Trung tâm nghiên cứu kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (US Centers for Disease Control) đã thống kê tỉ lệ người lớn ≥ 20 tuổi bị béo phì là 39,8% và bị thừa cân (bao gồm cả béo phì) là 71,6%(15) do thiếu tập luyện và chế độ ăn uống không lành mạnh. Năm 2015, theo báo cáo của Cục y tế dự phòng, tỉ lệ người Việt Nam trưởng thành bị thừa cân béo phì là 25%.
Trang 1HIỆU QUẢ VÀ TÍNH AN TOÀN CỦA PHƯƠNG PHÁP TIÊM
GIẢM MỠ DƯỚI DA: TỪ CƠ CHẾ ĐẾN ĐIỀU TRỊ
VÀ CÁC CHỨNG CỨ HIỆN TẠI
Lê Thái Vân Thanh*, Phan Ngọc Huy*, Nguyễn Thị Hồng Chuyên*, Văn Thế Trung*
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trung tâm nghiên cứu kiểm soát bệnh tật
Hoa Kỳ (US Centers for Disease Control) đã
thống kê tỉ lệ người lớn ≥ 20 tuổi bị béo phì là
39,8% và bị thừa cân (bao gồm cả béo phì) là
71,6%(15) do thiếu tập luyện và chế độ ăn uống
không lành mạnh Năm 2015, theo báo cáo của
Cục y tế dự phòng, tỉ lệ người Việt Nam trưởng
thành bị thừa cân béo phì là 25% Chính vì vậy,
nhu cầu giảm mỡ trở nên thời sự hơn bao giờ
hết Trong các phương thức giúp tiêu giảm mỡ
dưới da, tiêm các hoạt chất có tác dụng ly giải
mỡ ngày càng trở nên phổ biến hơn
TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP TIÊM
GIẢM MỠ DƯỚI DA
Sơ lược về lịch sử
Phương pháp tiêm giảm mỡ dưới da được
biết đến nhờ Patricia Rittes(10), ông là một bác sĩ
da liễu ở bang Sao Paolo – Brazil, sau khi báo cáo
điều trị thành công bọng mắt ở mi dưới với tiêm
trực tiếp dưới da thuốc Lipostabil® Lipostabil®
được sản xuất bởi Sanofi-Aventis (Paris, Pháp)
và được thương mại để sử dụng đường tĩnh
mạch ở Châu Âu, Nam Mỹ và Nam Phi để điều
trị rất nhiều bệnh lý liên quan đến béo phì (rối
loạn lipid máu, đau thắt ngực, bệnh lý mạch
máu do đái tháo đường) Lipostabil® có các
thành phần chính gồm phosphatidylcholine (PC)
dẫn xuất từ đậu nành (5%), sodium
deoxycholate (DC) (2,5%), tocopherol (vitamin E)
và benzyl alcohol Sau đó, phương pháp điều trị
này tiếp tục được báo cáo bởi một số tác giả
khác(3,13,14,16) sử dụng Lipostabil, hợp chất PC/DC
hoặc DC đơn thuần để giảm mỡ ở vùng hông,
bụng, lưng, cổ gáy
Định nghĩa và phân loại
Cơ chế cơ bản của phương pháp tiêm giảm
mỡ dưới da là sự hoạt hóa quá trình ly giải tế bào
mỡ với mục đích làm giảm mô mỡ khu trú dưới
da nhằm cải thiện tính thẩm mỹ Các thuốc dùng giảm mỡ đường tiêm dưới da có thể phân thành hai nhóm chính:
Nhóm kích thích quá trình ly giải mỡ
Nhóm này đã được thử nghiệm trên nhiều nghiên cứu in vitro và in vivo Trong hơn 20 năm qua, quá trình sinh hóa của ly giải mỡ đã được định nghĩa ngày càng rõ ràng hơn Trong
đó, có ít nhất ba con đường kích thích quá trình
ly giải mỡ, bao gồm: (i) ức chế men phosphodiesterase hoặc thụ thể adenosine; (ii) hoạt hóa thụ thể β-adrenergic và (iii) ức chế thụ thể α-2 của tế bào mỡ Các thuốc tiêu biểu của nhóm này là aminophylline, isoproterenol và yohimbine
