đạo hơn 3 tháng trước phẫu thuật

Hình 1 Chụp bàng quang – niệu đao lúc đi tiểu (VCUG)

trước mổ (đơn vị niệu đạo Bv Bình Dân)

Đánh giá ở phòng khám cho thấy miệng niệu đạo thì xơ và hẹp, đường kính miệng niệu đạo ngoài # 1 mm, sờ dọc niệu đạo thấy xơ cứng Để đánh giá độ dài đoạn hẹp, chúng tôi dùng VCUG và chụp niệu đạo – bang quang ngược dòng (UCR) Nước tiểu tồn lưu khoản 200 ml Bệnh nhân không có than phiền tiểu không kiểm soát khi ho hay răn

Kỹ thuật ngoại khoa

Bệnh nhân được gây mê, nằm tư thế lấy sỏi, đặt 1 thông niệu đạo 8Fr Niêm mạc má được lấy

ở phía trong má bên phải Đoạn niêm mạc má dài 7-8 cm và rộng 2-3 cm Bệnh nhân sau đó sẽ được tạo hình niệu đạo bằng cách tiếp cận ở phía lưng của lòng niệu đạo Phần lưng của niệu đạo

sẽ được bộc lộ bằng cách xẻ chữ U ngược bắt đầu từ miệng niệu đạo từ hướng 3 h đến hướng

9 h Niêm mạc của âm hộ sẽ được tách biệt hoàn toàn khỏi niệu đạo và mặt phẳng sẽ được thiếp lập giữa niệu đạo bên dưới và mô thể hang của

âm vật phía trên để niệu đạo hoàn toàn được tự

do Bóc tách phải được làm kỹ càng để tránh tổn

Trang 3

thương vào thân âm vật bằng cách đi sát vào

phân mô xơ của niệu đạo Khi bóc tách phải

nhận ra được phần cơ thắt vân của niệu đạo phải

nâng lên phía trên Bóc tách đến cổ bàng quang

Sau đó niệu đạo sẽ được xẻ từ miệng niệu đạo

đến cổ bàng quang Mép đoạn niệu đạo mặt lưng vừa xẻ được khâu viền liên tục bằng Chromic 5.0 để cầm máu Khi đó đoạn niệu đạo mặt bụng sẽ được thấy rõ qua vết rạch

Hình 2 A: Chụp bàng quang – niệu đạo lúc rặn tiểu B:

Mô tả đoạn hẹp niệu đạo nữa C: Xẻ rộng mặt lưng niệu

đạo D: đắp niêm mạc miệng vào chỗ xẻ rộng

Hình 3 Xẻ rộng mặt lưng niệu đạo đánh dấu

bằng ống 5Fr

Tiếp theo đoạn niêm mạc má được lấy ra sẽ

được khâu vào mép niệu đạo đoạn lưng vừa xẻ

từ bên phải sang bên trái Đoạn niêm mạc này

sau đó sẽ được khâu vào thân âm vật để che

hoàn toàn thành trần của niệu đạo Đoạn xa của

niêm mạc má này sẽ được xẻ đôi để tạo hình

dáng chẻ đôi của miệng niệu đạo bình thường

Sau đó, niêm mạc âm hộ sẽ được cố định lại với

chỉ PDF 5.0

Đặt thông niệu đạo lưu 14Fr (silicon) kẹp

thông không cho nước tiểu qua thông niệu đạo

Đặt mesh âm đạo cầm máu tránh máu tụ và rút

mesh ở ngày đầu hậu phẫu Mở bàng quang ra

da bằng bộ Trocar và lưu thông bàng quang ra

da bằng foley 16Fr

Bệnh nhân sau mổ 4 ngày được cho xuất

viện và sau 21 ngày bệnh nhân được rút thông

niệu đạo Phim VCUG chụp sau đó cho thấy

hình ảnh niệu đạo bình thường

Hình 4 Niêm mạc má được ghép vào mặt lưng

KẾT QUẢ

Phim VCUG sau mổ cho thấy hình ảnh niệu đạo bình thường và không có xì nước tiểu ra

Trang 4

xung quanh Đánh giá niệu động học cho thấy

kết quả bình thường và không ghi nhận được

triệu chứng tiểu không kiểm soát, bệnh nhân có

than phiền về triệu chứng tiểu kích thích nhưng

sau đó triệu chứng này thuyên giảm 1 cách tự

nhiên và hoàn toàn trong vòng 1 tuần, xét

nghiệm nước tiểu sau rút thông niệu đạo và

thông bàng quang ra da 1 tuần cho thấy không

có tình trạng nhiễm khuẩn niệu

Đánh giá niệu động học sau đó bệnh nhân

không có tắc nghẽn dòng ra với Qmax > 12ml/s

Sau 3 tháng bệnh nhân hoàn toàn khoẻ mạnh,

nước tiểu tồn lưu không còn và bệnh nhân hài

lòng về mặt thẩm mỹ

Hình 5 VCUG sau mổ 3 tuần (đơn vị niệu đạo Bv

Bình Dân)

