1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tạo cầu nối động tĩnh mạch ở đùi để chạy thận nhân tạo chu kỳ - giải pháp thực hiện thất bại ở chi trên

5 149 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 376,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đường vào mạch máu để chạy thận nhân tạo (CTNT) ở chi trên là lựa chọn tối ưu, tuy nhiên khi thất bại thì đặt graft ở đùi là một lựa chọn. Bài viết đánh giá kết quả bước đầu, các tai biến – biến chứng đặt cầu nối động tĩnh mạch bằng mạch nhân tạo (graft) ở đùi để chạy thận nhân tạo chu kỳ.

Trang 1

TẠO CẦU NỐI ĐỘNG TĨNH MẠCH Ở ĐÙI

ĐỂ CHẠY THẬN NHÂN TẠO CHU KỲ - GIẢI PHÁP THỰC HIỆN THẤT BẠI Ở CHI TRÊN

Trương Hoàng Minh*, Nguyễn Phước Hải**, Lê Thị Nghĩa**, Lê Thị Hồng Đào**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Đường vào mạch máu để chạy thận nhân tạo (CTNT) ở chi trên là lựa chọn tối ưu, tuy nhiên

khi thất bại thì đặt graft ở đùi là một lựa chọn

Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu, các tai biến – biến chứng đặt cầu nối động tĩnh mạch bằng mạch

nhân tạo (graft) ở đùi để chạy thận nhân tạo chu kỳ

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả 2 ca lâm sàng không thực hiện được đường vào mạch máu

ở chi trên tại Bệnh viện Nhân Dân 115

Kết quả: Có 2 bệnh nhân nam đặt mạch máu nhân tạo bằng polytetrafluoroethylene (PTFE) ở đùi phải, đã

mổ tạo đường vào mạch máu ở chi trên 8 - 10 lần với thời gian sử dụng là 5 – 10 năm, không có chỉ định hoặc đã làm thẩm phân phúc mạc thất bại Đường kính mạch máu nhân tạo đùi là 0,6 cm chiều dài là 18 – 20 cm dạng quai với thời gian mổ là 90 -80 phút, thời gian sử dụng mạch máu nhân tạo là 4 tuần sau mổ Lưu lượng mạch máu nhân tạo/siêu âm 700 -850 ml/phút Tuổi thọ mạch máu nhân tạo 7 - 4 tháng (hiện còn) Chưa ghi nhận biến chứng nhiễm trùng, tắc hay thiếu máu chi dưới mạch máu nhân tạo

Kết luận: Đặt mạch máu nhân tạo ở đùi để CTNT là lựa chọn khi không thể tạo đường vào mạch máu ở chi

trên Mạch máu nhân tạo dạng quai đường kính 0,6 cm, dài 18-20 cm nối giữa động mạch đùi và tĩnh mạch đùi chung cho kết quả tốt, ít biến chứng

Từ khóa: cầu nối động tĩnh mạch (mạch máu nhân tạo) ở đùi, chạy thận nhân tạo

ABSTRACT

ARTERIOVENOUS GRAFT IN THE THIGH FOR HEMODIALYSIS: A SOLUTION WHEN ARM

VASCULATURE IS EXHAUSTED

Truong Hoang Minh, Nguyen Phuoc Hai, Le Thi Nghia, Le Thi Hong Dao

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3 - 2019: 161 – 165

Background: Vascular access in the upper limb is a primary choice, however arm vasculature is exhausted,

arteriovenous grafts in the thigh is a second choice

Objective: Evaluate the initial results and the complications of the grafts in the thigh for hemodialysis Methods: Report cases are exhausted with vascular access in the upper limb at 115 people’ Hospital