Aminophylline
Trong một thử nghiệm ở 5 phụ nữ béo phì(4), aminophylline 10% dạng mỡ được bôi ở 1 bên đùi và mỡ không hoạt tính bôi ở bên còn lại 5 ngày/ tuần trong 4 tuần Kết quả cho thấy vòng đùi ở bên điều trị với aminophylline giảm nhiều hơn bên nhóm chứng là 1,5 ± 0,77cm (p<0,02) Trong một thử nghiệm mù đôi khác gồm 12 bệnh nhân sử dụng aminophylline 0,5% dạng kem ở 1 bên đùi, kết quả cho thấy bên đùi điều trị với kem aminophylline 0,5% giảm nhiều hơn
có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng và không có tác dụng phụ đáng kể nào(5) Một nghiên cứu khác tiến hành trên 25 bệnh nhân và
25 nhóm chứng với cùng các chỉ số sinh trắc học,
* Bộ môn Da Liễu, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2kem aminophylline 0,5% được dùng để điều trị
ở vùng hông kết hợp với chế độ ăn kiêng 1200
kcal/ngày và chương trình tập thể dục Sau 12
tuần, chỉ số BMI ở hai nhóm giảm khác nhau
không có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên, vòng eo
của nhóm điều trị với aminophylline giảm nhiều
hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (11
± 1,0 cm và 5,0 ± 0,6cm, p < 0,001)(1)
Các thuốc khác như isoproterenol và yohimbine
Đều cho thấy có hiệu quả làm giảm chu vi
vòng đùi khi dùng đường tiêm hoặc đường thoa,
tuy nhiên cỡ mẫu của các thử nghiệm này đều
rất nhỏ nên cần những nghiên cứu lớn hơn với
thiết kế tốt hơn để xác định chính xác tính hiệu
quả của những thuốc này
Nhóm ly giải mỡ trực tiếp
Cơ chế cơ bản của nhóm này là phá hủy trực
tiếp các tế bào mỡ bằng cách ly giải màng tế bào
Các thuốc thường được sử dụng nhất trong
nhóm này là hỗn hợp PC và DC, gần đây hơn là
DC đơn độc Đến hiện tại vẫn chưa có quy trình
chuẩn điều trị cho nhóm này về độ sâu khi tiêm,
khoảng cách giữa các vị trí tiêm và các lần tiêm
Hầu hết các khuyến cáo đều dựa trên kinh
nghiệm điều trị cá nhân
Phosphatidylcholine (PC)
PC là một phospholipid dẫn xuất từ
lecithin (Hình 1), là thành phần quan trọng
trong màng tế bào người, ngăn chặn tích tụ
mỡ PC đang được dùng để điều trị các bệnh
gan liên quan đến đường mật, thiếu máu cơ
tim và suy giảm trí nhớ PC tồn tại trong môi
trường nước dưới dạng túi lipid kép, đầu ưa
nước ở trung tâm và bên ngoài được bao
quanh bởi một vòng ưa mỡ hoặc với nồng độ
cao hơn thì ở dạng micelle với trung tâm kị
nước PC ở dạng micelle hoặc dạng lipid kép
đóng vai trò rất quan trọng trong việc chuyên
chở triglyceride giải phóng từ các tế bào mỡ
PC có 3 vai trò quan trọng trong cơ thể
người: (i) nhũ tương hóa các chất béo trong
mật, (ii) cùng với apolipoproteins chuyển hóa
cholesterol, (iii) thành phần quan trọng của màng tế bào
Cơ chế của PC trong phương pháp tiêm giảm mỡ dưới da được giả thuyết là khởi phát quá trình chết theo chu trình (apoptosis) và hoạt hóa men lipase Sau đó, giả thuyết này được chứng minh qua nghiên cứu sinh thiết
mô mỡ trước và sau điều trị với PC hòa tan trong DC cho thấy thành tế bào mỡ bị phá hủy
và tạo phản ứng viêm, hình thành mô sẹo và làm săn chắc da(11) Ngoài ra, các nghiên cứu quan sát cho thấy hỗn hợp PC/DC làm giảm
độ nặng của quá trình hoại tử mỡ cũng như hình thành sẹo so với DC đơn lẻ(14) Mặc dù cơ chế vẫn chưa rõ, giả thuyết được cho là (i) PC giúp tăng hoạt tính của DC vì hỗn hợp PC-DC
có pH gần với mô người hơn so với DC đơn độc, (ii) PC hoạt động như chất chuyên chở
DC khi tạo nên các liên kết hóa học giúp DC thẩm thấu tốt hơn vào nơi tiêm, (iii) PC hoạt động như chất điều hòa làm giảm nhẹ quá trình hoại tử mô mỡ Dựa trên những giả thuyết này, DC được khuyến cáo dành cho các
mô mỡ nhỏ khu trú trong khi hỗn hợp PC-DC thì dành cho những vùng rộng hơn
Năm 2018, tác giả Jung và cs(8) đã tiến hành thí nghiệm in vitro trên các tế bào 3T3-L1 biệt hóa và in vivo trên chuột béo phì Nhóm tác giả gợi ý rằng PC khởi phát quá trình ly giải tế bào
mỡ và chu trình chết theo tự nhiên phụ thuộc vào liều của PC Ngoài ra, PC còn làm tăng sự biểu hiện của yếu tố hoại tử bướu-α (TNF-α) và tẩm nhuận tế bào bạch cầu đa nhân trung tính vào mô
Hình 1 Cấu trúc hóa học của Phosphatidylcholine
Trang 3Deoxycholate (hoặc deoxycholic acid) (DC)
DC là một chất tan trong nước Trong cơ thể,
DC tồn tại trong axít mật ở ruột để nhũ tương
hóa chất béo DC có thể tồn tại dưới 4 dạng:
micelle, dạng túi, đơn phân và tinh thể (Hình 2)
DC ở dạng đơn phân hoặc dạng tinh thể có thể
gây tổn thương trực tiếp lên tế bào, nhưng ở
dạng micelle thì DC giúp hòa tan các chất béo
giải phóng từ tế bào mỡ Dạng hoạt động của DC phụ thuộc hầu hết vào nồng độ của DC trong chế phẩm tiêm
Các nghiên cứu sử dụng DC với nồng độ
tăng dần tác động lên tế bào mỡ người in vitro
cho thấy có sự tăng không tuyến tính của glycerol, điều này gợi ý có sự tham gia của enzyme ly giải mỡ phóng thích bởi các tế bào khác trong quá trình ly giải tế bào Giả thuyết này sau đó được chứng minh bằng thí nghiệm cấy tế bào, DC không chỉ ly giải các tế bào mỡ
mà cũng tác động lên nguyên bào sợi, tế bào nội
mô và tế bào cơ(6) Dựa trên giả thuyết này và các kết quả của các thử nghiệm lâm sàng(3,6,12), tác động ly giải tế bào của DC là không đặc hiệu, do
đó việc tiêm DC vào các mô không phải mỡ (da,
cơ, thần kinh) có thể dẫn đến nhiều tác dụng phụ khác
Đa số các thuốc trên thị trường hiện nay đều
sử dụng hỗn hợp PC và DC, chính vì vậy việc
đánh giá hiệu quả của từng chất vẫn thật sự khó
khăn Mãi đến năm 2010, Palumbo và cs(9) nghiên
cứu in vitro cho thấy PC hòa tan trong dầu
khoáng không gây nên hiện tượng ly giải tế bào
mỡ, do đó DC được cho là thành phần hoạt tính
có tác dụng ly giải tế bào mỡ Yagima Odo và
cs(17) đã tiến hành nghiên cứu trên 30 bệnh nhân
tình nguyện điều trị với DC 1%, DC 2,5% và điều
trị placebo ở vùng bụng dưới rốn mỗi 2 tuần
trong 8 tuần Sau đó bệnh nhân được tiến hành
sinh thiết vùng tiêm sau 6 tháng Giải phẫu bệnh
vùng tiêm sau 6 tháng cho thấy vẫn còn hiện
tượng viêm với tẩm nhuận chủ yếu các tế bào lympho đơn nhân, hiện tượng xơ hóa với tăng
sinh các nguyên bào sợi (Hình 3)
ĐIỀU TRỊ GIẢM MỠ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TIÊM DƯỚI DA
Các vùng chỉ định điều trị
Chỉ định chính của tiêm giảm mỡ dưới da là giảm mỡ thừa ít hoặc trung bình Các tình trạng rối loạn phân bố trên diện rộng cần được điều trị bằng phẫu thuật(2) Một số vùng đáp ứng tốt với chỉ định tiêm giảm mỡ dưới da như:
Bụng: 78,7% kết quả đáp ứng tốt đã được báo cáo
Hông: 42,7% trường hợp đạt kết quả tốt đã
Hình 3 Mô bệnh học: Mô mỡ trước điều trị và sau 6 tháng điều trị với hiện tượng viêm và xơ hóa
Hình 2: Cấu trúc hóa học của Natri deoxycholate
Trang 4được báo cáo
Nọng cằm: Mỡ thừa vùng nọng cằm khiến
vùng mặt bệnh nhân có cằm đôi Năm 2015, tiêm
giảm mỡ vùng nọng cằm trung bình đến nặng
đã được Cục Quản Lý Dược Phẩm và Thực
Phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận(19) điều trị với
thuốc Kybella (deoxycholic acid)
Ngoài ra, chỉ định tiêm giảm mỡ ở các
vùng mỡ thừa khác ở mặt như: má, ngạnh
hàm là chỉ định off-label Hiệu quả khác nhau
tùy theo chỉ định tùy bác sĩ lâm sàng và không
có kỹ thuật tiêm được chuẩn hóa ở những
vùng này Một số chỉ định khác được báo cáo
với tính hiệu quả tương đối khác nhau như:
lưng, vùng áo ngực, đùi ngoài và đùi trong,
cổ, đầu gối và vùng cơ mông
Chống chỉ định
Phụ nữ mang thai, cho con bú
Trẻ em <18 tuổi
Dị ứng đậu nành, một số thành phần có công
thức giống benzyl alcohol
Bệnh nhân đái tháo đường, bệnh nhân đang
điều với thuốc kháng đông, hóa trị
Nhiễm trùng da tại vùng tiêm
Bệnh nhân có mong đợi quá mức hoặc mong
đợi giảm cân nhanh chóng
Tính an toàn của thuốc hiện nay
Ngày nay, nhu cầu giảm mỡ xấm lấn tối
thiểu ngày càng cao, chính vì vậy, có rất nhiều
nghiên cứu báo cáo về tính hiệu quả giảm mỡ
tại chỗ bằng phương pháp tiêm dưới da Tuy
nhiên, lại có khá ít các báo cáo về tính an toàn
của phương pháp này Hầu hết các tác dụng
phụ được báo cáo thường nhẹ và thoáng qua,
thường là:
Đau sau tiêm: đa số bệnh nhân than phiền
đau trong lúc tiêm và sau khi tiêm
Hồng ban: thường xảy ra 30 phút sau tiêm
Châm chích và bỏng rát: thường xảy ra ngay
sau tiêm hoặc 1 giờ sau tiêm, hiếm khi kéo dài
quá 24 giờ
Sưng: đây cũng là một trong các biến chứng thường gặp sau tiêm
Bầm: thường xảy ra trong vòng 1 tuần sau tiêm Ít trường hợp kéo dài quá 2 tuần
Nôn ói và tiêu chảy: đây là một tác dụng phụ
ít gặp, thường xảy ra trong vòng 24 giờ sau tiêm
và ít khi kéo dài quá 48 tiếng
U máu nhỏ sau tiêm: xảy ra từ 1 giờ tới 1 tuần sau tiêm Tác dụng phụ này tự hết mà không cần điều trị
Mày đay dị ứng: xảy ra 24 giờ sau tiêm, cải thiện sau khi dùng diphenhydramine Hạn chế chỉ định tiêm giảm mỡ trên những bệnh nhân bị
dị ứng
Choáng váng, nhức đầu nhẹ: Hiếm gặp Khoảng 34,6% các nhà lâm sàng có ghi nhận khoảng 5% trường hợp bệnh nhân của họ Các biến chứng của phương pháp tiêm giảm
mỡ dưới da rất ít Yagima Odo và cs(17) đã tiến hành nghiên cứu trên 30 bệnh nhân tình nguyện được chia đều làm 3 nhóm, lần lượt là điều trị với DC 1%, DC 2,5% và điều trị placebo ở vùng bụng dưới rốn mỗi 2 tuần trong 8 tuần Sau đó bệnh nhân được tiến hành đo các xét nghiệm sinh hóa trước-sau điều trị 2,4,6,8 và 12 tuần Kết quả cho thấy không có biến chứng hệ thống nào xảy ra ở tất cả các phiên điều trị, tác dụng phụ tại chỗ chủ yếu bao gồm đau vết tiêm, hồng ban, sưng nề vùng tiêm với cả 2 nồng độ của DC Năm 2006, một nghiên cứu hồi cứu 17367 bệnh nhân cũng chưa ghi nhận trường hợp nào tử vong hay phải nhập viện(2) Tuy nhiên đến năm
2013, tác giả Ruha(18) báo cáo 1 ca lâm sàng suy đa
cơ quan ngay sau 1 liệu trình tiêm giảm mỡ và tiến triển nặng với tình trạng tổn thương thận cấp, viêm tụy cấp và viêm gan cấp Sau đó, bệnh nhân được điều trị bảo tồn và lọc máu Sau 6 tuần, bệnh nhân hồi phục hoàn toàn Ngoài ra, các biến chứng thường gặp nhất là: tăng sắc tố, ngứa kéo dài, nổi mày đay, đau kéo dài quá 2 tuần có đáp ứng kém hoặc không đáp ứng điều trị, nhiễm trùng, viêm da kích ứng kéo dài, hoại
tử vùng tiêm
Trang 5Tính hiệu quả của thuốc tiêm giảm mỡ dưới da
Phương pháp tiêm giảm mỡ dưới da đã
được thử nghiệm lâm sàng cho nhiều vùng khác
nhau trên cơ thể và hầu hết các báo cáo đều cho
thấy có hiệu quả
Duncan và cs(3) đã tiến hành thử nghiệm trên
20 bệnh nhân có mỡ thừa vùng hông lưng với
hỗn hợp PC và DC 2 lần mỗi 4 tuần Kết quả
nghiên cứu được đánh giá sau 6 tuần kể từ lần
tiêm cuối cùng Sau nghiên cứu, tất cả bệnh nhân
đều thể hiện tỉ lệ hài lòng cao với liệu trình điều
trị Kết quả nghiên cứu được đánh giá bằng hình
ảnh với sự cải thiện rõ rệt trước và sau khi điều
trị cũng như sự đánh giá cao của bệnh nhân với
liệu trình điều trị này
Chỉ định điều trị tiêm giảm mỡ vùng bọng
mắt mi dưới là một chỉ định đáng quan tâm vì
bọng mắt mi dưới làm cho khuôn mặt bệnh
nhân trông mệt mỏi, ảnh hưởng đến tính thẩm
mỹ của bệnh nhân Tác giả Treacy và cs(16) đã tiến
hành thử nghiệm điều trị trên 21 bệnh nhân có
vấn đề bọng mắt mi dưới Bệnh nhân được tiêm
0,4 ml PC (250mg/5ml) một bên mắt mỗi 6 tuần
và kết quả được đánh giá sau 6 tuần Kết quả thử
nghiệm cho thấy có hơn 75% bệnh nhân hài lòng
với sự cải thiện bọng mắt sau ít nhất 2 đợt điều
trị Tác dụng phụ chủ yếu là sưng nề thoáng qua
trong 3-5 ngày và giảm mỡ bọng mắt không cân
xứng giữa hai bên Sau 6 tháng theo dõi, không
có bệnh nhân nào bị bọng mắt tái phát trở lại
Một nghiên cứu khác của Salti và cs(14) mở
rộng vùng điều trị tiêm giảm mỡ dưới da đến
vùng mông đùi ở 37 phụ nữ trong một nghiên
cứu ngẫu nhiên, mù đôi Trong nghiên cứu này,
hỗn hợp PC/DC được ngẫu nhiên tiêm vào một
đùi và thuốc DC đơn thuần được tiêm vào đùi
còn lại Liều tiêm hỗn hợp PC/DC và DC đơn
thuần lần lượt là 1000/500mg và 475mg Sau 4
liệu trình cách nhau mỗi 8 tuần, 91,9% bệnh
nhân thấy được sự cải thiện Chu vi vòng đùi
trung bình của nhóm nghiên cứu giảm từ
58,48cm xuống 54,70cm (khoảng 6,46%) ở bên
đùi điều trị với hỗn hợp PC/DC và 58,67cm
xuống 54,70cm (khoảng 6,77%) ở bên còn lại
Đánh giá trên siêu âm cho thấy độ dày của lớp
mỡ giảm trung bình khoảng 36,87% ở bên đùi điều trị với hỗn hợp PC/DC và 36,06% ở bên đùi còn lại Tuy nhiên, điểm hạn chế của nghiên cứu này là hầu hết bệnh nhân đều giảm cân sau liệu trình, vì vậy kết quả có thể bị sai lệch do bệnh nhân giảm cân
Đến thời điểm hiện tại, nọng cằm là chỉ định duy nhất được FDA công nhận điều trị tiêm giảm mỡ dưới da Humphrey và cs(7) đã tiến hành nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng pha III (nghiên cứu REFINE-2) với thuốc ATX-101 (deoxycholic acid) ở 516 bệnh nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy sau tối đa 6 phiên điều trị cách nhau 1 tháng, 66,5% nhóm bệnh nhân điều trị với ATX-101 đạt được ít nhất 1 điểm cải thiện
so với 22,2% ở nhóm chứng (p<0,001) Trong số
đó, dựa trên kết quả MRI đo độ dày lớp mỡ dưới cằm, có đến 40,2% bệnh nhân điều trị với
ATX-101 giảm ít nhất 10% tổng thể tích mô mỡ dưới cằm so với 5,2% nhóm chứng (p<0,001) Ngoài
ra, bệnh nhân ở nhóm điều trị với ATX-101 cũng cho thấy có sự cải thiện về mặt tâm lý tốt hơn có
ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (p<0,001) dựa trên thang điểm của nghiên cứu Chính vì vậy, tác giả của nghiên cứu này đề xuất ATX-101 như là một liệu pháp xâm lấn tối thiểu để điều trị nọng cằm
KẾT LUẬN
Tiêm giảm mỡ dưới da là một phương pháp xâm lấn tối thiểu tiềm năng để điều trị các vấn
đề về tích tụ mỡ khu trú ở một số vùng trên cơ thể Chỉ định duy nhất được Cục quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ chấp thuận là điều trị nọng cằm với thuốc Kybella, các chỉ định khác đều chưa được chấp thuận Mặc dù phương pháp này hiện đang được sử dụng khá phổ biến, mức độ chứng cứ về tính an toàn và hiệu quả vẫn còn cần được xác thực thông qua các nghiên cứu được thiết kế chặt chẽ hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Caruso MK, Pekarovic S, Raum WJ et al (2007) Topical fat
reduction from the waist Diabetes Obes Metab, 9(3): 300-3
2 Duncan DI, Chubaty R (2006) Clinical safety data and standards
Trang 6of practice for injection lipolysis: a retrospective study Aesthet
Surg J, 26(5): 575-85
3 Duncan D, Rubin JP, Golitz L et al (2009) Refinement of
technique in injection lipolysis based on scientific studies and
clinical evaluation Clin Plast Surg, 36 (2): 195-209
4 Greenway FL, Bray GA (1987) Regional fat loss from the thigh
in obese women after adrenergic modulation Clin Ther, 9(6):
663-9
5 Greenway FL, Bray GA, Heber D (1995) Topical fat reduction
Obes Res, 3 (4): 561-568
6 Gupta A, Lobocki C, Singh S et al (2009 Actions and
comparative efficacy of phosphatidylcholine formulation and
isolated sodium deoxycholate for different cell types Aesthetic
Plast Surg, 33(3): 346-52
7 Humphrey S, Sykes J, Kantor J et al (2016) ATX-101 for
reduction of submental fat: A phase III randomized controlled
trial J Am Acad Dermatol, 75(4): 788-797
8 Jung TW, Kim ST, Lee JH et al (2018) Phosphatidylcholine
Causes Lipolysis and Apoptosis in Adipocytes through the
Tumor Necrosis Factor Alpha-Dependent Pathway
Pharmacology, 101(3-4): 111-119
9 Palumbo P, Melchiorre E, La Torre C et al (2010) Effects of
phosphatidylcholine and sodium deoxycholate on human
primary adipocytes and fresh human adipose tissue Int J
Immunopathol Pharmacol, 23(2): 481-9
10 Rittes PG (2001) The use of phosphatidylcholine for correction of
lower lid bulging due to prominent fat pads Dermatol Surg,
27(4): 391-2
11 Rittes PG, Rites C (2009) Treatment of aging neck with
Lipostabil Endovena J Drugs Dermatol, 8(10): 937-9
12 Rotunda AM, Suzuki H, Moy RL et al (2004) "Detergent effects
of sodium deoxycholate are a major feature of an injectable phosphatidylcholine formulation used for localized fat
dissolution" Dermatol Surg, 30(7): 1001-8
13 Rotunda AM, Weiss SR, Rivkin LS (2009) Randomized double-blind clinical trial of subcutaneously injected deoxycholate versus a phosphatidylcholine-deoxycholate combination for the
reduction of submental fat Dermatol Surg, 35(5): 792-803
14 Salti G, Ghersetich I, Tantussi F et al (2008) Phosphatidylcholine and sodium deoxycholate in the treatment of localized fat: a
double-blind, randomized study Dermatol Surg, 34 (1): 60-6
15 Statistics NcfH (2016) Obesity and Overweight 2015-2016 URL:
https://www.cdc.gov/nchs/fastats/obesity-overweight.htm
16 Treacy PJ, Goldberg DJ (2006) Use of phosphatidylcholine for
the correction of lower lid bulging due to prominent fat pads J Cosmet Laser Ther, 8(3): 129-32
17 Yagima Odo ME, Cuce LC, Odo LM, et al (2007) Action of sodium deoxycholate on subcutaneous human tissue: local and
systemic effects Dermatol Surg, 33(2): 178-88; discussion 188-9
18 Ruha AM (2013) Multisystem Organ Failure Following
LipoDissolve Injections Clinical Toxicology, 3: 2161-0495
Ngày nhận bài báo: 30/11/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019