BÀN LUẬN

Gần đây các nghiên cứu về giải phẫu của âm

vật ở phụ nữ bằng chụp MRI, đã bổ sung thêm

các thông tin cho các nghiên cứu về giải phẫu âm

vật trên xác chết Mô cương sáng màu của âm

vật được tìm thấy xung quanh phức hợp niệu

đạo-âm đạo hỗ trợ vững chắc cho mặt lưng của

niệu đạo(6,17) Bóng tiền đình ở 2 bên niệu đạo sẽ

tiếp tục đi về phía trước niệu đạo và gặp nhau ở phần bụng niệu đạo Bóc tách thấy 2 phần này không đi qua phần giữa Vai trò của phần bóng tiền đình chưa được biết rõ trong việc hỗ trợ niệu đạo hay trong việc quan hệ tình dục cho dù gần đây có nhiều nghiên cứu cho thấy vai trò của

nó trong việc đi tiểu tự chủ(8,9,12) Khi tiếp cận vào niệu đạo mặt lưng cần phải chú ý tránh các tổn thương có thể vào các bó sợi thần kinh mạch máu vào âm vật Các bó sợi thần kinh lớn đi dọc theo từ ngành ngồi mu đến mặt phẳng bên dưới xương mu ở đường giữa, từ đó nó chạy dọc theo thân của âm vật cho đến đầu âm vật Cho nên nó nằm ở khá xa vùng bóc tách(20)

Một vài nghiên cứu về mô học, cũng như bóc tách vi phẫu cho thấy lớp cơ của niệu đạo gồm có

2 lớp, 1 lớp cơ dọc trong và 1 lớp vòng ngoài hay 1 lớp cơ chéo Phân cơ của niệu đạo là dày nhất ở đoạn gần cổ bàng quang và giảm dần độ dày khi

đi ra xa 2 lớp cơ này là phần liên tục của lớp cơ bàng quang Phần cơ này khi đi ra 1/4 ngoài niệu đạo sẽ chấm dứt và xen vào đó là các mô xơ, sợi đàn hồi cho đến miệng niệu đạo ngoài(2,19)

Một chú ý nữa khi bóc tách vào đoạn lưng niệu đạo là phần cơ thắt vân niệu đạo sinh dục

Ở đoạn niệu đạo 1/3 ngoài, có lớp cơ thắt ngoài của niệu đạo sắp xếp theo dạng vòng quanh niệu đạo, khi càng đi từ vị trí này ra xa thì lớp cơ này

ở mặt bụng niệu đạo sẽ kéo dài xuống dưới thành lớp cơ vòng quanh thành âm đạo hay có thể đi dọc theo ngành dưới xương mu ở trên tầng sinh môn Như vậy ở niệu đạo đoạn phía ngoài sẽ có sự hoà hợp niệu đạo và thành âm đạo thay vì ở đoạn trong 2 đoạn này tách biệt nhau rõ ràng Ở mặt lưng, niệu đạo ở kề ngày dưới các cấu trúc của âm vật nên cần phải để ý bảo tồn 1 cách cẩn thận khi bóc tách

Trang 5

Các cách tiếp cận dưới xương mu để gỡ dính

niệu đạo hay sau xương mu hay đường âm đạo

để điều trị rối loạn đi tiểu sau phẫu thuật điều trị

tiểu không kiểm soát đã được ủng hộ và cũng có

những kết quả tương tự Với cách tiếp cận như

vậy, việc tiểu không kiểm soát khi gắng sức xảy

ra sau đó cũng hiếm gặp, càng khẳng định rằng

cách tiếp cận mặt lưng niệu đạo không gây ra

tiểu không kiểm soát sau đó

Trong các phương pháp tiếp cận mặt lưng

tạo hình niệu đạo trước đó ở nam, mặt ghép ở vị

trí này được nâng đỡ bởi thể hang và được nuôi

bởi các mạch máu xung quanh thể xốp Nó làm

cho giảm sự suy yếu mảnh ghép (được thể hiện

bởi túi thừa niệu đạo hay rò niệu đạo)