Results: 2 patients (males) with grafts in the right thigh, who was operated 8 – 10 times with vascular

access from 5 to 10 years in the upper limb The patient does not indication with continuous ambulatory peritoneal dialysis (CAPD) The diameter of graft is 0.6 centimeter and the length of graft is 18 - 20 centimeter with ansa model Duration of operation is 90 – 80 minutes and duration to use graft is 4 weeks after operation Debit of graft/ultra-sound is 700 - 850 ml/min Survival of two grafts is good to now (7 - 4 months) Without infective complications, thrombosis and steal syndrome occurred in two patients

*Khoa ngoại niệu-ghép thận BVND 115 **Khoa Ngoại niệu-ghép thận BVND 115

Tác giả liên lạc: BS Trương Hoàng Minh ĐT: 0903982107 Email: hoangminhbv115@yahoo.com

Trang 2

Conclusions: Arteriovenous graft in the thigh is a choice when arm vasculature is exhausted Graft with

ansa model (0.6 centimeter of diameter, 18-20 centimeter of length) between common femoral artery and vein are good results and little complications

Keywords: arteriovenous graft in the thigh, hemodialysis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chạy thận nhân tạo (CTNT) hiện nay vẫn

là mô thức điều trị thay thế thận để điều trị

bệnh thận mạn giai đoạn cuối được nhiều

bệnh nhân thực hiện nhất tại Việt Nam Để

chạy thận được hiệu quả cần có đường vào

mạch máu dễ sử dụng, đủ lưu lượng, ít biến

chứng Tốt nhất vẫn là đường vào mạch máu

thực hiện ở chi trên(1,3) Tuy nhiên, có những

trường hợp đã thất bại với tất cả các loại

đường vào mạch máu ở chi trên như: AVF

(arteriovenous fistular), AVG (arteriovenous

graft) Các bệnh nhân này cũng đã thất bại với

phương pháp thẩm phân phúc mạc hoặc có

chống chỉ định làm thẩm phân phúc mạc

Đường vào mạch máu ở chi dưới là lựa chọn

cho các trường hợp này Tại Việt Nam chưa có

báo cáo nào về vấn đề này Chúng tôi xin trình

bày kỹ thuật tạo cầu nối động tĩnh mạch ở đùi

để chạy thận nhân tạo với mục tiêu: Đánh giá

kết quả bước đầu, các tai biến – biến chứng đặt

cầu nối động tĩnh mạch bằng mạch máu nhân

tạo (graft) ở đùi để chạy thận nhân tạo chu kỳ

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

2 bệnh nhân có chỉ định chạy thận nhân

tạo chu kỳ nhưng đã thất bại với việc tạo cầu

nối động tĩnh mạch ở chi trên và đã thất bại

hoặc có chống chỉ định làm thẩm phân phúc

mạc (Hình 1)

Phương pháp

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả 2 ca lâm sàng

Phương tiện nghiên cứu

Hai bệnh nhân có chỉ định đặt cầu nối mạch

máu nhân tạo ở đùi được chuẩn bị như một cuộc

mổ thông thường Khám chi dưới không có dấu

hiệu nhiễm trùng Siêu âm Doppler mạch máu

chi dưới không ghi nhận thiếu máu chi dưới

Kỹ thuật mổ

Vô cảm: Bệnh nhân nằm ngửa, tê tại chỗ +

tiền mê (Hình 2)

Kỹ thuật đặt mạch máu nhân tạo: Đặt mạch máu nhân tạo dạng quai

Rạch da theo đường dọc dưới nếp lằn bẹn phải 2 cm, bộc lộ động mạch (ĐM) đùi phải rồi tĩnh mạch (TM) đùi phải Kiểm tra TM hiển nhỏ không tương thích với ĐM đùi Tạo đường hầm dưới da cho mạch máu nhân tạo nằm dạng quai

đủ dài (tối thiểu 15 cm) Đặt mạch máu nhân tạo bằng PTFE (polytetrafluoroethylene) đường kính 6 mm, dài 15 cm vào đường hầm Nối đầu mạch máu nhân tạo với TM đùi bằng chỉ Prolen 6/0 với 2 nửa mũi liên tục Tiếp theo nối đầu còn lại của mạch máu nhân tạo với ĐM đùi Đuổi khí

và bơm Heparine, mở kẹp mạch máu, mạch máu nhân tạo hoạt động Đặt dẫn lưu Penrosse ở vết

mổ, khâu vết mổ 2 lớp Băng vô trùng vết mổ Rút Penrosse ngày thứ 2 sau mổ, kháng sinh nhóm Cephalosporine thế hệ thứ 2 dùng 7 ngày sau mổ, giảm đau nhóm Paracetamol cho tới khi hết đau Cắt chỉ ngày thứ 8 sau mổ

Sử dụng Heparine bơm rửa tại chỗ liên tục trong mổ, sử dụng Lovenox 40 mg x 1 lọ/ngày sau mổ trong giai đoạn hậu phẫu cho tới khi lành vết thương thì sử dụng kháng đông trong CTNT Siêu âm đánh giá và sử dụng sau 1 tháng

Đánh giá kết quả

Sử dụng được mạch máu nhân tạo sau mổ thông qua: Lưu lượng của mạch máu nhân tạo, thời gian từ khi mổ đến khi sử dụng mạch máu nhân tạo, tuổi thọ của mạch máu nhân tạo Các tai biến-biến chứng của mạch máu nhân tạo: phù nề chi nơi đặt mạch máu nhân tạo, chảy máu, nhiễm trùng, thuyên tắc do huyết khối mạch máu nhân tạo

Trang 3

Hình 1 Tay trái và phải đã mổ AVF thất bại

Hình 2: Đặt mạch máu nhân tạo

KẾT QUẢ

Qua 2 trường hợp đặt mạch máu nhân tạo ở

đùi có kết quả như sau:

Đặc điểm

Bảng 1 Đặc điểm bệnh nhân

Đặc điểm BN số 1 BN số 2

Số lần mổ tạo cầu nối

Loại cầu nối: AVF, Graft 7 AVF, 1 Graft 9 AVF, 1 Graft

Thời gian sử dụng cầu

Thẩm phân phúc mạc 1 lần/thất bại do

viêm phúc mạc

Mổ cũ ở bụng, không có chỉ định TPPM

Bảng 2 Đặc điểm phẫu thuật đặt Graft

Đặc điểm BN số 1 BN số 2

Vị trí đặt Graft ở chi dưới Đùi phải Đùi phải

Vị trí nối với mạch máu ĐM đùi và TM

đùi

ĐM đùi và TM đùi

Bảng 3 Kết quả sử dụng graft

Thông số BN số 1 BN số 2

Lưu lượng graft/siêu âm 700 ml/phút 850 ml/phút

Tuổi thọ sử dụng Graft 7 tháng

(hiện còn)

4 tháng (hiện còn)

Trang 4

Tai biến-biến chứng

Trong và sau mổ: không

Trong quá trình sử dụng: Bệnh nhân số 1 bị

lộ Graft tại vị trí chọc kim, tiến hành khâu phủ

lại bằng vạt da kế cận Chưa ghi nhận biến

chứng nhiễm trùng, tắc hay thiếu máu chi nơi

đặt graft

BÀN LUẬN

Đường vào mạch máu ở chi trên là lựa chọn

đầu tiên bởi sự thuận tiện cho việc thực hiện

phẫu thuật, lưu lượng phù hợp để chạy thận

nhân tạo, ít biến chứng (đặc biệt là nhiễm trùng),

tiện lợi cho bệnh nhân(1) Tuy nhiên, trên thực tế

ở bệnh nhân nữ, béo, hệ mạch máu kém phát

triển, bệnh lý tiểu đường… là những thách thức

cho phẫu thuật viên Đường vào mạch máu để

CTNT ở chi dưới chỉ được thực hiện khi làm ở

chi trên thất bại(1) Ở chi dưới có thể thực hiện ở

cẳng chân hay ở đùi giữa động mạch và tĩnh

mạch tự thân hay nhân tạo Ở cẳng chân có thể

nối thông giữa động mạch chày sau với tĩnh

mạch hiển trong ở vị trí cổ chân, hay giữa động

mạch khoeo với tĩnh mạch hiển trong ở vị trí

khớp gối Tuy nhiên, việc chọc kim để CTNT tại

tĩnh mạch hiển trong ở cẳng chân đôi khi khó

khăn, nhiều nhánh bên làm giảm lưu lượng

nhánh chính, mặt khác nguy cơ nhiễm trùng là

cao ở(1) Thực hiện ở đùi được sử dụng nhiều

nhất, vị trí thực hiện có thể nối thông giữa động

mạch đùi nông với tĩnh mạch hiển trong ở trên

khớp gối, hoặc nối động mạch đùi chung với

tĩnh mạch hiển trong ở bẹn (tĩnh mạch sẽ tạo

quai)(3) Sử dụng đoạn mạch nhân tạo

(polytetrafluoroethylene: PTFE) nối giữa động

mạch đùi chung với tĩnh mạch đùi chung (đoạn

mạch nhân tạo sẽ tạo quai)(1,4)

Cả hai trường hợp chúng tôi thực hiện đều là

nam, tuổi (53 - 73) và đã CTNT nhiều năm, đều

mổ làm đường vào mạch máu ở cả 2 tay thất bại

(8 - 10 lần) trong đó có cả đặt mạch máu nhân

tạo ở cánh tay Tác giả Rafael Ponikvar và cộng

sự có 57% là nữ, tuổi trung bình 58,7 ± 14,5, thời

gian chạy thận trung bình 11,9 ± 7,3 năm, số lần

làm đường vào mạch máu trước đó là 4,4 ± 1,9 lần(5) Chúng tôi đều đặt mạch máu nhân tạo ở đùi phải, một đầu mạch máu nhân tạo nối với động mạch đùi chung và đầu kia nối với tĩnh mạch đùi chung Quai mạch máu nhân tạo có chiều dài đủ để lấy máu ra, tránh hội chứng tái tuần hoàn Lựa chọn này cũng tương đồng với tác giả Rafael Ponikvar(5), Song Ong(4), J Barbosa(1) Nếu tĩnh mạch hiển trong ở vùng đùi

có chất lượng tốt có thể sử dụng làm quai nối với động mạch đùi chung(3) Hai trường hợp của chúng tôi không sử dụng được tĩnh mạch hiển vì cũng xơ chai Tác giả Boennec M và cộng sự làm shunt kiểu Thomas, chủ yếu để CTNT tại nhà, bệnh nhân béo phì(2)

Kết quả hai trường hợp đặt mạch máu nhân tạo của chúng tôi với lưu lượng đủ để CTNT, không có trường hợp nào lưu lượng thiếu hay cao Đến hiện tại mạch máu nhân tạo vẫn hoạt động Với khẩu kính và chiều dài như trên phù hợp với khẩu kính của động mạch đùi chung và

đủ chiều dài để chọc kim tránh hội chứng tái tuần hoàn Có nhiều loại mạch máu nhân tạo để lựa chọn như: đầu to - đầu nhỏ, loại lò xo hay trơn sẽ thuận lợi và phù hợp với khẩu kính mạch máu Loại lò xo sẽ thuận lợi cho đặt kiểu quai, tránh bị gập góc dễ gây huyết khối Tuy nhiên tuổi thọ của mạch máu nhân tạo là thấp, 78% (sau 1 năm), 74% (sau 2 năm), 66% (sau 3 năm), 56% (sau 4 năm), 52%( sau 5 năm) và chỉ còn 13% (sau 9 năm)(5) Tỉ lệ mất chức năng mạch máu nhân tạo trong quá trình sử dụng là 5,7% và tắc sớm sau mổ là 2,8% và thường trong 30 ngày sau mổ(5) So sánh với đặt catheter đường hầm thì đặt mạch máu nhân tạo đùi vẫn là lựa chọn tối ưu hơn(4)

Các tai biến, biến chứng chiếm khoảng 43,2% trong đó biến chứng sớm gồm: Thuyên tắc sớm

ở cầu nối (2,4%) thường được mổ lấy huyết khối Nhiễm trùng vết mổ (không ở mạch máu nhân tạo) là 6% thường được điều trị tại chỗ ổn định Nhiễm trùng mạch máu nhân tạo (4,8%), thường phải lấy bỏ Các biến chứng muộn: Thuyên tắc trễ cầu nối (12%), thường do hẹp tĩnh mạch

Trang 5

đường về Phình giả (4,8%), thường được mổ tạo

hình sửa chữa lại Hội chứng cướp máu, gây

thiếu máu chi dưới (3,6%), nếu nghiêm trọng

phải đĩng cầu nối(1,5) Phù chi dưới bên mổ

(8,4%) thường do lưu lượng cầu nối lớn(1) trong

đĩ nhiễm trùng nơi chọc kim và huyết khối là

chủ yếu(2) Việc phịng ngừa như giữ vệ sinh

chung ngồi da, sát khuẩn tại chỗ kỹ khi thực

hiện chạy thận và sử dụng kháng sinh (anti –

staphylococcique) Lấy huyết khối bằng thơng

Fogarty và truyền urokinase bơm liên tục 35000

UI/giờ trong 6-8 giờ để điều trị tắc do huyết

khối(2) Theo Joã A Correa và cộng sự (lấy tĩnh

mạch hiển trong làm cầu nối với động mạch đùi)

ghi nhận tỉ lệ phình giả là 9,8% xuất hiện từ 4 –

30 tháng sau khi sử dụng(3) Tỉ lệ hẹp tĩnh mạch

5,9% với thời gian trung bình là 7 tháng, khơng

ghi nhận biến chứng thiếu máu chi dưới, nhiễm

trùng, suy tim mất bù(3) Chúng tơi thực hiện 2

trường hợp và thời gian chưa dài nên chưa ghi

nhận về các biến chứng trên

KẾT LUẬN

Đặt mạch máu nhân tạo ở đùi để CTNT chu

kỳ được chỉ định khi khơng thể làm cầu nối

mạch máu ở chi trên Với việc sử dụng mạch

máu nhân tạo bằng PTFE đường kính 0,6 cm, chiều dài 18-20 cm nối động mạch đùi chung với tĩnh mạch đùi chung dạng quai cho kết quả đủ lưu lượng để CTNT, chưa ghi nhận biến chứng Chúng tơi sẽ tiếp tục nghiên cứu với số liệu lớn hơn và thời gian theo dõi dài để đánh giá kỹ thuật này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Barbosa J (1996) “Accès vasculaires pour hémodialyse aux

membres inférieurs” Les voies d’abord vasculaiire en he1modialyse,

XIe Congrès Annuel –Lyon, pp.55-58

2 Boennec M, Francois P, Negre G, et al (1996) “Le shunt de

Thomas techniques – résultats éloignés” Les voies d’abord

vasculaiire en he1modialyse, XIe Congrès Annuel –Lyon, pp 59-63

3 Correa JA, de Abreu LC, Pires AC, et al (2010)

“Saphenofemoral arteriovenous fistula as hemodialysis access”

BMC Surg, doi:10.1186/1471-2482-10-28

4 Ong S, Barker – Finkel J and Allon M (2013) “Long – term outcomes of arteriovenous thigh grafts in hemodialysis patients:

A comparison with tunneled dialysis catheters” Clin J Am Soc

Nephrol; 8(5):804-809

5 Ponikvar R (2013) “Arteriovenous Grafts in the thigh: An excellent hemodialysis vascular access when arm vasculature is exhausted” 5 th Slovenian Congress of Nephlology, 17:416-418

Ngày nhận bài báo: 01/04/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 05/05/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/06/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 02:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w