Tương tự với niệu đạo nữ thì phương pháp

tạo hình niệu đạo như vậy cũng làm cho niệu

đạo được nâng đỡ vững chắc, cho phép mảnh

ghép tự thân nó cuộn lại, giảm nguy cơ tăng sinh

mạch máu cũng như giảm khẩu kính của niệu

đạo Hơn nữa, nó còn giúp tránh việc tạo túi ở

phía mảnh ghép (có thể làm giảm chất lượng của

niệu đạo kề bên và làm cho niệu đạo dễ bị hẹp

tái phát) Ghép mảnh ghép ở mặt lưng niệu đạo

làm cho niệu đạo có tính chất sinh lý, làm cho

miệng niệu đạo hướng lên trên thay vì hướng

xuống dưới âm đạo Một lợi ích nữa của việc tạo

hình như vậy là giữ được toàn vẹn niệu đạo

đoạn giữa về phía mặt bụng giúp giảm nguy cơ

tiểu không kiểm soát

Phẫu thuật này nhìn chung dễ dàng thực

hiện cho dù cần phải dùng kính phóng đại

Trong trường hợp hẹp niệu đạo ở đoạn xa hay ở

miệng niệu đạo hay trong trường hợp đoạn hẹp

kéo dài thì với phương pháp phẫu thuật này,

chúng ta được cung cấp thêm 1 lựa chọn nữa có

tính đơn giản, an toàn và hiệu quả, bên cạnh

phẫu thuật tạo hình niệu đạo sử dụng cuống

niêm mạc âm đạo, đặc biệt là trong những trường hợp có mô xơ âm đạo Cần phải có những nghiên cứu lớn hơn có theo dõi kéo dài

để đánh giá xem việc sử dụng mảnh ghép ở đoạn lưng niệu đạo trong điều trị hẹp niệu đạo

nữ có trở thành phương pháp điều trị chính hay không và xét xem về mặt giải phẫu nó có tốt hơn mảnh ghép ở mặt lưng hay không

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ahmed S, Neel KF (1996) Urethral injury in girls with

fractured pelvis following blunt abdominal trauma Br J

Urol;78:450

2 Armenakas NA (2004) Long-term outcome of ventral buccal

mucosal grafts for anterior urethral strictures AUANews;9:17

3 Baggish MS, Steele AC and Karram MM (1999) The relationship of the vestibular bulb and corpora cavernosa to

the female urethra: a microanatomic study J Gynecol

Surg;15:171

4 Barbagli G, Palminteri E, Guazzoni G, Montorsi F,Turini D and Lazzeri M (2005) Bulbar urethroplasty using buccal mucosa grafts placement on the ventral, dorsal or lateral surface of the urethra: are results affected by the surgical

technique? J Urol;174:955

5 Barbagli G, Selli C, Tosto A and Palminteri E (1996) Dorsal

free graft urethroplasty J Urol;155:123

6 Blaivas JG, Heritz DM (1996) Vaginal flap reconstruction of

the urethra and vesical neck in women A report of 49 cases J

Urol; 155:1014

7 Brannan D (1951) Stricture of the female urethra J

Urol;66:242

8 Carr LK, Webster GD (1997) Voiding dysfunction following incontinence surgery: diagnosis and treatment with

retropubic or vaginal urethrolysis J Urol;157:821

9 Falandry L, Liang XL, Seydou M and Alphonsi R (1999) Utilization of a pedicled labial flap, single or double face, for

the management of post-obstetric urethral damage J Gynecol

Obstet Biol Reprod (Paris);28:151

10 Frea B, Maurel A, Kocjancic E, Milocani ML and Meroni T (1994) Radical surgical treatment for female voiding

disorders Urodinamica;4:331

11 Hemal AK, Dorairajan LN and Gupta NP (2000) Post-traumatic complete and partial loss of the urethra with pelvic

fracture in girls: an appraisal of management J Urol;163:282

12 Lyon RP and Tanagho EA (1965) Distal urethral stenosis in

little girls J Urol;93:379

13 Massey JA and Abrams PH (1988) Obstructed voiding in the

female Br J Urol;61:36

14 Montorsi F, Salonia A, Centemero A, Guazzoni G, Nava L, Da Pozzo L, et al (2002) Vestibular flap urethroplasty for strictures of the female urethra: impact on symptoms and

flow patterns Urol Int;69:12

15 Mundy AR (1989) Urethral substitution in women Br J

Urol;63:80

Trang 6

16 Nitti WV and Raz S (1994) Obstruction following

anti-incontinence procedures: diagnosis and treatment with

transvaginal urethrolysis J Urol;152:93

17 O’Connell HE and De Lancey JO (2005) Clitoral anatomy in

nulliparous, healthy, premenopausal volunteers using

unenhanced magnetic resonance imaging J Urol;173:2060

18 Roberts M and Smith P (1968) Non-malignant obstruction of

the female urethra Br J Urol;40:694

19 Tanello M, Frego E, Simeone C, Cosciali Cunico S (2002) Use

of pedicle flap from the labia minora for the repair of female

urethral strictures Urol Int;69:95

20 Virseda Chamorro M, Teba del Pino F and Salinas Casado J (1998) Pressure flow studies in the diagnosis of micturition

disorders in the female Arch Esp Urol;51:1021

Ngày nhận bài báo cáo: 03/01/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 09/01/2018 Ngày bài báo được đăng: 25/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 02:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm